Kính chào Luật Minh Khuê, Tôi có một vấn đề thắc mắc mong Luật sư giải đáp. Sự việc cụ thể như sau :

Con gái tôi 14 tuổi tự nguyện quan hệ tình dục với một cậu con trai 15 tuổi rất nhiều lần . Gia đình phát hiện và muốn kiện cậu con trai kia để cậu ấy đi tù có được không ?

- Mong sớm nhận được phản hồi từ quý công ty,tôi xin chân thành cảm ơn.

Trả lời : Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi tới chuyên mục hỏi đáp của công ty chúng tôi.Câu hỏi của bạn được giải đáp như sau :

1 Hành vi quan hệ tình dục là gì ?

Quan hệ tình dục , còn gọi là giao hợp hay giao cấu chỉ hành vi đưa bộ phận sinh dục nam/đực vào bên trong bộ phận sinh dục nữ/cái để tạo khoái cảm tình dục, hoặc với mục đích sinh sản, hoặc cả hai. Hành vi này cũng thường được gọi là tình dục qua đường âm đạo . Các hình thức khác của quan hệ tình dục xâm nhập bao gồm quan hệ tình dục qua đường hậu môn ( dương vật xâm nhập hậu môn) , tình dục bằng miệng ( dương vật xâm nhập vào miệng hoặc miệng xâm nhập vào cơ quan sinh dục nữ ) , ngón tay ( xâm nhập tình dục bằng ngón tay ) và xâm nhập sử dụng một dương vật giả ( đặc biệt là dương vật giả với một dây leo )

2 Tội giao cấu với người từ 13t đến dưới 16t

Quy định tại Điều 145 BLHS 2015

  • Người nào đủ 18 tuổi trở lên mà giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 142 và Điều 144 của Bộ luật này, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm. Trường hợp tại điều 142 là hiếp dâm với người từ 13 đến dưới 16 tuổi còn trường hợp tại điều 144 là cưỡng dâm với người từ 13 đến dưới 16 tuổi. Như vậy cấu thành của tội này dùng hành vi để xác định một người có phạm tội hay không chứ không xem xét về các yêu tố khác như hậu quả hay mục đích.
  • Khoản 2 điều 145 quy định về cấu thành tăng nặng với các trường hợp tăng nặng trách nhiệm hình sự cụ thể, mà nếu rơi vào các trường hợp này người phạm tội có thể bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm.

a) Phạm tội 02 lần trở lên;

b) Đối với 02 người trở lên;

c) Có tính chất loạn luân;

d) Làm nạn nhân có thai;

đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;

e) Đối với người mà người phạm tội có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh.

– Khoản 3 điều 145 quy định về khoản tăng nặng hơn với 2 trường hợp được liệt kê, khung hình phạt cho người thực hiện hành vi gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên hoặc biết mình bị nhiễm HIV mà vẫn phạm tội là tù từ 07 năm đến 15 năm.

Về phía người thực hiện tội phạm

a.Chủ thể thực hiện tội phạm

Người phạm tội phải là người đã thành niên, tức là người đã đủ 18 tuổi trở lên. Chủ thể của tội phạm này có thể là nữ giới, nhưng đa số là nam giới.

Việc giao cấu thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi là hoàn toàn có sự đồng tình của hai người không bên nào ép buộc bên nào. Sự thoả thuận này có trường hợp là mối tình yêu đương giữa hai người, nhất là ở những vùng có trình độ dân trí thấp và vẫn còn duy trì tục lệ tảo hôn.

Việc trừng trị hành vi giao cấu thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi bằng luật hình sự của Nhà nước ta cũng chủ yếu nhằm bảo vệ sự phát triển bình thường về mặt tình dục đối với người chưa đủ 16 tuổi.

b.Hành vi phạm tội

Ở đây có hai hành vi cơ bản để người thực hiện tội phạm thực hiện là hành vi giao cấu và hành vi quan hệ tình dục khác, các hành vi quan hệ tình dục khác mặc dù chưa được TANDTC hướng dẫn một cách cụ thể nhưng có thể được hiểu là hành vi quan hệ tình dục bằng miệng hoặc là quan hệ tình dục đồng giới thông qua việc sử dụng bộ phận sinh dục nam và hậu môn của một người nam giới khác hoặc các trong quan hệ đồng giới giữa nữ giới với nhau. Đây là các hành vi quan hệ tình dục khác đã được thừa nhận trong thực tiễn đời sống xã hội và trong quá trình đấu tranh phòng chống tội phạm tình dục cũng bắt gặp nhưng chưa thể xử lý bởi thiếu quy định.

Như vậy, để thực hiện được mục đích giao cấu hoặc thực hiện các hành vi quan hệ tình dục khác theo muốn nạn nhân trong tội này, người thực hiện tội phạm có thể đạt được mục đích thông qua nhiều trường hợp, nhiều hoàn cảnh khác nhau, nhưng chung nhất là không có việc sử dụng vũ lực, đe dọa sử dụng vũ lực, lợi dụng tình trạng không chống cự được của nạn nhân, các thủ đoạn khác hoặc lợi dụng sự lệ thuộc của nạn nhân như ở các tội hiếp dâm, cưỡng dâm. Hành vi của tội này phải được thực hiện một cách đồng thuận, mà nhiều trường hợp chính người thực hiện hành vi còn không ý thức được mình đang thực hiện một hành vi phạm tội.

c.Hậu quả và mối quan hệ nhân quả

Hành vi phạm tội trên về nguyên tắc đã xâm phạm tình dục cũng như sự phát triển của người từ 13 đến dưới 16 tuổi. Tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi là tội cấu thành hình thức, tức là chỉ cần người phạm tội thực hiện hành vi giao cấu hoặc thực hiện hành vi tình dục khác với nạn nhân là người từ 13 đến dưới 16 tuổi thì đã cấu thành tội phạm này. Bản thân chúng tôi nghĩ rằng, việc thực hiện xong hành vi giao cấu hoặc hành vi quan hệ tình dục khác trong tội phạm nêu trên người từ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi không nên được xem là căn cứ để xác định chủ thể thực hiện tội phạm đã phạm tội. Tức là trong ý chỉ của chủ thể thực hiện hành vi đã thể hiện mong muốn giao cấu hoặc thực hiện các hành vi quan hệ tình dục khác với nạn nhân. Mục đích cuối cùng là thỏa mãn nhu cầu tình dục dù có thuận theo ý muốn đối với nạn nhân nhưng không phù hợp với lứa tuổi và sự non nớt về nhận thức của nạn nhân nên cần phải bị xử lý hình sự.

Về phía nạn nhân

Người bị hại trong vụ án giao cấu với người dưới 16 tuổi là người có độ tuổi từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, có thể là nam giới nhưng chủ yếu là nữ giới.

Việc để người phạm tội giao cấu là hoàn toàn có sự tự nguyên, không hề có sự cưỡng bức hay ép buộc nào. Mặc dù họ tự nguyện và có nhiều trường hợp họ yêu cầu không xử lý đối với người phạm tội, nhưng yêu cầu này của họ không được chấp nhận vì họ là đối tượng mà Nhà nước buộc phải bảo vệ.

Chỉ coi là tội giao cấu với trẻ em khi người phạm tội và người bị hại đã thực hiện việc giao cấu, nếu chỉ có những hành vi có tính chất dâm ô mà chưa thực hiện việc giao cấu thì không cấu thành tội giao cấu với trẻ em mà tuỳ trường hợp có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội dâm ô trẻ em quy định tại Điều 116 Bộ luật hình sự.

>> Luật sư tư vấn pháp luật Hình sự, gọi: 1900.6162

3 Trách nhiệm hình sự khi giao cấu với trẻ em

Theo quy định của Bộ Luật Hình sự 2015 về việc truy cứu trách nhiệm hình sự với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội:

"Người từ đủ 14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội giết người, tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, tội hiếp dâm, tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi, tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 1 tuổi, tội cướp tài sản, tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, về tội phạm rât nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng trong quy định của một trong các ddieuf sau

a) Điều 143 (tội cưỡng dâm); Điều 150 (tội mua bán người); Điều 151 (tội mua bán người dưới 16 tuổi);

b) Điều 170 (tội cưỡng đoạt tài sản); Điều 171 (tội cướp giật tài sản); Điều 173 (tội trộm cắp tài sản); Điều 178 (tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản);

c) Điều 248 (tội sản xuất trái phép chất ma túy); Điều 249 (tội tàng trữ trái phép chất ma túy); Điều 250 (tội vận chuyển trái phép chất ma túy); Điều 251 (tội mua bán trái phép chất ma túy); Điều 252 (tội chiếm đoạt chất ma túy);

d) Điều 265 (tội tổ chức đua xe trái phép); Điều 266 (tội đua xe trái phép);

đ) Điều 285 (tội sản xuất, mua bán, trao đổi hoặc tặng cho công cụ, thiết bị, phần mềm để sử dụng vào mục đích trái pháp luật); Điều 286 (tội phát tán chương trình tin học gây hại cho hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử); Điều 287 (tội cản trở hoặc gây rối loạn hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử); Điều 289 (tội xâm nhập trái phép vào mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử của người khác); Điều 290 (tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản);

e) Điều 299 (tội khủng bố); Điều 303 (tội phá hủy công trình, cơ sở, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia); Điều 304 (tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự)."

Theo quy định trên để xét xem người 15 tuổi có bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay không ta đi phân tích từng quy định của các điều trên

1. Tội hiếp dâm ( Điều 141 Bộ Luật Hình sự 2015)

"Hành vi cấu thành tội: Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân bằng thủ đoạn khác giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác trái ý muốn của cá nhân, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm"

Trường hợp ngày hai bên tự nguyện nên không đủ điều kiện kết tội người đó

2. Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi ( Điểm a Khoản 1 Điều 142 Bộ Luật Hình sự 2015)

"1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi trái với ý muốn của họ;"

Tương tự như trên người này không bị truy cứu trách nhiệm pháp lý trong trường hợp này.

3. Tội cưỡng dâm ( Điều 143 Bộ Luật Hình sự năm 2015)

1. Người nào dùng mọi thủ đoạn khiến người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi đang ở trong tình trạng lệ thuộc mình hoặc trong tình trạng quẫn bách phải miễn cưỡng giao cấu hoặc miễn cưỡng thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm

a) Có tính chất loạn luân;

b) Làm nạn nhân có thai;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;

d) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân từ 11% đến 45%;

đ) Phạm tội 02 lần trở lên;

e) Đối với 02 người trở lên;

g) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân

a) Nhiều người cưỡng dâm một người;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

c) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân 46% trở lên;

d) Biết mình bị nhiễm HIV mà vẫn phạm tội;

đ) Làm nạn nhân chết hoặc tự sát.

4. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Trường hợp này vẫn là tự nguyện nên không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Ngoài ra, bạn có thể tìm hiểu quy địn tại điều 145 Bộ luật hình sự 2015 nhưng chủ thể lại không đủ tuổi của tội này.

Tóm lại, trường hợp người 15 tuổi nam và 14 tuổi nữ giao cấu tự nguyện sẽ không bị truy cứu TNHH. Những người trong độ tuổi này nhận thức còn chưa đầy đủ về hành vi nne cần được gia đình và nhà trường quan tâm, giáo dục.

5. Thời hạn truy tố việc QH với người dưới 16t ?

Bộ luật hình sự năm 2015:

Điều 145. Tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi

1. Người nào đủ 18 tuổi trở lên mà giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 142 và Điều 144 của Bộ luật này, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:

a) Phạm tội 02 lần trở lên;

b) Đối với 02 người trở lên;

c) Có tính chất loạn luân;

d) Làm nạn nhân có thai;

đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;

e) Đối với người mà người phạm tội có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh...

2. Nếu trường hợp bạn cũng chưa đủ 18 tuổi: khi rơi vào khả năng này thì bạn sẽ không bị khởi tố về tội giao cấu với trẻ em, bởi như trích dẫn ở trên thì chỉ những người nào đã đủ 18 tuổi trở lên mới bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội này.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi, nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi ngay số: 1900.6162 để được giải đáp.

>> Xem thêm:  Phân tích cơ sở pháp lý phán quyết của tòa án ?