1. Khái niệm hạn chế tín dụng

Hạn chế tín dụng là giới hạn loại khách hàng không được cho vay hoặc không được cho vay với điều kiện ưu đãi và giới hạn mức cho vay tối đa đối với các loại khách hàng.

Hạn chế tín dụng là Giới hạn loại khách hàng không được cho vay hoặc không được cho vay với điều kiện ưu đãi và giới hạn mức cho vay tối đa đối với các loại khách hàng. Hạn chế tín dụng là biện pháp phòng ngừa rủi ro trong hoạt động tín dụng mà tổ chức tín dụng có nghĩa vụ phải thực hiện.

Khoản 16 Điều 4 Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 quy định:

“Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.”

Hạn chế tín dụng là biện pháp phòng ngừa rủi ro trong hoạt động tín dụng mà tổ chức tín dụng có nghĩa vụ phải thực hiện. Phạm vi hạn chế được Nhà nước quy định tùy thuộc vào điều kiện lịch sử cụ thể như: độ an toàn trong kinh doanh của hệ thống các tổ chức tín dụng, mức độ ổn định của nền tài chính quốc gia; khả năng kiểm soát hoạt động kinh doanh của các tổ chức tín dụng... Do đó, ở các nước, phạm vi hạn chế tín dụng có sự khác nhau và ở từng nước trong từng thời kì cũng khác nhau.

2. Phân loại hạn chế tín dụng

Ở Việt Nam, đối với hạn mức tín dụng, thường có hai loại:

1) Hạn mức tín dụng cuối kì là số dư nợ cho vay kế hoạch tối đa vào ngày cuối kì mà số dự nợ cho vay thực tế cuối kì không được vượt quá;

2) Hạn mức tín dụng trong kì là hạn mức bổ sung cho hạn mức cuối kì trong trường hợp do hoạt động kinh doanh của đơn vị vay vốn không đều đặn có nhu cầu vay vốn hạn mức tín dụng cuối kì, nên số bổ sung này phải được hoàn trả trong kì, để bảo đảm số dư thực tế cuối kì phù hợp với hạn mức tín dụng cuối kì quy định.

3. Các hình thức hạn chế tín dụng

Hạn chế tín dụng bao gồm hai hình thức:

Ngân hàng từ chối cấp bất kì một khoản tín dụng nào, cho dù khách hàng sẵn sàng chấp nhận mức lãi suất cao hơn

Với hình thức này có thể khiến nhiều người ngạc nhiên, bởi họ cho rằng, cho dù người vay có rủi ro tín dụng, nhưng tại sao ngân hàng lại không cấp tín dụng trong khi lãi suất rất cao? Câu trả lời là do sự lựa chọn đối nghịch đã ngăn cản việc ngân hàng cấp tín dụng.

Các cá nhân và các công ty với những dự án đầu tư mạo hiểm là những người sẵn sàng chịu mức lãi suất cao nhất. Nếu họ chấp nhận rủi ro và thành công, thì trở thành những người giàu có. Nhưng ngân hàng thì chẳng bao giờ cấp tín dụng cho các dự án như vậy, bởi chúng rủi ro!

Hậu quả có thể phát sinh đó là, người vay sẽ không thành công và ngân hàng sẽ không được hoàn trả. Thu mức lãi suất cao, nghĩa là ngân hàng đã chấp nhận sự lựa chọn đối nghịch lớn, làm tăng khả năng ngân hàng cấp tín dụng cho những dự án mạo hiểm rủi ro cao.

Do đó, ngân hàng sẽ không cấp bất kì một khoản tín dụng nào với mức lãi suất cao hơn bình thường; thay vào đó, ngân hàng sẽ từ chối cấp tín dụng.

Ngân hàng chấp nhận cho vay nhưng hạn chế số lượng được vay so với yêu cầu của khách hàng

Ngân hàng hạn chế cho vay là nhằm cảnh giác với rủi ro đạo đức. Sự hạn chế này là cần thiết, bởi vì khoản vay càng lớn, thì càng kích thích rủi ro đạo đức phát sinh.

Ví dụ, nếu ngân hàng cấp một khoản tín dụng 100 triệu đồng, thì người vay sẽ nỗ lực trả nợ đầy đủ và đúng hạn, bởi vì người vay không muốn bị ngân hàng làm khó dễ trong các lần vay sau này. Tuy nhiên, nếu ngân hàng lại cho vay tới 10 tỉ đồng, động cơ phát sinh rủi ro đạo đức đối với khách sẽ là rất lớn.

Như vậy, nếu tín dụng càng lớn so với yêu cầu chính đáng, thì động cơ dính líu vào các hoạt động rủi ro khiến người vay không trả được nợ càng lớn. Bởi vì, hầu hết người vay đều trả nợ nếu như khoản vay nhỏ, do đó, ngân hàng hạn chế khoản vay thấp hơn người vay yêu cầu.

Một trong những hình thức hạn chế khoản vay đó là yêu cầu người vay phải có một tỉ lệ vốn nhất định bỏ vào trong dự án đầu tư.

4. Những hạn chế tín dụng về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng

Những hạn chế tín dụng về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng được thể hiện đó là:

a) Những trường hợp không được cho vay

Theo quy định tại điều 19 Quyết đinh của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31 tháng 12 năm 2001 về việc ban hành quy chế cho vay của tổ chức tín dụng với khách hàng thì tổ chức tín dụng không được phép cho các đối tượng sau vay:

“a) Thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Tổng giám đốc (Giám đốc), Phó Tổng giám đốc (Phó Giám đốc) của tổ chức tín dụng;

b) Cán bộ, nhân viên của chính tổ chức tín dụng đó thực hiện nhiệm vụ thẩm định, quyết định cho vay;

c) Bố, mẹ, vợ, chồng, con của thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Tổng giám đốc (Giám đốc), Phó tổng giám đốc (Phó giám đốc).

2. Các quy định tại Khoản 1 Điều này không áp dụng đối với các tổ chức tín dụng hợp tác.

3. Việc áp dụng quy định tại điểm c Khoản 1 Điều này đối với người vay là bố, mẹ, vợ, chồng, con của Giám đốc, Phó Giám đốc chi nhánh của tổ chức tín dụng do tổ chức tín dụng xem xét quyết định.”

Việc quy định như vậy là nhằm bảo đảm tránh sự ưu ái đối đặc biệt của tổ chức tín dụng với khách hàng là các đối tượng trên, bảo đảm sự công bằng cho tất cả các khách hàng khi tham gia vào hoạt động vay vốn, cũng nhằm tránh việc những đối tượng trên có ý định lợi dụng chức vụ quyền hạn nhằm trục lợi từ hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng.

b) Hạn chế cho vay

Tổ chức tín dụng không được cho vay không có bảo đảm, cho vay với những điều kiện ưu đãi về lãi suất, về mức cho vay đối với những đối tượng sau đây theo Điều 20 Quyết định 1627/2001/QĐ-NHNN

“1. Tổ chức kiểm toán, Kiểm toán viên có trách nhiệm kiểm toán tại tổ chức tín dụng cho vay; Thanh tra viên thực hiện nhiệm vụ thanh tra tại tổ chức tín dụng cho vay; Kế toán trưởng của tổ chức tín dụng cho vay;

2. Các cổ đông lớn của tổ chức tín dụng

3. Doanh nghiệp có một trong những đối tượng quy định tại khoản 1 Điểu 77 của Luật Các tổ chức tín dụng sở hữu trên 10% vốn điều lệ của doanh nghiệp đó.”

Quy định trên cũng có một số bất cập. Ví dụ việc xác định lãi suất cho vay là theo thoả thuận với rất nhiều mức khác nhau chứ không chỉ có một mức lãi suất cứng nhắc như trước đây. Do vậy, nếu cho vay các đối tượng nói trên với mức lãi suất thuộc loại thấp thì khó có thể kết luận là đã ưu đãi hay không ưu đãi về lãi suất.

Luật không chỉ rõ kế toán trưởng là người của ngân hàng hay của doanh nghiệp vay vốn. Đồng thời cũng không nói rõ thanh tra viên là của ngân hàng hay của cơ quan nào. Trên thực tế, đang được hiểu là hạn chế cấp tín dụng đối với kế toán trưởng của chính ngân hàng cho vay. Còn thanh tra viên thì lại phải hiểu là người của các cơ quan nhà nước đang thanh tra tại ngân hàng đó (tương tự như đối với kiểm toán viên).

5. Quy định về hạn chế cấp tín dụng của tổ chức tín dụng

Các trường hợp hạn chế cấp tín dụng

Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài không được cấp tín dụng không có bảo đảm, cấp tín dụng với điều kiện ưu đãi (ưu đãi về lãi suất, hồ sơ, trình tự, thủ tục xét duyệt cấp tín dụng, biện pháp bảo đảm nghĩa vụ nợ và các biện pháp xử lý thu hồi nợ so với quy định của pháp luật và các quy định tại Quy định nội bộ về cấp tín dụng, quản lý tiền vay để bảo đảm việc sử dụng vốn vay đúng mục đích áp dụng đối với khách hàng và người có liên quan) cho các đối tượng sau đây:

a) Tổ chức kiểm toán, kiểm toán viên đang kiểm toán tại tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài; thanh tra viên đang thanh tra tại tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài;

b) Kế toán trưởng của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài;

c) Cổ đông lớn, cổ đông sáng lập;

d) Doanh nghiệp có một trong những đối tượng có quyền lợi liên quan sở hữu trên 10% vốn điều lệ của doanh nghiệp đó;

đ) Người thẩm định, xét duyệt cấp tín dụng;

e) Các công ty con, công ty liên kết của tổ chức tín dụng hoặc doanh nghiệp mà tổ chức tín dụng nắm quyền kiểm soát.

Báo cáo Đại hội đồng cổ đông, Đại hội đồng thành viên

– Việc cấp tín dụng đối với những đối tượng quy định trên phải được Hội đồng quản trị, Hội đồng thành viên, Tổng giám đốc (đối với chi nhánh ngân hàng nước ngoài) thông qua và công khai trong tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.

– Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài phải báo cáo Đại hội đồng cổ đông, Đại hội thành viên các khoản cấp tín dụng cho các đối tượng theo quy định trên phát sinh đến thời điểm lấy số liệu để họp Đại hội đồng cổ đông, Đại hội thành viên; báo cáo cho chủ sở hữu, thành viên góp vốn, người quản lý, người điều hành và Ngân hàng Nhà nước (Cơ quan thanh tra, giám sát ngân hàng) khi có phát sinh các khoản cấp tín dụng cho các đối tượng đó.

Mức dư nợ tín dụng

Tổng mức dư nợ cấp tín dụng đối với các đối tượng sau không được vượt quá 5% vốn tự có của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.

a) Tổ chức kiểm toán, kiểm toán viên đang kiểm toán tại tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài; thanh tra viên đang thanh tra tại tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài;

b) Kế toán trưởng của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài;

c) Cổ đông lớn, cổ đông sáng lập;

d) Doanh nghiệp có một trong những đối tượng có quyền lợi liên quan sở hữu trên 10% vốn điều lệ của doanh nghiệp đó;

đ) Người thẩm định, xét duyệt cấp tín dụng;

– Tổng mức dư nợ cấp tín dụng đối với một công ty con, công ty liên kết của tổ chức tín dụng hoặc doanh nghiệp mà tổ chức tín dụng nắm quyền kiểm soát không được vượt quá 10% vốn tự có của tổ chức tín dụng; đối với tất cả các đối tượng là các công ty con, công ty liên kết của tổ chức tín dụng hoặc doanh nghiệp mà tổ chức tín dụng nắm quyền kiểm soát không được vượt quá 20% vốn tự có của tổ chức tín dụng.

Các câu hỏi thường gặp

Câu hỏi: Khái niệm hạn chế tín dụng

Trả lời:

Hạn chế tín dụng là giới hạn loại khách hàng không được cho vay hoặc không được cho vay với điều kiện ưu đãi và giới hạn mức cho vay tối đa đối với các loại khách hàng.

Câu hỏi: Phân loại hạn chế tín dụng

Trả lời:

Ở Việt Nam, đối với hạn mức tín dụng, thường có hai loại:

1) Hạn mức tín dụng cuối kì là số dư nợ cho vay kế hoạch tối đa vào ngày cuối kì mà số dự nợ cho vay thực tế cuối kì không được vượt quá;

2) Hạn mức tín dụng trong kì là hạn mức bổ sung cho hạn mức cuối kì trong trường hợp do hoạt động kinh doanh của đơn vị vay vốn không đều đặn có nhu cầu vay vốn hạn mức tín dụng cuối kì, nên số bổ sung này phải được hoàn trả trong kì, để bảo đảm số dư thực tế cuối kì phù hợp với hạn mức tín dụng cuối kì quy định. 

Câu hỏi: Phạm vi hạn chế tín dụng

Trả lời:

Phạm vi hạn chế được Nhà nước quy định tùy thuộc vào điều kiện lịch sử cụ thể như: độ an toàn trong kinh doanh của hệ thống các tổ chức tín dụng, mức độ ổn định của nền tài chính quốc gia; khả năng kiểm soát hoạt động kinh doanh của các tổ chức tín dụng... Do đó, ở các nước, phạm vi hạn chế tín dụng có sự khác nhau và ở từng nước trong từng thời kì cũng khác nhau.