Năm 2012 và năm 2014 mổi năm em tăng hệ số lương là 0,18. Hiện nay lương của em đang áp dụng là 2,22. Hàng năm em công tác đều hoàn thành nhiệm vụ và không bị nhắc nhở hay kỉ luật gì cả. Nhưng đến nay thì em nhận được công văn V/v xử lý HĐLĐ (em có gửi file kèm theo).

1.Hiện nay em đang nuôi con nhỏ, em sinh con ngày 30/9/2014. Hiện cơ quan em có công văn như vậy thì em có bị buộc thôi việc không và em được bảo vệ quyền lợi như thế nào?

 2. Em thấy công văn ghi "Về việc HĐLĐ theo Nghị định 68/2000/NĐ-CP ngày 17/11/2000 của Chính phủ làm công tác hổ trợ công chức trong công tác chuyên môn là không đúng quy định pháp luật" Là như thế nào, sao không đúng và bên nào không đúng? Em sinh năm 1985 đến nay em cũng hơn 30 tuổi nên để đi xin lại một công việc khác cũng rất khó khăn và gian nan, trong khi đó chồng con và nhà cửa cũng dần vào ổn định, vậy mà giờ thất nghiệp thì những người như tụi em biết làm thế nào để lo cho cuộc sống hàng ngày bây giờ.

3. Vì sao các cấp chính quyền để một thời gian quá lâu như vậy đến giờ bảo là không đúng, Cấp chính quyền làm việc như thế đã đúng và đủ chưa?

Vậy về quyền lợi và nghĩa vụ đối với hợp đồng tụi em như thế có không đúng không?

Xin mọi người hảy trả lời và tư vấn cho em. Em xin chân thành cảm ơn !

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn Luật Dân sự của Công ty luật Minh Khuê.

>> Luật sư tư vấn luật dân sự gọi:  1900.6162

 

Trả lời:

Chào bạn cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi cho Công ty chúng tôi. Vấn đề của bạn chúng tôi xin được tư vấn như sau:

1. Căn cứ pháp lý:

Bộ luật Lao động năm 2012

Nghị định số 68/2000/NĐ-CP của Chính phủ : Thực hiện chế độ hợp đồng một số loại công việc trong cơ quan hành chính Nhà nước, đơn vị sự nghiệp

2. Nội dung trả lời:

1. Căn cứ vào Điều 155 Bộ luật Lao động có quy định như sau:

Điều 155. Bảo vệ thai sản đối với lao động nữ

1. Người sử dụng lao động không được sử dụng lao động nữ làm việc ban đêm, làm thêm giờ và đi công tác xa trong các trường hợp sau đây:

a) Mang thai từ tháng thứ 07 hoặc từ tháng thứ 06 nếu làm việc ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo;

b) Đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi.

2. Lao động nữ làm công việc nặng nhọc khi mang thai từ tháng thứ 07, được chuyển làm công việc nhẹ hơn hoặc được giảm bớt 01 giờ làm việc hằng ngày mà vẫn hưởng đủ lương.

3. Người sử dụng lao động không được sa thải hoặc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đối với lao động nữ vì lý do kết hôn, mang thai, nghỉ thai sản, nuôi con dưới 12 tháng tuổi, trừ trường hợp người sử dụng lao động là cá nhân chết, bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc là đã chết hoặc người sử dụng lao động không phải là cá nhân chấm dứt hoạt động.

4. Trong thời gian mang thai, nghỉ hưởng chế độ khi sinh con theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội, nuôi con dưới 12 tháng tuổi, lao động nữ không bị xử lý kỷ luật lao động.

5. Lao động nữ trong thời gian hành kinh được nghỉ mỗi ngày 30 phút; trong thời gian nuôi con dưới 12 tháng tuổi, được nghỉ mỗi ngày 60 phút trong thời gian làm việc. Thời gian nghỉ vẫn được hưởng đủ tiền lương theo hợp đồng lao động.

Theo thông tin bạn cung cấp cho chúng tôi thì bạn đang nuôi con tính đến thời điểm hiện nay ( tháng 10 năm 2015) thì con bạn đã hơn 1 tuổi. Như vậy theo quy định tại Điều 155 (như trên) thì cơ quan bạn có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với bạn. Tuy nhiên căn cứ vào Điều 36 và Điều 38 Bộ luật Lao động có quy định:

Điều 36. Các trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động

1. Hết hạn hợp đồng lao động, trừ trường hợp quy định tại khoản 6 Điều 192 của Bộ luật này.

2. Đã hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động.

3. Hai bên thoả thuận chấm dứt hợp đồng lao động.

4. Người lao động đủ điều kiện về thời gian đóng bảo hiểm xã hội và tuổi hưởng lương hưu theo quy định tại Điều 187 của Bộ luật này.

5. Người lao động bị kết án tù giam, tử hình hoặc bị cấm làm công việc ghi trong hợp đồng lao động theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Toà án.

6. Người lao động chết, bị Toà án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc là đã chết.

7. Người sử dụng lao động là cá nhân chết, bị Toà án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc là đã chết; người sử dụng lao động không phải là cá nhân chấm dứt hoạt động.

8. Người lao động bị xử lý kỷ luật sa thải theo quy định tại khoản 3 Điều 125 của Bộ luật này.

9. Người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại Điều 37 của Bộ luật này.

10. Người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại Điều 38 của Bộ luật này; người sử dụng lao động cho người lao động thôi việc do thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc vì lý do kinh tế hoặc do sáp nhật, hợp nhất, chia tách doanh nghiệp, hợp tác xã.

Điều 38. Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động

1. Người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong những trường hợp sau đây:

a) Người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động;

b) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 12 tháng liên tục đối với người làm theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, đã điều trị 06 tháng liên tục, đối với người lao động làm theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và quá nửa thời hạn hợp đồng lao động đối với người làm theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa hồi phục.

Khi sức khỏe của người lao động bình phục, thì người lao động được xem xét để tiếp tục giao kết hợp đồng lao động;

c) Do thiên tai, hỏa hoạn hoặc những lý do bất khả kháng khác theo quy định của pháp luật, mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn buộc phải thu hẹp sản xuất, giảm chỗ làm việc;

d) Người lao động không có mặt tại nơi làm việc sau thời hạn quy định tại Điều 33 của Bộ luật này.

2. Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động người sử dụng lao động phải báo cho người lao động biết trước:

a) Ít nhất 45 ngày đối với hợp đồng lao động không xác định thời hạn;

b) Ít nhất 30 ngày đối với hợp đồng lao động xác định thời hạn;

c) Ít nhất 03 ngày làm việc đối với trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều này và đối với hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng.

Như vậy để chấm dứt hợp đồng lao động với bạn thì cơ quan nơi bạn đang làm việc cần có những căn cứ cụ thể để chấm dứt hợp đồng với bạn. Theo thông tin bạn đưa ra nếu trong hợp đồng lao động mà bạn đã kí kết có thỏa thuận về việc chấm dứt hợp đồng lao động thì thực hiện theo hợp đồng, hoặc bạn không thuộc các trường hợp bị chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định như trên thì bạn không bị buộc thôi việc khi còn trong thời hạn thực hiện hợp đồng lao động. Nếu cơ quan bạn buộc bạn phải thôi việc thì cơ quan bạn sẽ phải đưa ra lí do cụ thể về quyết định cho bạn thôi việc, nếu họ không đưa ra được lí do hợp lí thì bạn có quyền khiếu nại, tố cáo lên cơ quan có thẩm quyền để giải quyết vấn đề này.

2. Theo thông tin bạn cung cấp thì "Nghị định số 68/2000/NĐ-CP của Chính phủ : Thực hiện chế độ hợp đồng một số loại công việc trong cơ quan hành chính Nhà nước, đơn vị sự nghiệp"  Như vậy theo quy định của Nghị định này thì chỉ thực hiện kí kết hợp đồng lao động với một số loại công việc trong cơ quan hành chính nhà nước, đơn vị sự nghiệp . Quy định cụ thể tại Điều 1 Nghị định này, cụ thể:

Điều 1. Thực hiện chế độ hợp đồng một số loại công việc sau đây trong cơ quan hành chính nhà nước, đơn vị sự nghiệp :

1.Sửa chữa, bảo trì đối với hệ thống cấp điện, cấp, thoát nước ở công sở, xe ô tô và các máy móc, thiết bị khác đang được sử dụng trong cơ quan, đơn vị sự nghiệp;

2.Lái xe;

3.Bảo vệ;

4.Vệ sinh;

5.Trông giữ phương tiện đi lại của cán bộ, công chức và khách đến làm việc với cơquan, đơn vị sự nghiệp;

6.Công việc khác.

Vì bạn không đưa ra thông tin cụ thể về vị trí công việc mà bạn thực hiện nên bạn có thể căn cứ vào vị trí công việc mà bạn đang làm để xác định việc ký hợp đồng lao động của mình với cơ quan là đúng hay sai.

3. Việc để xảy ra lỗi như vậy có thể có một phần là lỗi của cơ quan bạn đang làm việc. Tuy nhiên để xác định lí do đến thời điểm hiện tại cơ quan bạn mới phát hiện ra sai sót như vậy thì chúng tôi chưa thể đưa ra bất cứ một căn cứ cụ thể nào để tư vấn cho bạn về vấn đề này.

Quyền lợi và nghĩa vụ trong hợp đồng đã kí kết giữa bạn và cơ quan như thế nào thì sẽ thực hiện theo hợp đồng. Tuy nhiên nếu bạn thuộc vào trường hợp không được ký kết hợp đồng thì hợp đồng mà bạn đã kí kết đó sẽ trái pháp luật nên đó là hợp đồng vô hiệu theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Lao động năm 2012, khi đó quyền lợi của bạn được đảm bào như sau:

Điều 52. Xử lý hợp đồng lao động vô hiệu

1. Khi hợp đồng lao động bị tuyên bố vô hiệu từng phần thì xử lý như sau:

a) Quyền, nghĩa vụ và lợi ích của các bên được giải quyết theo thỏa ước lao động tập thể hoặc theo quy định của pháp luật;

b) Các bên tiến hành sửa đổi, bổ sung phần của hợp đồng lao động bị tuyên bố vô hiệu để phù hợp với thỏa ước lao động tập thể hoặc pháp luật về lao động.

2. Khi hợp đồng lao động bị tuyên bố vô hiệu toàn bộ thì xử lý như sau:

a) Trong trường hợp do ký sai thẩm quyền quy định tại điểm b khoản 1 Điều 50 của Bộ luật này thì cơ quan quản lý nhà nước về lao động hướng dẫn các bên ký lại;

b) Quyền, nghĩa vụ và lợi ích của người lao động được giải quyết theo quy định của pháp luật.

3. Chính phủ quy định cụ thể Điều này.

Như vậy nếu lỗi khiến bạn bị thôi việc là lỗi của cơ quan nơi bạn đang làm việc thì bạn được hưởng quyền, nghĩa vụ, lợi ích theo quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều 52 (như trên), cụ thể bạn có thể tham khảo thêm trong Mục 3, Chương III Bộ luật Lao động năm 2012. 

Trên đây là ý kiến tư vấn của Công ty chúng tôi, hy vọng chúng tôi đã giải đáp được vấn đề của bạn. Cảm ơn bạn tin tưởng sử dụng dịch vụ của Công ty chúng tôi.

Trân trọng ./.

Bộ phận tư vấn luật lao động - Công ty luật Minh Khuê