1. Khái quát chung

STT Tội ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu hoặc ngưòi có công nuôi dưỡng mình Tội từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng
1
Điều 185. Tội ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vọ chồng, con, cháu hoặc ngưòi có công nuôi dưỡng mình
1. Người nào đối xử tôi tệ hoặc có hành vi bạo lực xâm phạm thân thế ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu hoặc người có công nuôi dưỡng mình thuộc một trong những trường họp sau đây, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Thường xuyên làm cho nạn nhân bị đau đớn về thế xác, tỉnh thần;
b) Đã bị xửphạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 05 năm:
a) Đổi với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu;
b) Đổi với người khuyết tật nặng, khuyết tật đặc biệt nặng hoặc người mac bệnh hiểm nghèo.
Điều 186. Tội từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng
Người nào có nghĩa vụ cấp dưỡng và có khả năng thực tế để thực hiện việc cấp dưỡng đổi với người mà mình có nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định của pháp luật mà từ chổi hoặc tron tránh nghĩa vụ cấp dưỡng, làm cho người được cấp dưỡng lãm vào tĩnh trạng nguy hiểm đến tỉnh mạng, sức khỏe hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chỉnh về một trong các hành vi quy định tại Điểu này mà còn vi phạm, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điểu 380 của Bộ luật này, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.
2 Điều 185 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi 2017 Điều 186 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi 2017

Hành vi nguọc đãi ông bà, bố mẹ và trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng cấu thành tội khi nào?

>> Luật sư tư vấn pháp luật hình sự, gọi: 1900.6162

2. Phân tích các đặc điểm của tội danh

2.1 Tội ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vọ chồng, con, cháu hoặc ngưòi có công nuôi dưỡng mình

Điều luật gồm 2 khoản. Trong đó, khoản 1 quy định dấu hiệu pháp lý và khung hình phạt cơ bản của tội ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu hoặc người có công nuôi dưỡng mình; khoản 2 quy định cảc trường họp phạm tội tăng nặng.

2.1.1 Dấu hiệu chủ thể của tội phạm

Chủ thể của tội này là những người có mối quan hệ về hôn nhân hoặc gia đình đối với nạn nhân (trong phạm vi điều luật quy định) hoặc là người được nạn nhân nuôi dưỡng và theo Điều 12 BLHS là người từ đủ 16 tuổi trở lên vì tội này không thuộc các tội mà tuổi chịu trách nhiệm hình sự có thể từ đủ 14 tuổi trở lên được liệt kê tại khoản 2 Điều 12 BLHS. 
Theo quy định của điều luật, chủ thể của tội này (trong trường hợp nhất định)  còn đòi hỏi là người đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi được liệt kê tại khoản 1 của điều luật và được bình luận trong phần tiếp theo về dấu hiệu hành vi khách quan của tội phạm.

2.1.2 Dấu hiệu hành vi khách quan của tội phạm

Hành vi khách quan của tội này được quy định có thể là:
+ Hành vi đối xử tồi tệ với nạn nhân: Đây là hành vi đối xử với nạn nhân xấu hơn nhiều so với điều kiện có thể về các mặt sinh hoạt hàng ngày, như cho ăn đói, mặc rách, bắt làm việc nặng nhọc quá sức...
+ Hành vi bạo lực xâm phạm thân thể nạn nhân: Đây là hành vi sử dụng bạo lực xâm phạm thân thể nạn nhân như đánh, trói V.V.. nạn nhân.
Đối tượng xâm hại của các hành vi nêu trên hay nạn nhân của tội phạm này được quy định là:
+ Ông bà: Có thể là ông bà nội, ông bà ngoại;
+ Cha mẹ: Có thể là cha mẹ đẻ, cha mẹ nuôi, cha dượng, mẹ kế, cha mẹ chồng, cha mẹ vợ;
+ Vợ chồng theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình;
+ Cháu: Có thể là cháu nội, cháu ngoại.
+ Người có công nuôi dưỡng mình: Là người đã hoặc đang nuôi dưỡng người có hành vi xâm hại mà không phải là người có quan hệ gia đình nêu trên.
- Dấu hiệu phân biệt giữa hành vi đối xử tồi tệ hoặc hành vi bạo lực xâm phạm thân thể ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu hoặc người có công nuôi dưỡng mĩnh bị coi là tội phạm với hành vi đối xử tồi tệ hoặc có hành vỉ bạo lực xâm phạm thân thể ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu hoặc người có công nuôi dưỡng mĩnh chỉ bị coi là vỉ phạm
Hành vi đối xử tồi tệ hoặc hành vi bạo lực xâm phạm thân thể ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu hoặc người có công nuôi dưỡng mình cấu thành tội ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu hoặc người có công nuôi dưỡng mình khi thỏa mãn một trong hai dấu hiệu sau:
+ Thứ nhất, thường xuyên làm cho nạn nhân bị đau đớn về thể xác, tinh thần: Đây là trường hợp do thực hiện thường xuyên hành vi đối xử tồi tệ hoặc hành vi bạo lực xâm phạm thân thể nạn nhân nên chủ thể làm cho nạn nhân luôn bị giày vò về tình cảm, đau khổ về tinh thần, đau đớn về thể xác và phàn nào bị tổn hại đến sức khoẻ.
+ Thứ hai, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu hoặc người có công nuôi dưỡng mình mà còn vi phạm.
Neu hành vi đối xử tồi tệ hoặc hành vi bạo lực xâm phạm thân thể không thuộc trường họp thứ nhất, thì hành vi này chỉ cấu thành tội phạm khi chủ thể đã bị xử phạt vi phạm hành chính. Khi đó, “đã bị xử phạt vi phạm hành chính” được coi là một dấu hiệu của chủ thể của tội phạm.

2.1.3 Dấu hiệu lỗi của chủ thể

Lỗi của chủ thể được quy định là lỗi cố ý. Chủ thể biết mối quan hệ giữa mình với nạn nhân (như điều luật quy định) khi thực hiện hành vi đối xử tồi tệ hoặc hành vi bạo lực xâm phạm thân thể.

2.1.4 Hình phạt

Khoản 1 của điều luật quy định khung hình phạt cơ bản là phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
Khoản 2 của điều luật quy định khung hình phạt tăng nặng có mức phạt tù từ 02 năm đến 05 năm được áp dụng cho trường họp phạm tội có một trong các tình tiết định khung hình phạt tăng nặng sau:
- (Phạm tội) Đổi với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu: Đây là trường hợp phạm tội mà nạn nhân thuộc đối tượng cần được quan tâm và bảo vệ đặc biệt. Trong trường hợp nạn nhân là phụ nữ có thai, điều luật đòi hỏi chủ thể biết việc này.
- (Phạm tội) Đổi với người khuyết tật nặng, khuyết tật đặc biệt nặng hoặc người mẳc bệnh hiểm nghèo: Đây là trường hợp phạm tội mà nạn nhân cũng thuộc đối tượng cần được quan tâm và bảo vệ đặc biệt. Trong đó, “Người khuyết tật nặng là người do khuyết tật dan đến không thế tự thực hiện một số việc phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày “Người khuyết tật đặc biệt nặng là người do khuyết tật dẫn đến không thể tự thực hiện việc phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày”;(54/) Người mắc bệnh hiểm nghèo là người đang bị bệnh nguy hiểm đến tính mạng, khó có phương thức chữa trị như ung thư giai đoạn cuối, xơ gan cổ chướng, lao nặng độ 4 kháng thuốc, bại liệt, suy tim độ 3, suy thận độ 4 trở lên; HIV giai đoạn AIDS đang có các nhiễm trùng cơ hội không có khả năng tự chăm sóc bản thân và có nguy cơ tử vong cao.   

2.2 Tội từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng

2.2.1 Dấu hiệu chủ thể của tội phạm

Chủ thể của tội từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng đòi hỏi phải là người có nghĩa vụ cấp dưỡng theo pháp luật hôn nhân và gia đình và theo Điều 12 BLHS là người từ đủ 16 tuổi trở lên vì tội này không thuộc các tội mà tuổi chịu trách nhiệm hình sự có thể từ đủ 14 tuổi trở lên được liệt kê tại khoản 2 Điều 12 BLHS. 
Theo quy định của điều luật, chủ thể của tội này (trong trường hợp nhất định)  còn đòi hỏi là người đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi được liệt kê tại điều luật và được bình luận trong phần tiếp theo về dấu hiệu hành vi khách quan của tội phạm.

2.2.2 Dẩu hiệu hành vi khách quan của tội phạm

Hành vi khách quan của tội phạm này được quy định là:
+ Hành vi từ chối nghĩa vụ cấp dưỡng: Đây là hành vĩ không thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng như cố tình không chịu góp tiền, tài sản để cấp dưỡng...
+ Hành vi trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng: Là hành vi tìm mọi cách lảng tránh nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định của pháp luật, biểu hiện bằng việc bỏ đi nơi khác và cố ý giấu địa chỉ hoặc cố tình dây dưa không chịu thực hiện việc cấp dưỡng...
Hành vi từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng là hành vi dưới dạng không hành động. Do vậy, điều luật đòi hỏi:
+ Chủ thể là người có “nghĩa vụ cấp dưỡng” theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình và
+ Chủ thể phải có “khả năng thực tế” để thực hiện việc cấp dưỡng.
Dấu hiệu “nghĩa vụ cấp dưỡng” ở đây được hiểu là “nghĩa vụ đóng góp tiền hoặc tài sản khác để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của người không sống chung với mình mà có quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng trong trường hợp người đó là người chưa thành niên, người đã thành niên mà không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình .. .”. 
Theo quy định tại các điều từ Điều 110 đến Điều 115 của Luật hôn nhân và gia đình, nghĩa vụ cấp dưỡng có thể được đặt ra giữa:
+ Cha, mẹ và con;
+ Anh, chị, em với nhau;
+ Ông bà nội, ông bà ngoại và cháu;
+ Cô, dì, chú, cậu, bác ruột và cháu ruột;
+ Vợ và chồng khi ly hôn.
Dấu hiệu “khả năng thực tế” ở đây được hiểu là khả năng có thực về kinh tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng như có tiền, tài sản hoặc thu nhập có khả năng bảo đảm cuộc sống của gia đình với mức sống trung bình ở địa phương và thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng.

2.2.3 Dấu hiệu loi của chủ thể

Lỗi của chủ thể được quy định là lỗi cố ý. Chủ thể biết mình có nghĩa vụ cấp dưỡng nhưng không thực hiện nghĩa vụ này.
- Dấu hiệu phân biệt giữa hành vi từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng bị coi là tội phạm với hành vi từ chói hoặc trôn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng .chỉ bị coi là vi phạm
Hành vi từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng cấu thành tội từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng khi thỏa mãn một trong hai dấu hiệu sau:
+ Thứ nhất, làm cho người được cấp dưỡng lâm vào tình trạng nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe: Đây là trường hợp do không nhận được sự cấp dưỡng của người phạm tội nên ngưởi được cấp dưỡng lâm vào tình trạng thiếu ăn, thiếu mặc, thiếu thuốc chữa bệnh V.V.. nên sức khỏe và có thể cả tính mạng bị đe dọa.
+ Thứ hai, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng mà còn vi phạm.
Nếu hành vi từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng không thuộc trường họp thứ nhất, thì hành vi này chỉ cấu thành tội phạm khi chủ thể đã bị xử phạt vi phạm hành chính. Khi đó, “đã bị xử phạt vi phạm hành chính” được coi là một dấu hiệu của chủ thể của tội phạm.
Ngoài ra, điều luật còn quy định, hành vi từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng là hành vi phạm tội của tội từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng khi không thuộc trường hợp được quy định tại Điều 380 BLHS. Đây là trường họp đã có bản án hoặc quyết định của toà án buộc người có nghĩa vụ cấp dưỡng phải thực hiện nghĩa vụ của mình mà người này vẫn không chấp hành tuy có điều kiện chấp hành mặc dù đã bị áp dụng biện pháp cưỡng chế cần thiết. Khi đó, hành vi không cấu thành tội từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng mà cấu thành tội không chấp hành án (Điều 380 BLHS).
Điều luật quy định khung hình phạt là: Phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.
Trân trọng!
Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê