1. Rút đơn tố cáo người gây tai nạn giao thông thì người đó có bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay không ?

Thưa luật sư, xin hỏi: Cha tôi bị tử vong do tai nạn giao thông. Hiện gia đình bên tôi đã đồng ý thỏa thuận về việc bồi thường và bãi nại. Tuy nhiên do vợ trước và con riêng của ba tôi không đồng ý bãi nại thì trong trường hợp này người gây ra tai nạn giao thông cho ba tôi . Tuy vậy , người vợ trước và 1 người con của vợ trước không đồng ý bãi nại . Vậy người gây tai nạn cho ba tôi sẽ bị xử lý như thế nào ?
Cảm ơn!

Rút đơn tố cáo người gây tai nạn giao thông thì người đó có  bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay không ?

Luật sư tư vấn pháp luật Giao thông miễn phí, gọi:  1900.6162

 

Luật sư trả lời:

Chào bạn, cám ơn bạn đã tin tưởng và gửi yêu cầu tư vấn đến công ty luật Minh Khuê , câu hỏi của bạn  đã được chúng tôi nghiên cứu và trả lời như sau :

Căn cứ vào điều 260  Bộ luật hình sự 2015 quy định về tội vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ :

1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Làm chết 01 người hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

Theo quy định tại điều 155  Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 :

1. Chỉ được khởi tố vụ án hình sự về tội phạm quy định tạ khoản 1 các điều 134.135, 136,138,139,141,143,155,156 và 226 của Bộ luật hình sự   khi có yêu cầu của bị hại hoặc người đại diện của bị hại là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc đã chết.

2. Trường hợp người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu thì vụ án phải được đình chỉ, trừ trường hợp có căn cứ xác định người đã yêu cầu rút yêu cầu khởi tố trái với ý muốn của họ do bị ép buộc, cưỡng bức thì tuy người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án vẫn tiếp tục tiến hành tố tụng đối với vụ án.

3. Bị hại hoặc người đại diện của bị hại đã rút yêu cầu khởi tố thì không có quyền yêu cầu lại, trừ trường hợp rút yêu cầu do bị ép buộc, cưỡng bức.

Vậy trong trường hợp này , có thể thấy , tội  vi phạm về an toàn giao thông đường bộ gây hậu quả nghiêm trọng theo điều 260 BLHS hiện hành không phải là tội nằm trong danh mục những tội khởi tố theo yêu cầu của người bị hại hay thân nhân của người bị hại , do vậy việc rút đơn  naỳ chỉ làm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của người phạm tội chứ không phải là căn cứ để miễn trách nhiệm hình sự . Do vậy , nếu cả gia đình thống nhất rút đơn nhưng người vợ cũ và 1 người con không rút thì người gây tai nạn vẫn bị truy cứu theo quy định của pháp luật.

Mặt khác , ngươì vợ trước do đã ly hôn với ba bạn rồi nên ý kiến của người này sẽ không được xem xét , pháp luật chỉ xem xét đến ý kiến của cha , mẹ ruột, vợ và các con của người đã khuất . 

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi số: 1900.6162 để được giải đáp. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem ngay:  Tư vấn giải quyết tai nạn giao thông do va quyệt xe máy ?

2. Tư vấn tai nạn giao thông khi xe tải đang đậu ? 

Tình huống: bên đường có 1 xe tải đang đậu; phía ngoài có 2 xe container; có xe honda a chạy tránh xe tải trong lề; phía sau có một xe tải chạy tới vượt phải xe container do tránh không kịp nên đã gây tai nạn cho xe honda nêu trên. Mong luật minh khuê hỗ trợ là trường hợp này xe nào có lỗi và hình thức xử lý cho từng xe. (đường có 3 làn).
- Trần Bá Đạt

3. Tư vấn pháp luật về tai nạn giao thông, xử phạt giao thông ?

Anh trai em chạy xe ngược chiều để băng qua đường phân cách (chổ quay đầu xe). Để qua bên kia đường, sắp tới ngả rẽ bất ngờ có chiếc xe gắn máy khác chạy đến vận tốc rất cao,người đó co uống rượu đâm trực diện vào xe anh trai. Cả 2 bị thương nhập viện. Người đó chết. Như vậy anh trai em co bị xử phạt không ?
- Huỳnh Thị Thúy Hằng

4. Tư vấn về quy định bồi thường tai nạn giao thông gây chết người ?

Kính thưa ban luật sư - Công ty Luật Minh Khuê, Em có đọc thông tin tư vấn pháp luật qua mail của công ty Luật Minh Khuê và có vài thắc mắc cần được tư vấn. Ngày 10/4/2016, có một xe đông lạnh và một xe ô tô tham gia giao thông và xảy ra va chạm. 

Vì né xe ô tô, xe đông lạnh đã rẽ tay lái và đâm vào quán sửa xe trong lề đường làm 01 phụ nữ 46 tuổi ngồi trước quán thiệt mạng tại chỗ. Trong lúc mai táng, bên phía chủ nhà xe có tới và đưa 20 triệu để gia đình lo hậu sự (tài xế là người làm công) Nạn nhân có 3 con nhỏ, trong đó có 1 em chưa đủ 18 tuổi, chồng đã mất. Sau tai nạn, các em thành trẻ mồ côi. Cho em hỏi trong trường hợp này, gia đình nạn nhân cần làm các thủ tục gì để được bồi thường thỏa đáng? Bên nào chịu trách nhiệm (chủ xe hay tái xế)? Mức bồi thường?

Rất mong nhận được sự phản hồi từ phía các luật sư để giúp đỡ gia đình nạn nhân.

Trân trọng cảm ơn.

Tư vấn về quy định bồi thường tai nạn giao thông gây chết người ?

Luật sư tư vấn pháp luật dân sự trực tuyến (24/7) gọi số: 1900.6162

 

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Tại Khoản 1, Điều 202 Bộ luật hình sự 1999  sửa đổi bổ sung 2009 quy định:

“Người nào điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến năm năm”.

Theo quy định của pháp luật dân sự về bồi thường thiệt hại, nếu chủ sở hữu ô tô giao cho người khác chiếm hữu, sử dụng, thì người này phải bồi thường, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Việc xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại này không phụ thuộc vào việc chủ xe có mặt trên chuyến xe đó hay không mà dựa vào việc ai là người đang chiếm hữu, sử dụng chiếc xe đó. Nếu người gây tai nạn là người được thuê lái xe và được trả tiền công thì lái xe này không phải là người chiếm hữu, sử dụng chiếc xe, mà chủ xe mới là người chiếm hữu, sử dụng, do vậy chủ xe phải là người bồi thường thiệt hại cho người bị tai nạn. Còn trong trường hợp người lái xe không được chủ sở hữu giao cho chiếm hữu, sử dụng chiếc xe mà tự ý lấy đi  ( chủ sở hữu không biết) thì người lái xe phải chịu trách nhiệm. Và trong trường hợp nếu như người lái xe tự ý lấy chiếc xe và chủ sở hữu cũng có lỗi trong việc để chiếc xe cho người lái xe gây tai nạn thì sẽ phải chịu trách nhiệm liên đới ( tức là cả chủ sở hữu và người lái xe đều có trách nhiệm bồi thường ). Việc xác định trách nhiệm bồi thường sẽ căn cứ vào lỗi của các bên.
Người có lỗi trong việc điều khiển xe ô tô sai quy định có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại điều 202 BLHS về vi phạm quy định giao thông đường bộ.
Bên cạnh đó, người vi phạm sẽ phải bồi thường thiệt hại theo quy định của Bộ luật dân sự 2005 như sau:
 
Theo quy định tại điều 604 BLDS 2005:

"1. Người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường".
 
Đối với thiệt hại về sức khoẻ, mức bồi thường được quy định tại Điều 609 BLDS 2005 như sau:

Điều 609. Thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm

1. Thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm bao gồm:

a) Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khoẻ và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại;

b) Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại; nếu thu nhập thực tế của người bị thiệt hại không ổn định và không thể xác định được thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại;

c) Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị; nếu người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần có người thường xuyên chăm sóc thì thiệt hại bao gồm cả chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại.

2. Người xâm phạm sức khoẻ của người khác phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì mức tối đa không quá ba mươi tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định.
 
Về nguyên tắc bồi thường thiệt hại:
 

“1. Thiệt hại phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời. Các bên có thể thoả thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc, phương thức bồi thường một lần hoặc nhiều lần, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

2. Người gây thiệt hại có thể được giảm mức bồi thường, nếu do lỗi vô ý mà gây thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế trước mắt và lâu dài của mình.

3. Khi mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế thì người bị thiệt hại hoặc người gây thiệt hại có quyền yêu cầu Toà án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác thay đổi mức bồi thường.” (ĐIều 605 BLDS 2005)
 
Còn đối với việc gây tai nạn chết người thì bên có lỗi phải bồi thường chi phí như sau:
 
Điều 610 Bộ luật Dân sự 2005 thì người có lỗi gây tai nạn chết người có nghĩa vụ bồi thường các khoản như:

+ Chia phí hợp lý cho việc mai táng;

+ Tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng (nạn nhân đang nuôi cha già 69 tuổi);

+ Một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần cho những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người bị thiệt hại.
Mức bồi thường các bên có thể thỏa thuận, trường hợp không thỏa thuận được thì mức tối đa không quá sáu mươi tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định.
Trên cơ sở quy định của pháp luật, hi vọng các bên thoả thuận được mức bồi thường và phương thức bồi thường thoả đáng. Nếu bên gây thiệt hại không đáp ứng yêu cầu đòi bồi thường, gia đình có thể gửi đơn khởi kiện đến TAND nơi bị đơn thường trú để Toà giải quyết.
Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

5. Tai nạn giao thông gây thiệt hại tài sản phạm tội gì ?

Thưa Luật sư: ! Hiện tôi có một người thân gây tai nạn giao thông đường bộ cách đây khoảng 1 tháng và đang đợi ngày ra tòa giải quyết. Sự việc cụ thể như sau: Anh lái xe khách 45 chỗ, không uống rượu bia nhưng do thắng gấp đã va chạm vào xe khách 7 chỗ chạy phía trước và làm xe 7 chỗ va chạm vào xe 4 chỗ phía trước đó nữa. 

Vụ việc không gây thiệt hại tính mạng hay sức khỏe của bất kỳ ai, chỉ gây thiệt hại về tài sản là 2 xe bị đụng. Theo như giám định giá chính thức của công an và tổ giám định thì hư hại cả 2 xe là 290 triệu đồng. Công ty bảo hiểm sẽ chịu bồi thường 70 triệu, còn lại 220 triệu đồng. Do các bên thương lượng không thỏa đáng với nhau nên quyết định ra tòa. Cho tôi hỏi : Nếu ra tòa, anh chạy xe 45 chỗ sẽ vi phạm điều luật gi ? Sẽ bị xử lý thế nào ? Nếu bồi thường thì khoảng bao nhiêu và có bị phạt tù hay không? Rất mong nhận được sự tư vấn của luật sư.

Tôi xin chân thành cảm ơn.!

Tai nạn giao thông gây thiệt hại tài sản phạm tội gì ?

Luật sư tư vấn luật hình sự về tai nạn giao thông trực tuyến, gọi: 1900.6162

 

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

 

1. Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ?

Bộ luật Hình sự năm 1999 (Bộ luật Hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2009):

Điều 202. Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ 
1. Người nào điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm:
a) Không có giấy phép hoặc bằng lái xe theo quy định; 
b) Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định hoặc có sử dụng các chất kích thích mạnh khác mà pháp luật cấm sử dụng;
c) Gây tai nạn rồi bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn; 
d) Không chấp hành hiệu lệnh của người đang làm nhiệm vụ điều khiển hoặc hướng dẫn giao thông;
đ) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.
3. Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm.
4. Vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ mà có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả đặc biệt nghiêm trọng nếu không được ngăn chặn kịp thời, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.
5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Theo thông tin bạn cung cấp, và theo quy định của pháp luật, thì bạn có thể phạm tội: tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ. Trong trường hợp đó, thì bạn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặt phạt tù từ sáu tháng đến năm năm hoặc có thể bị phạt tù từ ba năm đến mười năm; từ bảy năm đến mười lăm năm....

 

2. Bồi thường thiệt hại

Theo  quy định tại Bộ luật Dân sự năm 2005  Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2004 (Bộ luật Tố tụng Dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2011)thì

Điều 623. Bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra

1. Nguồn nguy hiểm cao độ bao gồm phương tiện giao thông vận tải cơ giới, hệ thống tải điện, nhà máy công nghiệp đang hoạt động, vũ khí, chất nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ, thú dữ và các nguồn nguy hiểm cao độ khác do pháp luật quy định.

Chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ phải tuân thủ các quy định bảo quản, trông giữ, vận chuyển, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ theo đúng các quy định của pháp luật.

2. Chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra; nếu chủ sở hữu đã giao cho người khác chiếm hữu, sử dụng thì những người này phải bồi thường, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

3. Chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại cả khi không có lỗi, trừ các trường hợp sau đây:

a) Thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi cố ý của người bị thiệt hại;

b) Thiệt hại xảy ra trong trường hợp bất khả kháng hoặc tình thế cấp thiết, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

4. Trong trường hợp nguồn nguy hiểm cao độ bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật thì người đang chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ trái pháp luật phải bồi thường thiệt hại.

Khi chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ cũng có lỗi trong việc để nguồn nguy hiểm cao độ bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật thì phải liên đới bồi thường thiệt hại."

Như vậy, đặt ra vấn đề trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với bạn.  Do hai bạn không thỏa thuận được vấn đề bồi thường, do đó bên kia đã khởi kiện. Xác định mức bồi thương phải theo quy định của Pháp luật, dựa trên các chứng cứ mà các bên cung cấp để xác định được thiệt hại thực tế đã xảy ra.

>> Xem ngay:  Bị tai nạn giao thông phải cưa mất một chân được bồi thường như thế nào ?

6. Trách nhiệm dân sự, hình sự khi gây tai nạn giao thông đường bộ ?

Xin chào luật sư,  Bạn tôi trên đường đi làm về đi đúng phần đường của mình. Trong quá trình tham gia giao thông có xin đường một phương tiện đi trước và được phép vượt thì trong lúc đó có 1 chiếc xe ngược chiều người điều khiển có rượu trong người và hai xe tông vào nhau hai bên điều bị thương nặng sau đó ông kia tử vong. Vậy cho hỏi bạn tôi phải chịu trách nhiệm gì có bồi thường không, bồi thường là bao nhiêu? có ở tù không?
Mong luật sư  giúp đỡ gia đinh tôi thành thật cảm ơn.

 >> Luật sư tư vấn pháp luật dân sự trực tuyến (24/7) gọi số1900.6162

 

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Trường hợp cơ quan công an xác định nguyên nhân gây tai nạn là do lỗi của cả hai bên thì việc bồi thường thiệt hại được giải quyết theo quy định tại Điều 617 Bộ luật dân sự 2005

“Khi người bị thiệt hại cũng có lỗi trong việc gây thiệt hại thì người gây thiệt hại chỉ phải bồi thường phần thiệt hại tương ứng với mức độ lỗi của mình. Nếu thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi của người bị thiệt hại thì người gây thiệt hại không phải bồi thường”.

Theo Điều 604 BLDS 2005:

"Điều 604. Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại

1. Người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường.

2. Trong trường hợp pháp luật quy định người gây thiệt hại phải bồi thường cả trong trường hợp không có lỗi thì áp dụng quy định đó."

Về nguyên tắc bồi thường thiệt hại trong trường hợp này áp dụng theo Điều 605 BLDS:

"Điều 605. Nguyên tắc bồi thường thiệt hại

1. Thiệt hại phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời. Các bên có thể thoả thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc, phương thức bồi thường một lần hoặc nhiều lần, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

2. Người gây thiệt hại có thể được giảm mức bồi thường, nếu do lỗi vô ý mà gây thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế trước mắt và lâu dài của mình.

3. Khi mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế thì người bị thiệt hại hoặc người gây thiệt hại có quyền yêu cầu Toà án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác thay đổi mức bồi thường."

Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tính mạng bị xâm hại

Tại Điều 610 BLDS quy định:

“1. Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm bao gồm:

a) Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, chăm sóc người bị thiệt hại trước khi chết;

b) Chi phí hợp lý cho việc mai táng;

c) Tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng.

2. Người xâm phạm tính mạng của người khác phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần cho những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người bị thiệt hại, nếu không có những người này thì người mà người bị thiệt hại đã trực tiếp nuôi dưỡng, người đã trực tiếp nuôi dưỡng người bị thiệt hại được hưởng khoản tiền này. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì mức tối đa không quá sáu mươi tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định.”


Trường hợp của bạn của bạn cần phải xác định rõ lại vấn đề lỗi để giải quyết theo quy định. Do đó, cần phải chờ kết quả của việc điều tra để giải quyết.

Mặt khác, trường hợp cơ quan công an xác định vì vi phạm quy định giao thông đường bộ mà bạn của bạn gây ra tai nạn thì bạn của bạn còn có thể sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 202  Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi bổ sung 2009:

“Điều 202. Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ

“1. Người nào điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm:



B) Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định hoặc có sử dụng các chất kích thích mạnh khác mà pháp luật cấm sử dụng;



Đ) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

3. Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm.

…”

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật giao thông - Công ty luật Minh Khuê