1. Quy định chung về hệ thống hình phạt qua các thời kỳ

Luật hình sự mỗi nước đều quy định nhiều loại hình phạt khác nhau. Do vậy, trong luật hình sự, các hình phạt luôn luôn được quy định như một hệ thống. Trong quá trình phát triển của Luật hình sự Việt Nam, hệ thống hình phạt cũng luôn có sự thay đổi để phù hợp với đòi hỏi của thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm, có những hình phạt được bổ sung và cũng có hình phạt bị xoá bỏ. Ví dụ: trong Bộ luật hình sự năm 1999, hình phạt trục xuất là hình phạt mới được bổ sung. Trong khi đó hình phạt cải tạo ở đơn vị kỷ luật của quân đội được quy định trong Bộ luật hình sự năm 1985 nhưng không được giữ lại trong Bộ luật hình sự năm 1998. Khi quy định hệ thống hình phạt, Luật hình sự không chỉ là liệt kê các hình phạt mà còn xác định nội dung, mức độ cũng như các điều kiện áp dụng của từng hình phạt. Do vậy, sự thay đổi hệ thống hình phạt không chỉ là sự thay đổi danh mục các hình phạt mà còn là sự thay đổi nội dung, mức độ cũng như điều kiện áp dụng của các hình phạt. Xu hướng thay đổi hệ thống hình phạt là mở rộng phạm vi áp dụng các hình phạt không tước tự do và hạn chế bớt phạm vi áp dụng hình phạt tử hình và hình phạt tước tự do nhất là hình phạt tù chung thân.

Trong Luật hình sự Việt Nam, hệ thống hình phạt được hình thành từ các hình phạt chính và các hình phạt bổ sung. Hình phạt chính bao gồm: cảnh cáo; phạt tiền; cải tạo không giam giữ; trục xuất; tù có thời hạn; tù chung thân; tử hình. Hình phạt bổ sung bao gồm: cấm đảm nhiệm những chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định; cấm cư trú; quản chế; tước một số quyền công dân; tịch thu tài sản; phạt tiền; trục xuất.

2. Khái niệm về hệ thống hình phạt

Tội phạm có nhiều loại khác nhau, mỗi loại tội phạm khi xảy ra trong thực tế lại có tính chất và mức độ nguy hiểm nhất định cho xã hội. Hơn nữa, yêu càu đấu ttanh chống và phòng ngừa mỗi tội phạm cũng có sự khác nhau. Do vậy, cần phải có hệ thống hình phạt đa dạng nhung thống nhất, thể hiện đầy đủ chính sách hình sự của Nhà nước.

Hiệu quả của hình phạt phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó có tính hệ thống của các hình thức hình phạt và mối quan hệ của các hình phạt với các biện pháp tư pháp.

Hệ thống hình phạt được hình thành từ hình phạt chính và hình phạt bổ sung, trong đó có hình phạt đối với người phạm tội và hình phạt đối vói pháp nhân thương mại phải chịu trách nhiệm hình sự. Hình phạt chính đối với người phạm tội bao gồm: Cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ, trục xuất, tù có thời hạn, tù chung thân, tử hình. Các hình phạt chính này có thể được phân thành các hình phạt không tước tự do (cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ và trục xuất) và các hình phạt tước tự do (tù có thời hạn, tù chung thân) và hình phạt đặc biệt (tử hình). Hình phạt bổ sung đối với người phạm tội bao gồm: Cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định; cấm cư trú; quản chế; tước một số quyền công dân; tịch thu tài sản; phạt tiền và trục xuất.

Hình phạt chính đối vói pháp nhân thưong mại phải chịu trách nhiệm hình sự bao gồm: Phạt tiền; đình chỉ hoạt động có thời hạn; đình chỉ hoạt động vĩnh viễn. Hình phạt bổ sung đối với pháp nhân thương mại phải chịu trách nhiệm hình sự bao gồm: cẩm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định; cấm huy động vốn; phạt tiền.

Căn cứ chủ yếu để phân biệt hình phạt chính với hình phạt bổ sung là khả năng áp dụng hình phạt đối với mỗi tội phạm. Hình phạt chính được áp dụng độc lập với hình phạt bổ sung và mỗi tội phạm chỉ có thể bị áp dụng một hình phạt chính cho người phạm tội cũng như một hình phạt chính cho pháp nhân thương mại phải chịu trách nhiệm hình sự (nếu đủ điều kiện). Hình phạt bổ sung không thể được áp dụng độc lập mà chỉ có thể áp dụng kèm theo hình phạt chính. Đối với mỗi tội phạm, kèm theo hình phạt chính có thể không áp dụng hoặc áp dụng một hay nhiều hình phạt bổ sung cho người phạm tội cũng như cho pháp nhân thương mại phải chịu trách nhiệm hình sự (nếu đủ điều kiện). Trong hệ thống hình phạt, trục xuất và phạt tiền là hai hình phạt lưỡng tính, có thể được quy định cũng như có thể được áp dụng là hình phạt chính hoặc là hình phạt bổ sung.

Hệ thống hình phạt được thể hiện qua mối liên kết giữa các hình phạt chính và các hình phạt bổ sung cũng như qua sự sắp xếp các hình phạt theo ưật tự tăng dần về mức độ nghiêm khắc.

>> Xem thêm:  Hình phạt bổ sung là gì ? Các loại hình phạt bổ sung hiện nay

Hệ thống hình phạt phản ánh chính sách hình sự của Nhà nước. Do vậy, hệ thống hình phạt giữa các nước cũng như giữa các giai đoạn khác nhau của một nước có thể có sự khác nhau. Sự khác nhau ở đây có thể là khác nhau về số lượng hình phạt chính, hình phạt bổ sung cũng như khác nhau về nội dung, điều kiện áp dụng từng hình phạt trong hệ thống hình phạt ...

3. Các hình phạt theo quy định của luật hình sự hiện nay

3.1 Cảnh cáo

Cảnh cáo là sự khiển trách công khai của Nhà nước đối với người phạm tội về tội phạm mà họ đã thực hiện ((Điều 34 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017).

Trong 7 hình phạt chính đối với người phạm tội thì cảnh cáo là hình phạt chính nhẹ nhất. Cảnh cáo thể hiện sự lên án công khai của Nhà nước đối với người phạm tội, được thực hiện khi hội đồng xét xử tuyên án đối với tội phạm mà họ đã thực hiện. Cảnh cáo tuy không có khả năng gây thiệt hại về vật chất cũng như hạn chế nhất định về thể chất cho người phạm tội nhưng với tính chất là sự khiển trách công khai của Nhà nước đối với người phạm tội, cảnh cáo vẫn có tác động nhất định đến tinh thần của người bị kết án để qua đó giáo dục họ. Hình phạt cảnh cáo được quy định, áp dụng cho người phạm tội ít nghiêm trọng và có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (được quy định tại Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017) nhưng chưa đến mức được miễn hình phạt. Ở đây có ranh giới giữa miễn hình phạt và áp dụng hình phạt cảnh cáo. Việc xác định ranh giới này trong thực tế không phải dễ dàng mặc dù Điều 59 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đã quy định các điều kiện được miễn hình phạt.

3.2 Phạt tiền

Phạt tiền là hình phạt buộc người phạm tội phải nộp một khoản tiền nhất định vào ngân sách nhà nước (Điều 35 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017).

Phạt tiền tước đi lợi ích vật chất của người phạm tội, tác động đến tình trạng tài sản của họ và thông qua đó tác động đến ý thức, thái độ của người phạm tội. Phạt tiền cũng có tính răn đe, giáo dục đối với người khác và qua đó có khả năng phòng ngừa chung.

Phạt tiền có thể là hình phạt chính hoặc hình phạt bổ sung.

Phạt tiền được áp dụng là hình phạt chính đối với tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng được BLHS quy định như tội chiếm giữ trái phép tài sản (Điều 176 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017); tội sử dụng trái phép tài sản (Điều 177 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017); tội tổ chức tảo hôn (Điều 183 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017) hoặc có thể đổi với tội phạm rất nghiêm trọng nếu là tội xâm phạm trật tự quản lí kinh tế, tội phạm về môi trường, tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng hoặc tội phạm khác được BLHS quy định như tội buôn lậu (Điều 188 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017); tội vận chuyển trái phép hàng hoá, tiền tệ qua biên giới (Điều 189 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017); tội sản xuất, buôn bán hàng cẩm (Điều 190 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017) V.V..

Phạt tiền là hình phạt bổ sung được quy định và áp dụng đối với các tội phạm về tham nhũng, ma tuý hoặc một số tội phạm khác như: Các tội xâm phạm trật tự quản lí kinh tế, các tội phạm về chức vụ V.V..

Mức phạt tiền được quy định tại các điều luật về các tội phạm cụ thể nhưng phải đảm bảo tối thiểu không được thấp hơn 1.000.000 đồng.

3.3 Cải tạo không giam giữ

Cải tạo không giam giữ là hình phạt chính, buộc người phạm tội phải cải tạo, giáo dục tại nơi làm việc, học tập, cư trú dưới sự giám sát của cơ quan, tổ chức nơi họ làm việc, học tập hoặc của chính quyền địa phương, nơi họ cư trú (Điều 36 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017).

Trong hệ thống hình phạt, cải tạo không giam giữ được coi là nhẹ hơn hình phạt tù có thời hạn nhưng nặng hơn phạt tiền và cảnh cáo. Cải tạo không giam giữ được áp dụng đối với người phạm tội ít nghiêm trọng hoặc nghiêm trọng, có nơi làm việc ổn định hoặc nơi cư trú rõ ràng và thấy không cần thiết phải cách ly khỏi xã hội. Như vậy, hai điều kiện cần của cải tạo không giam giữ là điều kiện về tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm và điều kiện bảo đảm hiệu quả của việc áp dụng hình phạt. Ngoài ra còn đòi hỏi, việc cách ly người phạm tội khỏi xã hội là không cần thiết.

Thời hạn của hình phạt cải tạo không giam giữ là từ 06 tháng đến 03 năm.

>> Xem thêm:  Mẫu đơn xin giảm nhẹ hình phạt, đơn đề nghị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

Việc giám sát người bị áp dụng hình phạt này được giao cho cơ quan hoặc tổ chức nơi người đó làm việc, học tập hoặc được giao cho ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú.

Trong thời gian chấp hành hình phạt này, người bị kết án phải thực hiện một số nghĩa vụ theo các quy định về cải tạo không giam giữ và bị khấu trừ hàng tháng một phần thu nhập từ 05% đến 20% để sung quỹ nhà nước. Toà án có thể miễn khấu trừ thu nhập trong trường hợp có lí do đặc biệt. Nếu người chấp hành án đang thực hiện nghĩa vụ quân sự thì không khấu trừ thu nhập của họ.

Trong trường hợp không có hoặc bị mất việc làm, người bị kết án phải lao động phục vụ cộng đồng không quá 04 giờ trong một ngày và không quá 05 ngày trong một tuần. Việc buộc lao động này không được áp dụng đối với phụ nữ có thai, phụ nữ đang nuôi con dưới 06 tháng tuổi, người già yếu, người bị bệnh hiểm nghèo, người bị khuyết tật nặng hoặc đặc biệt nặng.

Ngoài ra, người bị kết án còn phải thực hiện các nghĩa vụ được quy định trong Luật thi hành án hình sự (xem: Xem: Điều 75 Luật thi hành án hình sự và Các điều từ 96 đến 102 Luật thi hành án hình sự).

Thời gian bị tạm giữ, tạm giam được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ, cứ một ngày tạm giữ, tạm giam bằng 03 ngày cải tạo không giam giữ.

3.4 Trục xuất

Trục xuất là hình phạt buộc người nước ngoài bị kết ấn trong thời hạn nhất định phải rời khỏi lãnh thổ nước Cộng hoà XHCN Việt Nam ((Điều 37 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017)

Trục xuất là hình phạt chính hoặc hình phạt bổ sung tuỳ theo trường hợp được toà án áp dụng. Khi quyết định hình phạt đối với người nước ngoài, toà án căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của họ để quyết định trục xuất là hình phạt chính hoặc hình phạt bổ sung.

3.5 Tù có thời hạn

Tù có thời hạn là hình phạt chính, buộc người phạm tội phải cách li khỏi xã hội trong thời gian nhất định để giáo dục, cải tạo (Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017).

Tù có thời hạn là hình phạt nghiêm khắc hơn hình phạt cải tạo không giam giữ. Sự hạn chế tự do của người bị kết án tù có thời hạn là nội dung pháp lí chủ yếu của loại hình phạt này. Theo Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, tù có thời hạn có mức tối thiểu là ba tháng và mức tối đa là hai mươi năm. Trong trường hợp phạm nhiều tội, mức tối đa của hình phạt này là ba mươi năm (Điều 55 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017).

Hình phạt tù có thời hạn không được áp dụng đối với người lần đầu phạm tội ít nghiêm trọng do vô ý và có nơi cư trú rõ ràng.

Người bị kết án tù có thời hạn chấp hành án tại ttại giam. Thời gian bị tạm giữ, tạm giam được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù, cứ một ngày tạm giữ, tạm giam bằng một ngày tù.

3.6 Tù chung thân

>> Xem thêm:  Thế nào là tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội ? Trách nhiệm hình sự đối với người tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội ra sao ?

Tù chung thân là hình phạt chính, buộc người phạm tội phải cách li khỏi xã hội suốt đời để giáo dục, cải tạo (Điều 39 BLHS).

Trong hệ thống hình phạt Việt Nam, tù chung thân là hình phạt rất nghiêm khắc, chỉ nhẹ hơn hình phạt tử hình, về điều kiện áp dụng tù chung thân, Điều 39 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định, người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng nhưng chưa đến mức xử phạt tử hình thì xử phạt tù chung thân. Đối với tội phậm đặc biệt nghiêm trọng, toà án phải dựa vào các căn cứ quyết định hình phạt (Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017) để lựa chọn một trong ba hình phạt: Tử hình, tù chung thân, tù có thời hạn (ở mức cao) để áp dụng đối vói người phạm tội. Thông thường trong thực tiễn, hình phạt tù chung thân được áp dụng đối với trường hợp đặc biệt nghiêm trọng mà nếu áp dụng hình phạt tù có thời hạn ở mức tối đa vẫn còn nhẹ nhưng nếu phạt tử hình thì chưa thật cần thiết.

Do tính chất nghiêm khắc của hình phạt tù chung thân và xuất phát từ nguyên tắc xử lí người chưa thành niên phạm tội, luật hình sự Việt Nam không cho phép áp dụng tù chung thân đối với người dưới 18 tuổi phạm tội.

Trong thời gian chấp hành án tù chung thân, nếu người bị kết án có kết quả cải tạo tốt thì người người phạm tội có thể được giảm thời hạn chấp hành hình phạt.

3.7 Tử hình

Tử hình là hình phạt chính, tước bỏ quyền sổng của người bị kết án (Điều 40 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017).

Tử hình là hình phạt nghiêm khắc nhất trong hệ thống hình phạt.

Tử hình chỉ áp dụng đối với người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, gây nguy hại đặc biệt lớn cho xã hội. Tử hình không đặt ra mục đích cải tạo và giáo dục người bị kết án nhưng vẫn có mục đích phòng ngừa riêng vì loại bỏ hoàn toàn khả năng phạm tội lại của người bị kết án. Ngoài ra, tử hình khi được áp dụng cũng có tác động đến ý thức của người khác trong xã hội. Tử hình được áp dụng với người phạm tội đặc biệt nghiêm ttọng xâm phạm tính mạng con người, các tội phạm về ma tuý, tham nhũng và một số tội đậc biệt nghiêm trọng khác như: Các tội xâm phạm an ninh quốc gia, các tội phá hoại hoà bình, chống loài người, tội phạm chiến tranh, tội khủng bố V.V..

Thể hiện chính sách nhân đạo của Nhà nước, BLHS quy định không áp dụng hình phạt tử hình đối với 7 đối tượng sau:

- Người phạm tội là người dưới 18 tuổi khi phạm tội;

- Người phạm tội là phụ nữ có thai khi phạm tội;

- Người phạm tội là phụ nữ có thai khi xét xử;

- Người phạm tội là phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi khi phạm tội;

>> Xem thêm:  Mẫu đơn bãi nại vụ án hình sự, giảm nhẹ hình phạt mới nhất 2021

- Ngưởi phạm tội là phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi khi xét xử;

- Người phạm tội là người đủ 75 tuổi trở lên khi phạm tội;

- Người phạm tội là người đủ 75 tuổi trở lên khi xét xử.

Đối với người bị kết án tử hình nếu thuộc một ttong 4 loại đối tượng sau thì hình phạt tử hình không được thi hành: Người bị kết án là phụ nữ có thai; người bị kết án là phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi; người bị kết án là người đủ 75 tuổi trở lên; người bị kết án tử hình về tội tham ô tài sản, tội nhận hối lộ mà sau khi bị kết án đã chủ động nộp lại ít nhất ba phần tư tài sản tham ô, nhận hối lộ và hợp tác tích cực với cơ quan chức năng trong việc phát hiện, điều tía, xử lí tội phạm hoặc lập công lớn.

Trong trường hợp không thi hành án tử hình thì hình phạt tử hình được ân giảm thành tù chung thân. Người bị kết án tử hình có quyền xin Chủ tịch nước ân giảm án, trong trường hợp được ân giảm thì hình phạt tử hình chuyển thành tù chung thân.

Tử hình được hoãn thi hành nếu ngay trước khi thi hành người chấp hành án khai báo những tình tiết mới về tội phạm. Thi hành án tử hình được thực hiện bằng tiêm thuốc độc, thủ tục thực hiện việc tiêm thuốc độc do Chính phủ quy định. Thân nhân hoặc người đại diện hợp pháp của người chấp hành án có thể được nhận tử thi của người chấp hành án để an táng.

3.8. Cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định

Cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định là hình phạt bổ sung, buộc người phạm tội không được giữ chức vụ, không được hành nghề hoặc thực hiện công việc nhất định (Điều 41 BLHS).

Hình phạt này được quy định đối với các tội phạm có sự lợi dụng chức vụ, nghề nghiệp hoặc công việc nhất định cũng như đối với các tội phạm do thiếu trách nhiệm ừong khi thực hiện công vụ hoặc do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc hành chính (các điêu 154,158,237, 238, 239, 240... Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017).

Thời hạn cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định có thể từ 01 năm đến 05 năm được tính từ ngày chấp hành xong hình phạt tù hoặc từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật nếu hình phạt chính là cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ hoặc trong trường hợp người bị kết án được hưởng án treo.

Hình phạt cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định nhằm tăng cường hiệu quả của hình phạt chính, loại bỏ điều kiện để người bị kết án có thể phạm tội lại.

3.9 Cấm cư trú

Cấm cư trú là hình phạt bổ sung, buộc người bị kết án phạt tù không được tạm trú và thường trú ở một số địa phương nhất định (Điều 42 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017).

Hình phạt này được áp dụng cho người bị phạt tù khi xét thấy họ có thể lợi dụng điều kiện thuận lợi của địa phương thực hiện tội phạm sau khi chấp hành xong hình phạt tù. Địa phương có thể bị cẩm cư trú là: Thành phố lớn; khu công nghiệp tập trung; khu vực biên giới, bờ biển, hải đảo; khu vực có những cơ sở quốc phòng quan trọng; khu vực có các đầu mối giao thông quan trọng... Đây là những địa phương cần thiết phải bảo đảm an ninh và trật tự an toàn xã hội ở mức độ cao.

>> Xem thêm:  Điều kiện để được giảm án, đặc xá quy định mới nhất năm 2021 ?

Thời hạn cấm cư trú có thể từ 01 năm đến 05 năm kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù.

Người bị cấm cư trú có nghĩa vụ không được cư trú ở những địa phương đã bị cấm theo quyết định của toà án nhưng có thể được phép đến đó mỗi lần không quá 05 ngày với các điều kiện (có lí do chính đáng; địa phương bị cấm là quê quán hoặc là nơi có thân nhân, gia đình đang sinh sống và được sự đồng ý của uỷ ban nhân dân cấp xã nơi đến).

3.10 Quản chế

Quản chế là hình phạt bổ sung, buộc người bị kết án phạt tù phải cư trú, làm ăn sinh sổng và cải tạo ở một địa phương nhất định dưới sự kiểm soát, giáo dục của chính quyền và nhân dân địa phương sau khi chấp hành xong hình phạt tù (Điều 43 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017).​.

Người bị áp dụng hình phạt quản chế có nghĩa vụ: Trở về địa phương mà bản án chỉ định là nơi quản chế ngay sau khi chấp hành xong hình phạt tù; không được tự ý rời khỏi nơi quản chế trong thời gian quản chế. Người bị áp dụng hình phạt này còn bị tước một số quyền trong các quyền được quy định tại Điều 44 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 (quyền ứng cử đại biểu cơ quan quyền lực nhà nước và quyền lànj việc trong các cơ quan nhà nước và quyền phục vụ trong lực lượng vũ ữang nhân dân) và bị cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định.

Quản chế được áp dụng đối với người phạm tội xâm phạm an ninh quốc gia, người tái phạm nguy hiểm hoặc trường họp khác được BLHS quy định.

Thời hạn quản chế là từ 01 năm đến 05 năm, kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù.

3.11 Tước một số quyền công dân

Tước một số quyển công dân là hình phạt bổ sung, buộc người bị kết án phạt tù không được ứng cử đại biếu cơ quan quyền lực nhà nưởc, không được làm việc trong các cơ quan nhà nước, không được phục vụ trong lực lượng vũ trang nhân dân (Điều 44 BLHS).

Khi bị áp dụng hình phạt này, người bị kết án bị tước một hoặc một số quyền ttong các quyền có thể bị tước. Hình phạt này được áp dụng cho công dân Việt Nam bị phạt tù về tội xâm phạm đến an ninh quốc gia hoặc tội phạm khác được BLHS quy định.

Thời hạn tước một số quyền công dân là từ 01 năm đến 05 năm. Thời hạn được tính từ ngày chấp hành xong hình phạt tù hoặc kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật trong trường hợp người bị kết án được hưởng án treo.

3.12 Tịch thu tài sản

Tịch thu tài sản là hình phạt bỏ sung, tước một phần hoặc toàn bộ tài sản thuộc sở hữu của người phạm tội để nộp vào ngân sách nhà nước (Điều 45 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017).

Tịch thu tài sản được áp dụng đối với những người phạm tội nghiêm trọng, tội rất nghiêm trọng hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng xâm phạm an ninh quốc gia, tội phạm về ma tuý, tham nhũng hoặc tội phạm khác do BLHS quy định.

Tài sản bị tịch thu phải thuộc sở hữu của người bị kết án; tài sản đó có thể là tài sản người bị kết án đang sử dụng hoặc là tài sản đã cho vay, mượn, thuê, gửi sửa chữa, gửi người khác giữ hoặc đang cầm cố, thế chấp... Tài sản thuộc sở hữu của người bị kết án có thể tồn tại dưới dạng hiện vật hoặc là tiền, kể cả tiền gửi ngân hàng, quỹ tín dụng, hoặc là trái phiếu, tín phiếu...

>> Xem thêm:  Tù chung thân có được giảm xuống thành tù có thời hạn không? Mẫu đơn xin giảm án phạt tù ?

Trong trường hợp tịch thu toàn bộ tài sản, vẫn phải để lại phần tài sản nhất định để người bị kết án và gia đình họ có điều kiện sinh sống.

Mọi vướng mắc pháp lý liên quan đến lĩnh vực hình sự về trách nhiệm hình sự, Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến qua tổng đài. Đội ngũ luật sư giàu kinh nghiệm trong lĩnh vực hình sự luôn sẵn sàng lắng nghe và giải đáp cụ thể.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Thời gian giải quyết vụ án hình sự là bao lâu ? Điều kiện miễn trách nhiệm hình sự là gì ?

Các câu hỏi thường gặp

Câu hỏi: Hình phạt cảnh cáo là gì?

Trả lời:

Cảnh cáo là sự khiển trách công khai của Nhà nước đối với người phạm tội về tội phạm mà họ đã thực hiện ((Điều 34 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017).

 

Câu hỏi: Hình phạt tiền theo quy định pháp luật

Trả lời:

Phạt tiền là hình phạt buộc người phạm tội phải nộp một khoản tiền nhất định vào ngân sách nhà nước (Điều 35 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017).

 

Câu hỏi: Hình phạt cải tạo không giam giữ

Trả lời:

Cải tạo không giam giữ là hình phạt chính, buộc người phạm tội phải cải tạo, giáo dục tại nơi làm việc, học tập, cư trú dưới sự giám sát của cơ quan, tổ chức nơi họ làm việc, học tập hoặc của chính quyền địa phương, nơi họ cư trú (Điều 36 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017).