Khẩu của chị bích vẫn ở trong sổ hộ khẩu của nhà chồng thứ nhất, nhưng ngày 6/11/2017 UBND xã Lục Dạ đã có giấy xác nhận tình trạng hôn nhân cho chị B về đăng ký kết hôn với anh H ở xã Môn Sơn - Con Cuông. Như vậy đúng hay sai.

Người gửi : L.T.T.D

Luật sư trả lời:

Chào bạn. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

Luật cư trú năm 2006

Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 

2. Nội dung tư vấn :

Theo quy định tại khoản 1 điều 9 Luật cư trú năm 2006

Điều 9. Quyền của công dân về cư trú

1. Lựa chọn, quyết định nơi thường trú, tạm trú của mình phù hợp với quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

Trường hợp chị B ở đây không có đăng ký kết hôn với chồng thứ nhất, trên giấy tờ pháp lý, hai người không phải vợ chồng, chị B ở đây chỉ là chuyển khẩu theo hình thức tự nguyện, trên thực tế, chị B vẫn là người độc thân, chị B chỉ là chuyển hộ khẩu thường trú, chung sống như vợ chồng chứ không có giấy đăng ký kết hôn. 

>> Xem thêm:  Con đòi về sống chung với bạn trai khi chưa đủ tuổi, Cha mẹ cần xử trí thế nào ?

Theo quy định tại Khoản 1, Điều 9, Luật Hôn nhân và gia đình về Đăng kí kết hôn:

Việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo quy định của Luật này và pháp luật về hộ tịch.

Việc kết hôn không được đăng ký theo quy định tại khoản này thì không có giá trị pháp lý.

 

Cho nên, khi chị B kết hôn với anh H sau này là hoàn toàn hợp pháp, đăng ký kết hôn hợp pháp. 

và UBND xã xác nhận tình trạng hôn nhân của chị B với anh H như vậy là hoàn toàn hợp lý.

Chị B và anh chồng thứ nhất, chỉ có mối quan hệ liên quan đến con cái và có nghĩa vụ với đứa con 6 tuổi thôi.

Quy định về Giải quyết hậu quả của việc nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn:

Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Quyền, nghĩa vụ đối với con, tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên được giải quyết  Điều 15 và Điều 16 của Luật này.

Điều 15: Quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con trong trường hợp nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn

Quyền, nghĩa vụ giữa nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng và con được giải quyết theo quy định của Luật này về quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con.

Điều 21. Thủ tục đăng ký thường trú

1. Người đăng ký thường trú nộp hồ sơ đăng ký thường trú tại cơ quan công an sau đây:

a) Đối với thành phố trực thuộc trung ương thì nộp hồ sơ tại Công an huyện, quận, thị xã;

>> Xem thêm:  Thủ tục cấp lại giấy kết hôn khi bị mất thì làm lại như thế nào ?

 b) Đối với tỉnh thì nộp hồ sơ tại Công an xã, thị trấn thuộc huyện, Công an thị xã, thành phố thuộc tỉnh.

2. Hồ sơ đăng ký thường trú bao gồm:

a) Phiếu báo thay đổi hộ khẩu, nhân khẩu; bản khai nhân khẩu;

b) Giấy chuyển hộ khẩu theo quy định tại Điều 28 của Luật này;

c) Giấy tờ và tài liệu chứng minh chỗ ở hợp pháp. Đối với trường hợp chuyển đến thành phố trực thuộc trung ương phải có thêm tài liệu chứng minh thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 20 của Luật này.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Hôn nhân - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Mẫu giấy chứng nhận kết hôn