1 Quy định chung về tội hành hung để tẩu thoát

Hành hung để tẩu thoát là (Hành vi) dùng sức mạnh chống lại việc bắt giữ để trốn thoát (việc bắt giữ được thực hiện ngay sau khi hành vi phạm tội xảy ra).

Hành hung để tẩu thoát là dấu hiệu định khung hình phạt tăng nặng của nhiều tội phạm trong nhóm tội xâm phạm sở hữu như tội trộm cắp tài sản, tội cướp giật tài sản... Hành hung để tẩu thoát đòi hỏi có những đặc điểm sau: 1) Có hành vi dùng sức mạnh tác động đến người bắt giữ. Hành vi này không đòi hỏi phải gây thương tích; 2) Mục đích của hành vi dùng sức mạnh tác động đến người bắt giữ (chống trả) chỉ nhằm trốn thoát mà không phải nhằm giữ tài sản (nếu chống trả nhằm giữ bằng được tài sản sẽ bị coi là trường hợp chuyển hóa thành tội cướp tài sản).

Trong thực tế, hành vi hành hung có thể không gây thương tích, có thể gây thương tích không đáng kể hoặc có thể gây thương tích đáng kể. Trong trường hợp hành vi hành hung không gây thương tích hoặc gây thương tích không đáng kể, hành vi hành hung chỉ cấu thành tình tiết định khung hình phạt tăng nặng. Nếu hành vi hành hung đã gây thương tích đáng kể thì hành vi đó ngoài việc cấu thành tội xâm phạm sở hữu còn cấu thành tội cố ý gây thương tích (Xem: Cố ý gây thương tích).

Tuyến đường hàng hải mà quốc gia ven biển có thể thiết lập để dành cho sự qua lại vô hại của tàu thuyền nước ngoài ở vùng lãnh hải của mình vì mục đích an toàn hàng hải. Ì

Theo Điều 2 Công ước năm 1982 về luật biển quốc, tế, khi thiết lập hành lang hàng hải, quốc gia vẹn biển phải tính đến các yếu tố sau: các khuyến nghị của tổ chức quốc tế có thẩm quyền; các tuyến đường bất kì thường được dùng trong hàng hải quốc tế; các đặc thù của các loại tàu và tuyến đường. cường độ giao thông hàng hải.

Quốc gia ven biển phải có trách nhiệm xác định rõ ràng các hành lang hàng hải đó và sơ đồ phân chia luồng lạch trên các hải đồ được công bố theo đúng quy định.

2 Quy định về tội hành hung để tẩu thoát trong trộm cắp tài sản

Tội trộm cắp tài sản là hành vi được quy định trong Bộ luật hình sự hiện hành, theo đó người phạm tội này được xác định là người đã dùng thủ đoạn để có thể lén lút khi người khác có sơ hở để chiếm đoạt tài sản từ họ, người mà khi thực hiện hành vi này có ý thức che giấu hành vi của chính mình để người bị mất tài sản không thể phát hiện ra./

Mục 6 Phần I Thông tư liên tịch số 02/2001/TTLT-TANDTC- VKSNDTC-BCA-BTP quy định như sau:

1. Khi áp dụng tình tiết “hành hung để tẩu thoát” trong tội trộm cắp tài sản (điểm đ khoản 2 Điều 136; điểm a khoản 2 Điều 137; điểm đ khoản 2 Điều 138 Bộ luật Hình sự) cần chú ý:

“- Phạm tội thuộc trường hợp “hành hung để tẩu thoát” là trường hợp mà người phạm tội chưa chiếm đoạt được tài sản hoặc đã chiếm đoạt được tài sản, nhưng bị phát hiện và bị bắt giữ hoặc bị bao vây bắt giữ thì đã có những hành vi chống trả lại người bắt giữ hoặc người bao vây bắt giữ như đánh, chém, bắn, xô ngã… nhằm tẩu thoát.

– Nếu người phạm tội chưa chiếm đoạt được tài sản hoặc đã chiếm đoạt được tài sản, nhưng đã bị người bị hại hoặc người khác giành lại, mà người phạm tội tiếp tục dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực ngay tức khắc tấn công người bị hại hoặc người khác nhằm chiếm đoạt cho được tài sản, thì trường hợp này không phải là “hành hung để tẩu thoát” mà đã có đầy đủ các dấu hiệu cấu thành tội cướp tài sản”.

Căn cứ vào các quy định trên, nếu người phạm tội trộm cắp tài sản bị phát hiện và bị bắt giữ nhưng đã có hành vi chống trả lại nhằm tẩu thoát thì bị coi là “hành hung để tẩu thoát” trong tội trộm cắp. Trường hợp người phạm tội trộm cắp tài sản bị người bị hại hoặc người khác giành lại tài sản mà người phạm tội tiếp tục dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực ngay tức khắc tấn công người bị hại hoặc người khác nhằm chiếm đoạt cho được tài sản thì hành vi trộm cắp tài sản sẽ chuyển hóa thành hành vi cướp tài sản.

3 Phân biệt chuyển hóa tội phạm và hành hung để tẩu thoát

3.1 Đối với chuyển hóa tội phạm

việc chuyển hóa tội phạm thường chỉ diễn ra đối với tội cướp giật tài sản, trộm cắp tài sản, công nhiên chiếm đoạt tài sản chuyển hoá thành cướp tài sản và phải thỏa mãn các dấu hiệu

- Đang thực hiện hành vi cướp giật, trộm cắp, công nhiên chiếm đoạt tài sản,

- Bị phát hiện tại thời điểm thực hiện hành vi

- Người phạm tội dùng vũ lực tấn công nạn nhân hoặc có thể cả người khác,

- Nhằm lấy, giữ, chiếm đoạt bằng được tài sản.

Cụ thể, diễn biến của tội phạm diễn ra như sau:

- Trộm tài sản – bị phát hiện khi chưa lấy được tài sản – dùng vũ lực nhằm lấy tài sản và trốn thoát => chuyển hóa thành tội cướp tài sản

- Đang chiếm đoạt tài sản – bị phát hiện – dùng vũ lực để lấy tài sản => chuyển hóa thành tội cướp tài sản

- Đã chiếm đoạt được tài sản – bị phát hiện – Dùng vũ lực để giữ bằng được tài sản => chuyển hóa thành tội cướp tài sản

- Đã chiếm đoạt được tài sản – Bị phát hiện – Dùng vũ lực để tẩu thoát những vẫn cố giữ bằng được tài sản => chuyển hóa thành tội cướp tài sản

Có thể thấy, hành vi dùng vũ lực trong các trường hợp trên nhằm mục đích giữ bằng được tài sản đã trộm cắp/chiếm đoạt.

3.2 Đối với tội hành hung để tẩu thoát

Đối với tình tiết “hành hung để tẩu thoát”, Trường hợp, tội phạm đang thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, công nhiên chiếm đoạt tài sản, cướp giật tài sản mà bị phát hiện, tội phạm dùng vũ lực nhằm tẩu thoát, không nhằm mục đích giữ tài sản thì Tội phạm không chuyển hóa. Trong trường hợp này ta áp dụng tình tiết tăng nặng “hành hung để tẩu thoát” đối với các tội danh đã thực hiện. Nói cách khác, người thực hiện hành vi phạm tội sử dụng vữ lực nhằm thoát khỏi sự truy đuổi hoặc chống cự của chủ tài sản mà không có ý định giữ bằng được tài sản đã trộm cắp/chiếm đoạt được thì không được coi là chuyển hóa tội phạm.

3.3 Tình tiết “hành hung để tẩu thoát”

Khi thực hiện hành vi phạm tội hành hung để tẩu thoát, người phạm tội sử dụng vũ lực đối với nạn nhân để chiếm đoạt bằng được tài sản tuy nhiên cũng có trường hợp mục đích của việc sử dụng vũ lực của người phạm tội không phải là để chiếm đoạt cho bằng được tài sản mà chỉ là để tẩu thoát khỏi sự truy đuổi hô hoán của chủ tài sản hoặc người xung quanh.

Khi đó hành vi sử dụng vũ lực của người phạm tội không có sự chuyển hóa tội phạm. Trong các văn bản hướng dẫn gọi trường hợp này là “hành hung để tẩu thoát”.

Theo Bộ luật Hình sự hiện hành, tình tiết hành hung để tẩu thoát được quy định là tình tiết định khung tăng nặng đối với một số tội phạm như tội "Cướp giật tài sản" (điểm đ khoản 2 Điều 171), tội "Công nhiên chiếm đoạt tài sản" (điểm b khoản 2 Điều 172), tội "Trộm cắp tài sản" (điểm đ khoản 2 Điều 173). Tuy nhiên, không đưa ra định nghĩa thế nào là hành hung để tẩu thoát. Theo hướng dẫn tại Mục 6 Thông tư liên tịch số 02/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP ngày 25/12/2001 hướng dẫn một số quy định về các tội xâm phạm sở hữu, khi áp đụng tình tiết "hành hung để tẩu thoát" cần chú ý:

“6.1. Phạm tội thuộc trường hợp "hành hung để tẩu thoát" là trường hợp mà người phạm tội chưa chiếm đoạt được tài sản hoặc đã chiếm đoạt được tài sản, nhưng bị phát hiện và bị bắt giữ hoặc bị bao vây bắt giữ thì đã có những hành vi chống trả lại người bắt giữ hoặc người bao vây bắt giữ như đánh, chém, bắn, xô ngã... nhằm tẩu thoát”.

Tuy nhiên, Thông tư cũng hướng dẫn: “6.2. Nếu người phạm tội chưa chiếm đoạt được tài sản hoặc đã chiếm đoạt được tài sản, nhưng đã bị người bị hại hoặc người khác giành lại, mà người phạm tội tiếp tục dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực ngay tức khắc tấn công người bị hại hoặc người khác nhằm chiếm đoạt cho được tài sản, thì trường hợp này không phải là "hành hung để tẩu thoát" mà đã có đầy đủ các dấu hiệu cấu thành tội 'Cướp tài sản'”.

Tham khảo thêm Nghị quyết số 01-HĐTP/NQ ngày 19/4/1989 hướng dẫn Bộ luật Hình sự 1985 tại Mục VII - Về việc chuyển hóa từ một số hình thức "Chiếm đoạt tài sản" thành "Cướp tài sản" từ thực tiễn xét xử cho thấy:

“a) Nếu là trường hợp do chưa chiếm đoạt được tài sản mà kẻ phạm tội dùng vũ lực hay đe dọa dùng ngay tức khắc vũ lực để chiếm đoạt tài sản cho bằng được thì cần định tội là cướp tài sản…

b) Nếu là trường hợp kẻ phạm tội đã chiếm đoạt được tài sản rồi, nhưng chủ tài sản họăc người khác đã lấy lại được tài sản đó hoặc đang giành giật tài sản còn ở trong tay kẻ phạm tội, mà kẻ phạm tội dùng vũ lực, hoặc đe dọa dùng ngay tức khắc vũ lực để chiếm đoạt tài sản cho bằng được, thì cần định tội là "Cướp tài sản"…

Đối với các trường hợp trên đây chỉ cần kết án kẻ phạm tội về một tội là cướp tài sản… và coi việc chiếm đoạt (chưa thành hoặc đã thành) trước khi dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng ngay tức khắc vũ lực là tình tiết diễn biến của tội phạm.

c) Nếu việc dùng vũ lực (hoặc đe dọa dùng vũ lực) là nhằm để tẩu thoát (kể cả khi tẩu thoát cùng với tài sản đã chiếm đoạt được), thì không kết án kẻ phạm tội về cướp tài sản…, và tùy trường hợp mà kết án họ về tội phạm xảy ra trước khi dùng vũ lực (hoặc đe dọa dùng vũ lực) và coi việc dùng vũ lực (hoặc đe dọa dùng vũ lực) là tình tiết “hành hung để tẩu thoát” (tình tiết định khung hình phạt cao hơn theo các Điều 131, 132, 154, 155 Bộ luật Hình sự). Nếu việc dùng vũ lực dẫn tới hậu quả làm chết người thì kẻ phạm tội bị kết án thêm về tội "Giết người". Nếu hậu quả của việc dùng vũ lực là gây cố tật nặng hoặc gây thương tích dẫn đến chết người thì kẻ phạm tội bị kết án thêm về tội "Cố ý gây thương tích" theo khoản 3 Điều 109 Bộ luật Hình sự”.

Thực tiễn cho thấy rất nhiều trường hợp mặc dù người phạm tội không có chủ định cướp tài sản mà chỉ có ý định trộm cắp nhưng hành vi của người phạm tội này vẫn bị truy tố với tội "Cướp tài sản".

Ví dụ: A lén lút đột nhập vào nhà của ông B bà C vào buổi đêm. A cạy tủ và lấy được 01 sợi dây chuyền vàng trị giá 5000 USD. Trên đường tẩu thoát khỏi nhà, A vô tình làm rớt 01 cái ly khiến cho ông B thức giấc và phát hiện hành vi trộm cắp của A. Ông B giật lại sợi dây chuyền trên tay A rồi kéo áo không cho A chạy. A liền thả tay khỏi sợi dây chuyền rồi đánh một cái vào tay ông B và nhanh chóng tẩu thoát.

Có thể thấy rằng, trong trường hợp trên, mục đích của A không còn nhằm chiếm đoạt tài sản nữa, A đã bỏ lại tài sản và việc hành hung ông B chỉ đơn thuần để giúp A có thể tẩu thoát. Do vậy, hành vi của A chỉ cấu thành tội "Trộm cắp tài sản" với tình tiết tăng nặng là “Hành hung để tẩu thoát”. Tuy nhiên, cũng tình huống trên nhưng nếu A vẫn bằng mọi cách để giật lại sợi dây chuyền trên, đồng thời đánh đấm ông A để chiếm đoạt cho bằng được tài sản thì hành vi của A không còn thuộc nội hàm của tội "Trộm cắp tài sản" mà đã được chuyển hóa thành tội "Cướp tài sản".

Các trường hợp tương tự nêu trên là đối với diễn biến hành vi có tính chất tương đối rõ ràng. Tuy nhiên, trên thực tế có những trường hợp diễn biến hành vi của tội phạm thể hiện ranh giới giữa mục đích chiếm đoạt cho bằng được tài sản và hành hung để tẩu thoát không rõ ràng và mong manh thì việc định tội danh còn mang tính chất quan điểm và việc áp dụng pháp luật trên thực tế là không thống nhất giữa các cơ quan tiến hành tố tụng.

Ví dụ: A trú tại TP. Vinh, lợi dụng tình hình dịch bệnh Covid-19, đêm tối sử dụng xe máy tiếp cận với người đi đường với mục đích giật điện thoại và túi xách. Khi đi đến khu vực đoạn đường 46 thuộc xã Nghi Ân, quan sát thấy chị N đang đi từ hướng Cửa Lò đến ngã tư sân bay, A liền đi xe áp sát giật túi xách của chị N quàng vào cổ rồi tăng ga bỏ chạy, chị N liền hô hoán và chạy tới nắm lấy càng sau xe máy của A. Thấy nhiều người đi đường dừng lại, A trong lúc lo sợ liền dùng chân đạp vào người chị N khiến chị N ngã ra đường và sau đó tiếp tục tăng ga tẩu thoát.

Xung quanh hành vi của A còn có nhiều quan điểm khác nhau về tội danh. Quan điểm thứ nhất cho rằng hành vi của A đã có sự chuyển hóa tội danh từ "Cướp giật tài sản" thành "Cướp tài sản" bởi vì sau khi giật được túi xách, A đã có hành vi sử dụng vũ lực đối với nạn nhân nhằm chiếm bằng được tài sản và tẩu thoát, căn cứ theo hướng dẫn tại tiểu mục 6.2 Mục 6 Thông tư liên tịch số 02/2001 thì A phạm tội "Cướp tài sản". Quan điểm thứ hai cho rằng hành vi của A chưa chuyển hóa thành tội "Cướp tài sản", bởi vì sau khi giật được túi xách từ chị N, A đã quàng vào cổ và việc A trong lúc lo sợ đã dùng chân đạp vào người chị N nhằm mục đích là để tẩu thoát chứ không phải nhằm mục đích giữ cho bằng được tài sản, căn cứ theo hướng dẫn tại tiểu mục 6.1 Mục 6 Thông tư liên tịch số 02/2001 thì A phạm tội "Cướp giật tài sản".

Như vậy, theo tinh thần hướng dẫn tại Nghị quyết số 01-HĐTP/NQ ngày 19/4/1989 và Thông tư liên tịch số 02/2001 cần lưu ý đối với tình tiết “hành hung để tẩu thoát”, trường hợp tội phạm đang thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, công nhiên chiếm đoạt tài sản, cướp giật tài sản… mà bị phát hiện, người phạm tội dùng vũ lực nhằm tẩu thoát, không nhằm mục đích giữ tài sản thì trong trường hợp này tội phạm không chuyển hóa.

Trong trường hợp này áp dụng tình tiết tăng nặng “Hành hung để tẩu thoát” đối với các tội danh đã thực hiện. Nói cách khác, người thực hiện hành vi phạm tội sử dụng vữ lực nhằm thoát khỏi sự truy đuổi hoặc chống cự của chủ tài sản mà không có ý định giữ bằng được tài sản đã trộm cắp, chiếm đoạt được thì không được coi là chuyển hóa tội phạm. Ngược lại, trường hợp người phạm tội sau khi chiếm đoạt được tài sản hoặc chưa chiếm đoạt được tài sản đã có hành vi sử dụng vũ lực đối với nạn nhân để nhằm lấy, giữ, chiếm đoạt cho bằng được tài sản thì tội phạm đã được chuyển hóa sang một mức nguy hiểm hơn.

Tuy nhiên, trên thực tế có những trường hợp mục đích và hành vi giữa "Cố chiếm giữ cho bằng được tài sản" và "Hành hung tẩu thoát" thường không rõ ràng như trường hợp ví dụ nêu trên và một số trường hợp như hành vi ăn trộm chó sau khi bị phát hiện người phạm tội thực hiện hành vi chống trả lại chủ nhà và tẩu thoát, hành vi vi này cũng còn có nhiều quan điểm khác nhau về chuyển hóa tội danh. Việc áp dụng như tinh thần hướng dẫn tại Thông tư liên tịch số 02/2001 còn có nhiều quan điểm khác nhau giữa các cơ quan tiến hành tố tụng.

Do đó, cần thiết phải ban hành văn bản hướng dẫn của cơ quan có thẩm quyền để hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật trong trường hợp chuyển hóa tội phạm như trên.

Mọi vướng mắc về các vấn đề pháp lý liên quan đến bài viết , Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến qua tổng đài.

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê

Công Ty Luật Minh Khuê xin cảm ơn!!