Trong quãng thời gian đó anh ấy vẫn mượn xe của em bình thường. Nhưng em vừa cho anh ấy mượn giấy tờ xe ngày 23/06/2016 thì ngày 24/06/2016 anh ấy mang xe đi cắm, giá 9 triệu. Lúc tối em hỏi anh ấy xe đâu thì anh ấy nói bị công an hải dương bắt, thu xe lúc chiều nên đưa giấy tờ cho người nhà để nhờ lấy xe ra. sau 2 tuần em nằng nặc đòi anh ấy đến công an lấy xe thì anh ấy ko chịu, nói anh ấy sẽ tự đi lấy. khoảng tối ngày 8/06/2016 thì anh ấy nói là bạn anh ấy mượn xe đi cắm do cá cược bóng đá, em rất hoảng loạn, và khóc lóc, anh ấy nói chờ anh ấy vài ngày nữa anh ấy lo tiền rồi lấy ra. em chờ đợi nhưng anh ấy vẫn chưa thấy lấy. anh ấy nói sẽ đi làm và lấy xe ra cho em và đến giờ anh ấy vẫn nói thế. anh ấy chưa từng phủ nhận là sẽ ko lấy xe mà cứ nói nợ như thế. ngày 24/06/2016 sẽ đến hạn 1 tháng là chủ quán sẽ thanh lý xe rồi. xin anh chị hãy cho em lời khuyên lấy xe và đọc những điều luật nào để xử lý việc này ?

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn pháp luật hình sựcủa công ty Luật Minh Khuê.

 Luật sư tư vấn pháp luật doanh nghiệp trực tuyến,gọi: 1900.6162

 

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi tới thư mục tư vấn của công ty chúng tôi, với câu hỏi của bạn chúng tôi xin trả lời như sau:

Cơ sở pháp lý:

Bộ luật Dân sự năm 2005

Bộ Luật hình sự năm 1999;

Bộ luật hình sự sửa đổi, bổ sung 2009;

>> Xem thêm:  Thuê xe tự lái và gây tai nạn giao thông phải chịu trách nhiệm thế nào ?

Nội dung trả lời:

Theo thông tin bạn cung cấp, bạn cho người yêu mượn xe và đưa người này cả giấy tờ xe nhưng người này đã lợi dụng điều đó để mang xe của bạn đi cắm - mang đi cầm cố tại tiệm cầm đồ. Theo quy định tại điều 326 Bộ Luật dân sự năm 2005 có quy định: “Cầm cố tài sản là việc một bên (sau đây gọi là bên cầm cố) giao tài sản thuộc quyền sở hữu của mình cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận cầm cố) để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự”.
Hành vi của người yêu bạn là hành vi vi phạm pháp luật. Vì vậy,việc người yêu của bạn đem chiếc xe của bạn đi ra hiệu cầm đồ cầm cố tài sản đó là một giao dịch dân sự vô hiệu.
Theo quy định tại điều 137 của Bộ luật dân sự thì: “ Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu  
1. Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm xác lập.
2. Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận; nếu không hoàn trả được bằng hiện vật thì phải hoàn trả bằng tiền, trừ trường hợp tài sản giao dịch, hoa lợi, lợi tức thu được bị tịch thu theo quy định của pháp luật. Bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường."

Trường hợp người này cố tình dây dưa, không trả lại chiếc xe cho bạn thì bạn có thể làm đơn tố cáo người này với cơ quan công an do hành vi cầm cố xe của người kia là hành vi vi phạm pháp luật.  Bạn sẽ cùng cán bộ công an và người yêu của bạn đi đến cửa hiệu cầm đồ đó đưa ra những bằng chứng, giấy tờ để chứng tỏ rằng xe đó là xe của bạn, yêu cầu cửa hiệu cầm đồ trả lại xe cho bạn.

Theo quy định tại điều 140 bộ Luật hình sự 1999 sửa đổi bổ sung 2009, người này có thể phải chịu trách nhiệm hình sự với tội lạm dụng tín nhiệm, chiếm đoạt tài sản, cụ thể:

Điều 140. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản 

1. Người nào có một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ một triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới một triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm:
 a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó;
 b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:
a) Có tổ chức;
b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;
c) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;
d) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ trên năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;
đ) Tái phạm nguy hiểm;
e) Gây hậu quả nghiêm trọng.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:
a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;
b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.
4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:
a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;
b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm và bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản hoặc một trong hai hình phạt này.

 

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Bị công an giữ bằng lái xe sau 1 năm có lấy lại được không ?

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Luật sư Tư vấn pháp luật Hình sự.

>> Xem thêm:  Quan hệ tình dục với bé gái 17 tuổi có phải chịu trách nhiệm hình sự ?