1. Hàng thừa kế chỉ còn một người thì có được hưởng toàn bộ di sản ?

Thưa Luật sư, tôi có câu hỏi cần tư vấn như sau: Ông nội tôi đã mất từ rất lâu và có để lại 1 căn nhà cho 3 người con trai cùng cha khác mẹ. Một người đã đi biệt tích rất lâu không liên lạc với gia đình, 1 người thì đã mất được 10 năm mà không có vợ con đến tranh chấp tài sản.
Vậy người còn lai có được toàn quyền thừa kế tài sản của ông nội để lại không, và nếu được thì thủ tục thừa kế sẽ như thế nào ?
Rất mong được luật sư giúp đỡ.
Người gửi: N.L

>> Luật sư tư vấn pháp luật thừa kế, gọi số: 1900.6162

Trả lời:

Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến công ty Luật Minh Khuê. Đối với trường hợp của bạn, tôi sẽ tư vấn cho bạn như sau:

1. Người có quyền hưởng thừa kế

Vì bạn không trình bày rõ khi ông bạn mất có để lại di chúc hay không. Nên chúng tôi sẽ đưa ra hai trường hợp để phân tích như sau:

Một là, khi ông bạn mất có để lại di chúc (di chúc hợp pháp).

Trường hợp này, người được chỉ định thừa kế sẽ có quyền hưởng thừa kế. Nếu người thừa kế là cá nhân thì phải còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết; trường hợp người thừa kế theo di chúc là cơ quan, tổ chức thì phải là cơ quan, tổ chức tồn tại vào thời điểm mở thừa kế theo Điều 613 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Hai là, ông bạn mất không để lại di chúc hoặc có di chúc nhưng không hợp pháp.

Trường hợp này, di sản của người chết để lại sẽ được thừa kế theo pháp luật.

Điều 651 BLDS 2015 quy định về người thừa kế theo pháp luật:

"1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản."

Theo như bạn trình bày thì ông nội bạn có 3 người con trai tạm gọi là A (chết được 10 năm), B (biệt tích), C (còn sống).

- Đối với trường hợp của A, vì bạn không nói rõ ông bạn chết khi nào và A chết trước hay sau ông nên có thể xảy ra các tình huống:

+ Nếu A chết sau ông bạn và có vợ con như vậy vợ con A sẽ có quyền hưởng thừa kế đối với di sản của A trong đó có phần di sản mà A được hưởng từ ông bạn (A thuộc hàng thừa kế thứ nhất và có đủ điều kiện để được hưởng thừa kế từ ông bạn).

+ Nếu A chết trước ông bạn và có con thì trong trường hợp này con của A có quyền hưởng thừa kế thế vị di sản của ông bạn theo quy định tại Điều 652 BLDS 2015 về thừa kế thế vị.

+ Nếu A không có vợ con thì A không có quyền hưởng thừa kế.

- Đối với trường hợp của B, pháp luật dân sự quy định:

"Điều 71. Tuyên bố chết

1. Người có quyền, lợi ích liên quan có thể yêu cầu Tòa án ra quyết định tuyên bố một người là đã chết trong trường hợp sau đây:

a) Sau 03 năm, kể từ ngày quyết định tuyên bố mất tích của Tòa án có hiệu lực pháp luật mà vẫn không có tin tức xác thực là còn sống;

b) Biệt tích trong chiến tranh sau 05 năm, kể từ ngày chiến tranh kết thúc mà vẫn không có tin tức xác thực là còn sống;

c) Bị tai nạn hoặc thảm họa, thiên tai mà sau 02 năm, kể từ ngày tai nạn hoặc thảm hoạ, thiên tai đó chấm dứt vẫn không có tin tức xác thực là còn sống, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác;

d) Biệt tích 05 năm liền trở lên và không có tin tức xác thực là còn sống; thời hạn này được tính theo quy định tại khoản 1 Điều 68 của Bộ luật này.

2. Căn cứ vào các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, Tòa án xác định ngày chết của người bị tuyên bố là đã chết.

3. Quyết định của Tòa án tuyên bố một người là đã chết phải được gửi cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người bị tuyên bố là đã chết để ghi chú theo quy định của pháp luật về hộ tịch."

Tương tự, đối với trường hợp của B, bạn cũng không trình bày cụ thể B biệt tích từ khi nào nên có thể hiểu:

+ Nếu B biệt tích và bị Tòa án tuyên bố là đã chết trước thời điểm ông bạn chết và không có con thì B sẽ không có quyền được hưởng thừa kế.

+ Nếu B biệt tích sau khi ông bạn chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết sau thời điểm mở thừa kế thì B vẫn đủ điều kiện để hưởng thừa kế và phần tài sản của B sẽ do người quản lý tài sản theo quy định tại Khoản 1 Điều 65 BLDS quản lý (trường hợp B bị tuyên bố là mất tích) hoặc do những người có quyền hưởng thừa kế của B thừa kế (trường hợp B bị tuyên bố là đã chết).

Như vậy, C chỉ có quyền hưởng thừa kế toàn bộ di sản của ông bạn để lại khi và chỉ khi A chết và B bị Tòa án tuyên bố là đã chết trước thời điểm mở thừa kế, A và B đều không có con và không còn ai thuộc hàng thừa kế thứ nhất nữa.

>> Xem thêm:  Vợ có nhà ở riêng thì chồng có được mua nhà ở xã hội không ? Mức thuế phải nộp khi mua nhà đất

2. Tư vấn thừa kế đất cho hàng thừa kế thứ nhất ?

Chào luật sư, tôi có một vấn đề thắc mắc nhờ các luật sư tư vấn giúp. Chị tôi sau khi có gia đình thì ra ở riêng và có khai khẩn được 7 công đất, chị có 2 người con 1 trai và 1 gái, năm 2009 chị tôi mất, lúc đó 2 cháu tôi đứa được 6 tuổi, đứa được 5 tuổi, mẹ tôi nhận cháu về nuôi cho tới nay (hiện tại 2 cháu vẫn ở cùng bà ngoại và cha cháu không phụ nuôi).
Năm 2015 cha cháu đã lập gia đình và đã bán toàn bộ số đất trên, cha cháu không chia cho 2 cháu phần nào cả, mà theo tôi đáng lẽ 2 cháu tôi phải được chia theo thừa kế hàng thứ nhất theo pháp luật. Tôi muốn hỏi nếu tình huống như vậy thì cha cháu có bị bắt buộc phải chia đều cho 2 cháu không? Và tôi phải làm thế nào để có thể giúp cháu tôi đòi lại công bằng (vì cháu tôi còn nhỏ, chưa đủ 18 tuổi, không đủ năng lực hành vi)? Nếu phải nhờ pháp luật can thiệp thì tôi cần làm những gì và ai sẽ đủ quyền đưa sự việc ra pháp luật giúp cháu? Mong các luật sư giúp đỡ vì cháu tôi còn nhỏ mà bà ngoại đã già không đủ khả năng nuôi cháu, cha cháu lại không nhận nuôi con ?
Tôi xin cảm ơn!
Người gửi: H

>> Luật sư tư vấn luật dân sự về thừa kế tài sản, gọi: 1900.6162

Trả lời:

1. Về thừa kế di sản

Theo quy định của pháp luật hiện hành, nếu người để lại di sản không có di chúc, tài sản của người đó sẽ được chia theo pháp luật.

Khi không có di chúc, hàng thừa kế thứ nhất bao gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết; (Điểm a Khoản 1 Điều 651 Bộ luật Dân sự 2015 ). Trong trường hợp của chị gái bạn, những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất là: Mẹ của bạn, chồng, hai người con (một cháu 5 tuổi, một cháu 6 tuổi vào thời điểm thừa kế).

Những người thuộc hàng thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau (Khoản 2, Điều 651) điều đó có nghĩa là phần tài sản riêng của chị gái bạn trong khối tài sản chung hợp nhất cùng với chồng, hoặc tài sản riêng (nếu có) sẽ được chia đều cho bốn người thuộc hàng thừa kế thứ nhất đã nêu trên. Mẹ và hai người cháu của bạn có quyền được hưởng thừa kế một phần tài sản mà chị bạn để lại, pháp luật bảo vệ quyền này của bác và các cháu.

2. Về việc chồng của chị gái bạn bán toàn bộ tài sản

Vì hai cháu đều là trẻ vị thành niên, chưa đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi pháp luật nên sau khi chị gái bạn chết, thì người giám hộ và đại diện hợp pháp của hai cháu nhỏ là bố của chúng.

Việc định đoạt tài sản riêng của con chưa thành niên được pháp luật quy định như sau:

- Trong trường hợp cha mẹ quản lý tài sản riêng của con dưới mười lăm tuổi thì có quyền định đoạt tài sản đó vì lợi ích của con, có tính đến nguyện vọng của con, nếu con từ đủ chín tuổi trở lên.

- Con từ đủ mười lăm tuổi đến dưới mười tám tuổi có quyền định đoạt tài sản riêng; nếu định đoạt tài sản có giá trị lớn hoặc dùng tài sản để kinh doanh thì phải có sự đồng ý của cha mẹ.

Định đoạt vì lợi ích của con ví dụ như: bán tài sản để lấy tiền phục vụ cho sinh hoạt, học tập của con. Như vậy, pháp luật không cấm cha mẹ được bán/chuyển nhượng tài sản của con.

Tuy nhiên, trong trường hợp này chồng của chị gái bạn bán toàn bộ số đất, có phần tài sản được thừa kế của hai con mình trong đó mà không chia cho con phần nào là việc làm phương hại đến quyền và lợi ích chính đáng của hai cháu.

Để giải quyết trường hợp này, bà ngoại của các cháu, người có quyền giám sát việc giám hộ có thể yêu cầu Tòa án cấp huyện (nơi có bất động sản là di sản thừa kế) giải quyết, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của hai cháu.

Pháp luật quy định cụ thể trường hợp này tại Điều 26, điều 33, điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 :

“Điều 25. Những tranh chấp về dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án

1. Tranh chấp về quốc tịch Việt Nam giữa cá nhân với cá nhân.

2. Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản.

3. Tranh chấp về giao dịch dân sự, hợp đồng dân sự.

4. Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 30 của Bộ luật này.

5. Tranh chấp về thừa kế tài sản..."

“Điều 35. Thẩm quyền của Toà án nhân dân cấp huyện

1. Toà án nhân dân huyện có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp sau đây:

a) Tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình quy định tại Điều 26 và Điều 28 của Bộ luật này, trừ tranh chấp quy định tại khoản 7 Điều 26 của Bộ luật này;..."

“Điều 39. Thẩm quyền của Toà án theo lãnh thổ

1. Thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của Toà án theo lãnh thổ được xác định như sau:

a) Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các Điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này;

b) Các đương sự có quyền tự thỏa thuận với nhau bằng văn bản yêu cầu Tòa án nơi cư trú, làm việc của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cá nhân hoặc nơi có trụ sở của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cơ quan, tổ chức giải quyết những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này;

c) Đối tượng tranh chấp là bất động sản thì chỉ Tòa án nơi có bất động sản có thẩm quyền giải quyết."

Cần lưu ý về thời hiệu khởi kiện về thừa kế quy định tại điều 645 Bộ luật dân sự:

"Thời hiệu khởi kiện để người thừa kế yêu cầu chia di sản, xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.

Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại là ba năm, kể từ thời điểm mở thừa kế".

>> Xem thêm:  Dịch vụ luật sư tư vấn pháp luật thừa kế trực tuyến qua tổng đài điện thoại

3. Tư vấn pháp luật về hàng thừa kế được hưởng thừa kế ?

Xin chào Luật Minh Khuê, em có câu hỏi mong luật sư giải đáp. Vấn đề của em như sau. Ba em được thừa kế đất của ông nội. Nhưng ông nội mất lâu rồi. Khi mất thì không có ba em ở bên cạnh và cũng không để lại di chúc. Ba em thì có 2 người vợ nhưng người vợ trước thì không có hôn thú.

Và bây giờ ba em muốn làm lại giấy tờ đất đai, nhà cửa thì mấy người con của vợ lớn lại thuê luật sư đòi tranh chấp đất với ba em . Cho em hỏi như vậy thì có đúng luật hay không. Và không biết là ba em có thể tiếp tục làm giấy tờ được nữa không.

Xin luật sư cho em biết ý kiến và giải thích dùm cho e với. Xin chân thành cám ơn !

- Nam

>> Luật sư tư vấn pháp luật dân sự gọi: 1900.6162

Trả lời:

Ông nội bạn mất mà không để lại di chúc Căn cứ Luật dân sự 2015 quy định khá cụ thể về hàng thừa kế, bạn có thể tham khảo như sau:

Điều 650. Những trường hợp thừa kế theo pháp luật

1. Thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong những trường hợp sau đây:

a) Không có di chúc…”

- Thừa kế theo pháp luật được chia theo hàng thừa kế, gồm những đối tượng như sau:

"Điều 651. Người thừa kế theo pháp luật

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản."

-> Như vậy ngoài ba bạn ra ông nội bạn có những ai thuộc hàng thừa kế thứ nhất thì di sản do ông để lại sẽ chia đều cho những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất. Luật cũng quy định rõ rằng “Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản “ Xác định nếu như ba bạn không còn nữa thì những người con của ba bạn, hay những người cháu mới có quyền hưởng di sản thừa kế. Việc những người con của người vợ lớn đòi tranh chấp di sản của ông để lại là không có cơ sở, không đúng theo quy định của pháp luật .

"Điều 623. Thời hiệu thừa kế

1. Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản, 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế. Hết thời hạn này thì di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó. Trường hợp không có người thừa kế đang quản lý di sản thì di sản được giải quyết như sau:

a) Di sản thuộc quyền sở hữu của người đang chiếm hữu theo quy định tại Điều 236 của Bộ luật này;

b) Di sản thuộc về Nhà nước, nếu không có người chiếm hữu quy định tại điểm a khoản này.

2. Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là 10 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.

3. Thời hiệu yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại là 03 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế."

Theo trên, thời hiệu xác nhận quyền thừa kế là mười năm kể từ thời điểm ông nội mất. Như vậy có thể hiểu rằng trong thời hạn này ba bạn vẫn có quyền đi khai nhận di sản thừa kế, tiến hành thủ thủ tục sang tên trên GCNQSD.

- Cơ quan tiến hành: Bất kỳ tổ chức công chứng nào trên địa bàn tỉnh, thành phố nơi có bất động sản.

- Bộ hồ sơ yêu cầu công chứng gồm:

+ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất;

+ Giấy chứng tử của ông bạn;

+ Giấy tờ tùy thân của các thừa kế( nếu có);

+ Những giấy tờ khác (như: giấy khai sinh; giấy chứng tử của ông bà nội; giấy đăng ký kết hôn của ba mẹ bạn …).

- Thủ tục:

Sau khi kiểm tra hồ sơ thấy đầy đủ, phù hợp quy định của pháp luật, cơ quan công chứng tiến hành niêm yết công khai tại trụ sở Uỷ ban nhân dân cấp xã, nơi thường trú trước đây của người để lại di sản; trong trường hợp không có nơi thường trú, thì niêm yết tại Uỷ ban nhân dân cấp xã, nơi tạm trú có thời hạn của người đó. Nếu không xác định được cả hai nơi này, thì niêm yết tại Uỷ ban nhân dân cấp xã, nơi có bất động sản của người để lại di sản.

Sau 15 ngày niêm yết, không có khiếu nại, tố cáo gì thì cơ quan công chứng chứng nhận văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế theo Điều 49 Luật Công chứng. Trong văn bản, những người thừa kế khác có thể tặng cho toàn bộ quyền hưởng di sản cho mẹ bạn để mẹ bạn trở thành chủ sử dụng toàn bộ thửa đất do bố bạn để lại.

Thủ tục sang tên bạn trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (theo Điều 79 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính Phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Đất đai).

- Chủ thể tiến hành: ba bạn.

- Cơ quan tiến hành: Văn phòng đăng ký đất đai.

- Hồ sơ:

+ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất;

+ Văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế;

+ Giấy tờ tùy thân của các thừa kế;

+ Những giấy tờ khác (như: giấy khai; giấy chứng tử của ông bà nội; giấy đăng ký kết hôn của ba mẹ bạn …).

- Trình tự, thủ tục:

+ Người sử dụng đất nộp 01 bộ hồ sơ thực hiện quyền của người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất.

+ Văn phòng đăng ký đất đai có trách nhiệm kiểm tra hồ sơ, nếu đủ điều kiện thực hiện các quyền theo quy định thì thực hiện các công việc sau đây:

Gửi thông tin địa chính đến cơ quan thuế để xác định và thông báo thu nghĩa vụ tài chính đối với trường hợp phải thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định;

Xác nhận nội dung biến động vào Giấy chứng nhận đã cấp theo quy định của Bộ Tài nguyên và Môi trường.

Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến về đăng ký thừa kế quyền sử dụng đất

4. Tư vấn pháp luật thừa kế về hàng thừa kế thứ ba ?

Xin chào công ty luật Minh Khuê, tôi có thắc mắc mong được giải đáp: Hiện nay sổ đỏ nhà tôi do bà Hồ Thị Được cô ruột của ba tôi đứng tên. Trước đây ba tôi do bà Được nuôi và chăm sóc. Bà Được sống độc thân không chồng, con và cha mẹ anh chị em của bà Được đều chết trong chiến tranh.

Nay tôi muốn cho mẹ tôi thừa kế căn nhà đó được không?

- Thứ nhất: ba tôi không có giấy tờ chứng minh có quan hệ với bà Được gì hết chỉ có giấy xác nhận hộ khẩu gốc của Công an quận Tân Phú Tp Hồ Chí Minh là có quan hệ là cháu của bà Được.

-Thứ hai là bà Được do ba tôi và mẹ tôi chăm sóc tới khi chết (2006)

- Thứ ba là hiện tại bà Được và ba tôi đều chết hết.

-Thứ tư, người thừa kế tài sản hàng thứ 1,2 đều chết trong chiến tranh, không có giấy tờ chứng minh. Nhưng hàng thừa kế thứ 3 chỉ có một mình ba của tôi thôi nhưng cũng không có giấy tờ chứng minh có quan hệ. Tất cả giấy khai sinh của ba tôi và bà Được đều bị thất lạc hết.

Tôi kính mong luật sư tư vấn và đưa ra hướng giải quyết giúp tôi. Tôi chân thành cảm ơn.

Tên khách hàng: HC Tuấn

>> Tư vấn pháp luật về thừa kế trực tuyến gọi : 1900.6162

Trả lời:

Cô ruột của ba bạn mất và không để lại di chúc thì phần di sản để lại sẽ được chia theo pháp luật.

Căn cứ Điều 651 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.

Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

Điều 611. Thời điểm, địa điểm mở thừa kế

1. Thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sản chết. Trường hợp Tòa án tuyên bố một người là đã chết thì thời điểm mở thừa kế là ngày được xác định tại khoản 2 Điều 71 của Bộ luật này.

Như vậy, trường hợp này ba bạn sẽ là người thừa kế thuộc hàng thừa kế thứ ba. Về các giấy tờ chứng minh quan hệ nhân thân vì ba bạn và cô ruột là bà Được đã có giấy xác nhận hộ khẩu gốc của công an quận Tân Phú thành phố Hồ Chí Minh là có quan hệ cô ruột-cháu ruột . Hơn nữa bạn có thể chứng minh di sản này không có tranh chấp, không có người thừa kế thuộc hàng thừa kế thứ 1,2. Vậy tại thời điểm sau khi cô ruột của ba bạn mất là thời điểm mở thừa kế và ba bạn sẽ là người hưởng toàn bộ di sản thừa kế, cụ thể là căn nhà như đã phân tích trên.

Hiện tại ba bạn đã mất, lúc này bạn và mẹ bạn đương nhiên là người thừa kế thuộc hàng thừa kế thứ nhất là vợ, con đẻ của người chết. Vậy khối di sản này sẽ thuộc sở hữu của mẹ bạn và bạn, mẹ bạn hoàn toàn có thể thừa kế căn nhà đó.

Trân trọng./.

5. Di sản thừa kế được chia như thế nào ?

Chào Luật sư Minh Khuê, Luật sư cho em hỏi vấn đề liên quan đến thừa kế như sau được không ạ? Ông nội em mất có để lại 4 mảnh đất có diện tích khoảng 100m2 và hai căn nhà (một căn nhà hai tầng, một căn nhà 4 tầng) khi mất ông không để lại di chúc. Ông nội em có 3 người con, 2 người con trai, 1 người con gái, hiện tại bà nội em vẫn còn sống. Vậy Luật sư cho em hỏi:
- Số tài sản trên sẽ được chia như thế nào?
- Bố em là người trước kia ông còn sống là người chăm sóc, ông ở với bố em như vậy bố em có được hưởng phần nhiều hơn không?
Cảm ơn!

Trả lời:

Các trường hợp như sau đây sẽ được thừa kế theo pháp Luật, căn cứ theo điều 650 Bộ Luật dân sự năm 2015:

Điều 650. Những trường hợp thừa kế theo pháp luật

1. Thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong trường hợp sau đây:

a) Không có di chúc;

b) Di chúc không hợp pháp;

c) Những người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; cơ quan, tổ chức được hưởng thừa kế theo di chúc không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế;

d) Những người được chỉ định làm người thừa kế theo di chúc mà không có quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.

2. Thừa kế theo pháp luật cũng được áp dụng đối với các phần di sản sau đây:

a) Phần di sản không được định đoạt trong di chúc;

b) Phần di sản có liên quan đến phần của di chúc không có hiệu lực pháp luật;

c) Phần di sản có liên quan đến người được thừa kế theo di chúc nhưng họ không có quyền hưởng di sản, từ chối nhận di sản, chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; liên quan đến cơ quan, tổ chức được hưởng di sản theo di chúc, nhưng không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế.

Trong trường hợp thừa kế theo pháp Luật thì di sản thừa kế sẽ được chia theo các hàng thừa kế theo quy định Điều 651 Bộ Luật dân sự 2015:

Điều 651. Người thừa kế theo pháp luật

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.

Theo quy định trên thì hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết.

Trong trường hợp của bạn, ông bạn mất để lại khối tài sản cho thân nhân, theo quy định thì những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất sẽ được hưởng phần di sản bằng nhau.

Vậy: Số di sản trên sẽ được chia đều có những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất, trong trường hợp của bạn thì: Bà nội và các con thuộc hàng thừa kế thứ nhất sẽ được hưởng phần di sản bằng nhau. Bốn mảnh đất và 2 căn nhà trên sẽ được chia thành 4 phần như sau chia đều cho Bà nội và 3 người con.

Việc ông nội ở với bố bạn thì sẽ không được xét trường hợp ưu tiên để hưởng phần di sản nhiều hơn. Nên vẫn sẽ được chia bằng nhau.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi, nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật Dân sự về thừa kế tài sản, gọi: 1900.6162 để được giải đáp. Rất mong nhận được sự hợp tác!

Bộ phận tư vấn luật thừa kế - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Dịch vụ luật sư giải quyết các tranh chấp về thừa kế