1. Trách nhiệm khi đơn phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật như thế nào ?

Thưa Luật sư. Tôi đang làm ở một công ty A, nhưng do lương và các chế độ khác rất không tốt nên hiện tại em đang muốn nghỉ việc nhưng đã viết đơn xin nghỉ nhưng vẫn chưa được cho nghỉ, em thì không muốn tiếp tục đi làm nữa, vậy em nghỉ ngang được không? Hậu quả của việc nghỉ ngang là gì?
Rất mong Luật sư tư vấn. Xin chân thành cảm ơn Luật sư.

Quyền lợi của người lao động khi bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động ?

Luật sư tư vấn pháp luật Lao động, gọi: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

Nghỉ ngang là câu nói dân gian của người lao động, theo quy định của Bộ Luật lao động việc nghỉ ngang được goi là hành vi người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật.

Căn cứ theo điều 43 Bộ Luật lao động năm 2012 quy định như sau:

Điều 43. Nghĩa vụ của người lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật

1. Không được trợ cấp thôi việc và phải bồi thường cho người sử dụng lao động nửa tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.

2. Nếu vi phạm quy định về thời hạn báo trước thì phải bồi thường cho người sử dụng lao động một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước.

3. Phải hoàn trả chi phí đào tạo cho người sử dụng lao động theo quy định tại Điều 62 của Bộ luật này.

Vậy khi người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật (nghỉ ngang) sẽ phải có các nghĩa vụ (hậu quả) sau:

- Không được trợ cấp thôi việc.

- Phải bồi thường cho người sử dụng lao động nửa tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.

- Bồi thường một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước.

- Phải hoàn trả chi phí đào tạo cho người sử dụng lao động (nếu được cử đi đào tạo).

Ngoài ra khi nghỉ ngang (đơn phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật) thì bạn không đủ điều kiện để hưởng bảo hiểm thất nghiệp,... theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội.

Nếu hiện tại bạn đang làm trong công ty nước ngoài (Hàn Quốc, Nhật Bản,...) khi bạn nghỉ ngang (đơn phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật) thì hồ sơ của bạn vẫn sẽ được Công ty giữ lại và sau này bạn muốn tiếp tục xin vào các công ty đó sẽ được coi là hồ sơ xấu, có thể bạn sẽ không được tuyển dụng.

Như vậy: Việc nghỉ ngang hay còn gọi là đơn phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật sẽ có hậu quả rất xấu về sau. Nên nếu muốn nghỉ việc thì bạn hoàn toàn có thể thỏa thuận xin nghỉ việc hoặc chấm dứt hợp đồng đúng theo quy định pháp Luật.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi, Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi ngay số: 1900.6162 để được giải đáp. Rất mong nhận được sự hợp tác! Trân trọng./.

2. Quyền lợi của người lao động khi bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động ?

Thưa luật sư, tôi là người lao động của công ty A, tôi làm việc với công ty A theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn. Tuy nhiên vào tháng 8/2016 công ty A đã chấm dứt hợp đồng lao động với tôi mà không có bất kỳ một lý do gì đồng thời cũng không có thời gian báo trước. Như vậy công ty A làm có sai luật không ? Nếu công ty A làm sai thì tôi có những quyền lợi gì ? Nếu tôi kiện công ty A thì tôi có thắng không ?
Xin cảm ơn!

Trả lời:

Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đề nghị tư vấn đến Công ty Luật Minh Khuê, trường hợp của bạn chúng tôi tư vấn như sau:

Bạn thuộc trường hợp người lao động làm việc theo hợp đồng không xác định thời hạn nên theo quy định tại khoản 2 Điều 38 Bộ Luật Lao Động năm 2012 quy định về thời gian thông báo trước khi cho người lao động nghỉ: Công ty phải có trách nhiệm thông báo trước cho bạn 45 ngày trước khi chấm dứt hợp đồng lao động với bạn.

Việc công ty tự ý cho bạn nghỉ việc không báo trước cũng như chưa đưa ra được lí do chính đáng thì công ty của bạn đã vi phạm quy định của pháp luật, hành vi của công ty bạn thuộc trường hợp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái với quy định pháp luật. Công ty bạn phải có nghĩa vụ như sau, Điều 42 Bộ Luật Lao động năm 2012 quy định :

1. Phải nhận người lao động trở lại làm việc theo hợp đồng lao động đã giao kết và phải trả tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế trong những ngày người lao động không được làm việc cộng với ít nhất 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.

2. Trường hợp người lao động không muốn tiếp tục làm việc, thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này người sử dụng lao động phải trả trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật này.

3. Trường hợp người sử dụng lao động không muốn nhận lại người lao động và người lao động đồng ý, thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này và trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật này, hai bên thỏa thuận khoản tiền bồi thường thêm nhưng ít nhất phải bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động để chấm dứt hợp đồng lao động.

4. Trường hợp không còn vị trí, công việc đã giao kết trong hợp đồng lao động mà người lao động vẫn muốn làm việc thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này, hai bên thương lượng để sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động.

5. Trường hợp vi phạm quy định về thời hạn báo trước thì phải bồi thường cho người lao động một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước.”

Nếu bạn khởi kiện , bạn có thể thắng kiện và được đền bù với những nghĩa vụ mà công ty phải thực hiện khi làm sai quy định của pháp luật đã nêu trên.

Trân trọng cảm ơn./.

3. Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động vì áp lực công việc

Luật sư tư vấn:

Theo quy định tại Điều 37 Bộ luật lao động 2012 về quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng của người lao động:

"1. Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn, hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn trong những trường hợp sau đây:

a) Không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm điều kiện làm việc đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;

b) Không được trả lương đầy đủ hoặc trả lương không đúng thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;

c) Bị ngược đãi, quấy rối tình dục, cưỡng bức lao động;

d) Bản thân hoặc gia đình có hoàn cảnh khó khăn không thể tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động;

đ) Được bầu làm nhiệm vụ chuyên trách ở cơ quan dân cử hoặc được bổ nhiệm giữ chức vụ trong bộ máy nhà nước;

e) Lao động nữ mang thai phải nghỉ việc theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền;

g) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 90 ngày liên tục đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và một phần tư thời hạn hợp đồng đối với người làm việc theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa được hồi phục.

... "

Như vậy, đối với việc bạn muốn đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động xác định thời hạn thì bạn phải báo trước cho bên sử dụng lao động trước 30 ngày thì mới không bị coi là vi phạm nghĩa vụ hợp đồng lao động. Về việc để có thể chứng minh bản thân không thể tiếp tục công việc được thì theo quy định trên bạn chỉ cần chứng minh được việc mình ốm đau và đã điều trị 90 ngày liên tục tại cơ sở khám chữa bệnh mà chưa hồi phục thì có thể đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, sau khi bạn điều trị xong thì sẽ có hồ sơ bệnh án hoặc giấy xuất viện, những giấy tờ này sẽ là căn cứ chứng minh việc bạn có quyền chấm dứt hợp đồng lao động do không đảm bảo về sức khỏe. Ngoài ra, khi bạn chấm dứt hợp đồng lao động với công ty thì công ty sẽ phải có trách nhiệm chốt sổ và trả lại sổ bảo hiểm xã hội cho bạn, căn cứ quy định tại Điều 21 Luật bảo hiểm xã hội 2014 về trách nhiệm của người sử dụng lao động:

"1. Lập hồ sơ để người lao động được cấp sổ bảo hiểm xã hội, đóng, hưởng bảo hiểm xã hội.

2. Đóng bảo hiểm xã hội theo quy định tại Điều 86 và hằng tháng trích từ tiền lương của người lao động theo quy định tại khoản 1 Điều 85 của Luật này để đóng cùng một lúc vào quỹ bảo hiểm xã hội.

3. Giới thiệu người lao động thuộc đối tượng quy định tại điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 45 và Điều 55 của Luật này đi khám giám định mức suy giảm khả năng lao động tại Hội đồng giám định y khoa.

4. Phối hợp với cơ quan bảo hiểm xã hội trả trợ cấp bảo hiểm xã hội cho người lao động.

5. Phối hợp với cơ quan bảo hiểm xã hội trả sổ bảo hiểm xã hội cho người lao động, xác nhận thời gian đóng bảo hiểm xã hội khi người lao động chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc hoặc thôi việc theo quy định của pháp luật.

... ".

Theo quy định tại Điều 47 Bộ luật lao động 2012 Trách nhiệm của người sử dụng lao động khi chấm dứt hợp đồng lao động như sau:

"Điều 47. Trách nhiệm của người sử dụng lao động khi chấm dứt hợp đồng lao động

1. Ít nhất 15 ngày trước ngày hợp đồng lao động xác định thời hạn hết hạn, người sử dụng lao động phải thông báo bằng văn bản cho người lao động biết thời điểm chấm dứt hợp đồng lao động.

2. Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động, hai bên có trách nhiệm thanh toán đầy đủ các khoản có liên quan đến quyền lợi của mỗi bên; trường hợp đặc biệt, có thể kéo dài nhưng không được quá 30 ngày.

3. Người sử dụng lao động có trách nhiệm hoàn thành thủ tục xác nhận và trả lại sổ bảo hiểm xã hội và những giấy tờ khác mà người sử dụng lao động đã giữ lại của người lao động.

4. Trong trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã bị chấm dứt hoạt động, bị giải thể, phá sản thì tiền lương, trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp và các quyền lợi khác của người lao động theo thoả ước lao động tập thể và hợp đồng lao động đã ký kết được ưu tiên thanh toán".

Trân trọng ./.

4. Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động có được trả sổ bảo hiểm không?

Luật sư tư vấn:

Theo quy định Điều 47 Bộ Luật lao động 2012 như sau:

"Điều 47. Trách nhiệm của người sử dụng lao động khi chấm dứt hợp đồng lao động

1. Ít nhất 15 ngày trước ngày hợp đồng lao động xác định thời hạn hết hạn, người sử dụng lao động phải thông báo bằng văn bản cho người lao động biết thời điểm chấm dứt hợp đồng lao động.

2. Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động, hai bên có trách nhiệm thanh toán đầy đủ các khoản có liên quan đến quyền lợi của mỗi bên; trường hợp đặc biệt, có thể kéo dài nhưng không được quá 30 ngày.

3. Người sử dụng lao động có trách nhiệm hoàn thành thủ tục xác nhận và trả lại sổ bảo hiểm xã hội và những giấy tờ khác mà người sử dụng lao động đã giữ lại của người lao động.

4. Trong trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã bị chấm dứt hoạt động, bị giải thể, phá sản thì tiền lương, trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp và các quyền lợi khác của người lao động theo thoả ước lao động tập thể và hợp đồng lao động đã ký kết được ưu tiên thanh toán."

Như vậy, khi chấm dứt hợp đồng lao động trách nhiệm của người sử dụng lao động là hoàn thành thủ tục xác nhận và trả lại sổ bảo hiểm xã hội và những giấy tờ khác mà người sử dụng lao động đã giữ lại của người lao động.

Theo quy định tại Điều 21 Luật bảo hiểm xã hội 2014 về trách nhiệm của người sử dụng lao động:

"1. Lập hồ sơ để người lao động được cấp sổ bảo hiểm xã hội, đóng, hưởng bảo hiểm xã hội.

2. Đóng bảo hiểm xã hội theo quy định tại Điều 86 và hằng tháng trích từ tiền lương của người lao động theo quy định tại khoản 1 Điều 85 của Luật này để đóng cùng một lúc vào quỹ bảo hiểm xã hội.

3. Giới thiệu người lao động thuộc đối tượng quy định tại điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 45 và Điều 55 của Luật này đi khám giám định mức suy giảm khả năng lao động tại Hội đồng giám định y khoa.

4. Phối hợp với cơ quan bảo hiểm xã hội trả trợ cấp bảo hiểm xã hội cho người lao động.

5. Phối hợp với cơ quan bảo hiểm xã hội trả sổ bảo hiểm xã hội cho người lao động, xác nhận thời gian đóng bảo hiểm xã hội khi người lao động chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc hoặc thôi việc theo quy định của pháp luật.

6. Cung cấp chính xác, đầy đủ, kịp thời thông tin, tài liệu liên quan đến việc đóng, hưởng bảo hiểm xã hội theo yêu cầu của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền, cơ quan bảo hiểm xã hội.

7. Định kỳ 06 tháng, niêm yết công khai thông tin về việc đóng bảo hiểm xã hội cho người lao động; cung cấp thông tin về việc đóng bảo hiểm xã hội của người lao động khi người lao động hoặc tổ chức công đoàn yêu cầu.

8. Hằng năm, niêm yết công khai thông tin đóng bảo hiểm xã hội của người lao động do cơ quan bảo hiểm xã hội cung cấp theo quy định tại khoản 7 Điều 23 của Luật này."

Có thể thấy, khi bạn xin nghỉ việc hay chấm dứt hợp đồng lao động với công ty thì công ty phải có trách nhiệm chốt và trả sổ bảo hiểm cho bạn, tuy nhiên do không rõ bạn nghỉ việc là đúng pháp luật hay do bạn nghỉ ngang trái pháp luật nên nếu bạn nghỉ việc hợp pháp thì có thể yêu cầu công ty trả sổ bảo hiểm cho mình. Nếu bạn nghỉ việc trái pháp luật thì có thể do nguyên nhân đó nên công ty mới chuyển sổ bảo hiểm của bạn đến cơ quan bảo hiểm xã hội. Trong trường hợp này, nếu cơ quan bảo hiểm đang giữ sổ của bạn thì bạn cần xin giấy xác nhận hay giấy giới thiệu đã làm việc ở công ty sau đó mang các giấy tờ chứng minh nhân thân tới cơ quan bảo hiểm, cơ quan này sẽ xem xét và xác nhận để trả lại sổ cho bạn, căn cứ quy định tại Điều 23 Luật bảo hiểm xã hội 2014 về trách nhiệm của cơ quan bảo hiểm xã hội:

"1. Tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế.

2. Ban hành mẫu sổ, mẫu hồ sơ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp sau khi có ý kiến thống nhất của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội.

3. Tổ chức thực hiện thu, chi bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật.

4. Cấp sổ bảo hiểm xã hội cho người lao động; quản lý sổ bảo hiểm xã hội khi người lao động đã được giải quyết chế độ hưu trí hoặc tử tuất.

5. Tiếp nhận hồ sơ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế; giải quyết chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế; tổ chức trả lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp đầy đủ, thuận tiện và đúng thời hạn.

6. Hằng năm, xác nhận thời gian đóng bảo hiểm xã hội cho từng người lao động; cung cấp đầy đủ và kịp thời thông tin về việc đóng, quyền được hưởng chế độ, thủ tục thực hiện bảo hiểm xã hội khi người lao động, người sử dụng lao động hoặc tổ chức công đoàn yêu cầu.

7. Hằng năm, cung cấp thông tin về việc đóng bảo hiểm xã hội của người lao động để người sử dụng lao động niêm yết công khai.

... ".

Trân trọng ./.

5. Người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật phải bồi thường thế nào ?

Luật sư tư vấn:

Theo quy định pháp luật, nếu người lao động muốn đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động thì phải báo trước cho người sử dụng lao động trước theo quy định tại khoản 2, 3 Điều 37 Bộ luật lao động 2012 về quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng của người lao động:

" 2. Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại khoản 1 Điều này, người lao động phải báo cho người sử dụng lao động biết trước:

a) Ít nhất 3 ngày làm việc đối với các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và g khoản 1 Điều này;

b) Ít nhất 30 ngày nếu là hợp đồng lao động xác định thời hạn; ít nhất 03 ngày làm việc nếu là hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng đối với các trường hợp quy định tại điểm d và điểm đ khoản 1 Điều này;

c) Đối với trường hợp quy định tại điểm e khoản 1 Điều này thời hạn báo trước cho người sử dụng lao động được thực hiện theo thời hạn quy định tại Điều 156 của Bộ luật này.

3. Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, nhưng phải báo cho người sử dụng lao động biết trước ít nhất 45 ngày, trừ trường hợp quy định tại Điều 156 của Bộ luật này."

Tuy nhiên theo như lời của bạn, bạn đã đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật vì vậy bạn phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 43 Bộ luật lao động 2012 :

"1. Không được trợ cấp thôi việc và phải bồi thường cho người sử dụng lao động nửa tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.

2. Nếu vi phạm quy định về thời hạn báo trước thì phải bồi thường cho người sử dụng lao động một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước.

3. Phải hoàn trả chi phí đào tạo cho người sử dụng lao động theo quy định tại Điều 62 của Bộ luật này."

Tại Điều 47 Bộ luật lao động 2012 quy định về trách nhiệm của người sử dụng lao động khi chấm dứt hợp đồng như sau :

"1. Ít nhất 15 ngày trước ngày hợp đồng lao động xác định thời hạn hết hạn, người sử dụng lao động phải thông báo bằng văn bản cho người lao động biết thời điểm chấm dứt hợp đồng lao động.

2. Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động, hai bên có trách nhiệm thanh toán đầy đủ các khoản có liên quan đến quyền lợi của mỗi bên; trường hợp đặc biệt, có thể kéo dài nhưng không được quá 30 ngày.

3. Người sử dụng lao động có trách nhiệm hoàn thành thủ tục xác nhận và trả lại sổ bảo hiểm xã hội và những giấy tờ khác mà người sử dụng lao động đã giữ lại của người lao động.

4. Trong trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã bị chấm dứt hoạt động, bị giải thể, phá sản thì tiền lương, trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp và các quyền lợi khác của người lao động theo thoả ước lao động tập thể và hợp đồng lao động đã ký kết được ưu tiên thanh toán."

Công ty phải có trách nhiệm chốt sổ bảo hiểm xã hội cho bạn và việc công ty cố tình không trả cho bạn là vi phạm pháp luật, bạn có thể khởi kiện lên tòa án nơi công ty đặt trụ sở để bảo vệ quyền lợi của mình.

Trường hợp bạn muốn làm sổ bảo hiểm xã hội mới thì bạn có thể huỷ sổ bảo hiểm xã hội cũ bằng cách làm đơn đề nghị và cam kết không thừa nhận quá trình tham gia bảo hiểm của mình ở công ty cũ, tức là bạn sẽ hủy 02 tháng đã đóng bảo hiểm xã hội trước đó và không được hưởng chế độ đối với quãng thời gian đóng bảo hiểm này nữa theo quy định tại Công văn 3663/BHXH-THU :

" 5. Trường hợp NLĐ cam kết không thừa nhận quá trình tham gia BHXH, BHTN thì phải trình bày rõ trong Đơn đề nghị (mẫu D01-TS). Cán bộ xử lý nghiệp vụ khóa dữ liệu quá trình đóng BHXH, BHTN bằng phương án KB, KT và lập biên bản hủy sổ tại mục “Hủy có nhiều sổ”. Đơn đề nghị của NLĐ có phê duyệt của Ban Giám đốc BHXH quận, huyện hoặc Lãnh đạo phòng Thu BHXH Thành phố để thay thế cho sổ thu hồi. Trường hợp đặc biệt phải phục hồi lại quá trình đã khóa phương án KB, KT, thì chỉ được thực hiện khi có sự phê duyệt (nơi đã khóa dữ liệu trước đây) của Ban Giám đốc BHXH quận, huyện hoặc lãnh đạo phòng chức năng của Thành phố và đúng theo quy trình phục hồi số sổ đã hủy."

Trân trọng ./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Lao động - Công ty Luật Minh Khuê