1. Mở đầu vấn đề

EC đã ký các Hiệp định Hiệp hội (Aas) vói một số nước ở Trung và Đông Âu (CEECs) và Địa Trung Hải. Ngoài ra EC cũng tham gia liên minh thuế quan với Thổ Nhĩ Kỳ và ký câc FTA vói Mexico và Nam Phi. Các Nhà nước Thành viên EFTA cũng ký các FTA với hầu hết các đối tác này. Cả EC và EFTA đều đang trong quá trình đàm phán các hiệp định ưu đãi thưong mai mới.

2. Nền tảng của Hiệp định thương mại tự do EFTA

Các cuộc đàm phán cuối cùng dẫn đến ký kết Công ước Stockholm tiến hành tại Saltjoebaden, một khách sạn nghỉ mát cạnh bờ biển Stockholm. Công ước này đầu tiên được ký kết ngày 4.1.1960 bởi các vị Bộ trưởng của Áo, Đan mạch, NaUy, Bồ Đào Nha, Thuy Điển Thuy Sĩ và Anh. Phần Lan trở thành một thành viên dự bị của Hiệp hội vào năm 1961 và tham gia đầy đủ vào Hiệp hội năm 1986 khi tình hình chính trị đã chín muồi cho một thành viên đầy đủ. Ngày nay, EFTA bao gồm Iceland (tham gia năm 1970), Liechtenstein (1991 )(2), Na Uy và Thuy Sĩ. Nước Anh và Đan Mạch ròi bỏ Hiệp hội năm 1972, Bồ Đào Nha năm 1985, Áo, Phần Lan và Thuy Điển vào cuối năm 1994. Tất cả cấc nước này gia nhập EC.

EFTA là một khu vực thương mại tự do đầy đủ nhất phù hợp với Điều XXIV của Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT). Công ước Stockholm bao trùm thương mại đối với các sản phẩm công nghiệp, các sản phẩm nông nghiệp chế biến, cá và các hải sản khác. Các sản phẩm nông nghiệp được đề cập trong các thoả thuận song phương (trao đổi thư tín) giữa tùng quốc gia EFTA, nhưng cần nhận rằng bất cứ thuế quan hoặc nhân nhượng nào dành cho một quốc gia EFTA khác trong hiệp định song phương cũng sẽ tự động áp dụng cho mọi quốc gia thành viên khác của EFTA, do vậy đảm bảo tính chất đa phương của các thoả thuận này. Người ta có thể coi đặc tính này như một loại đối xử tối huệ quốc ưu đãi “định sẵn”.

Mặc dù nguyên nhân trực tiếp nhất tạo ra EFTA có thể là mối đe doạ của sự phân biệt kinh tế từ lúc EEC mới thành lập, nhưng EFTA vẫn được xem là một cách thức lựa chọn của sự hợp tác và hội nhập châu Âu. về mặt chính trị, EFTA cũng hấp dẫn hơn đối với 3 thành viên sáng lập trung lập và Anh quốc, một quốc gia đã không muốn dâng các quyền lợi và nghĩa vụ của Khối Thịnh vượng chung hoặc mối quan hệ Đại Tây Dưong đặc biệt cho Mỹ. Không cố trở thành một đối thủ của EEC, cấc quốc gia EFTA mong muốn chứng minh rằng một khu vục mậu dịch tự do có thể hoạt động hiệu quả và góp phần tích cục vào công cuộc hội nhập kinh tế ở Tây Âu.

Mục tiêu cuối cùng của các nhà sáng lập EFTA, như đã giới thiệu trong phần mở đầu của Công ước Stockholm là “tạo thuận lợi cho việc sớm thành lập một hiệp hội đa phưong để dỡ bỏ các rào cản thưong mại và khuyến khích họp tác kinh tế chặt chẽ hon nữa giữa các thành viên của Tổ chức Họp tác Kinh tế châu Âu, bao gồm cả các thành viên của Cộng đồng Kinh tế châu Âu”. Mục tiêu này trên thục tế đã đạt được bằng việc ký kết các hiệp định thưong mại tự do song phưong giữa cấc nước EFTA và EEC năm 1972/73, việc liên tiếp gia nhập của các nước nguyên là EFTA vào EEC/EC/EU và việc ký kết Hiệp định Khu vục Kinh tế Châu Âu (EEA) năm 1992.

3. Hiệp định thương mại tự do EFTA

Hiệp hội mậu dịch tự do châu Âu (European Free Trade Association - EFTA) được thành lập ngày 3.5.1960 như một khối mậu dịch khác cho các nước châu Âu, do không đủ khả năng hoặc chọn không gia nhập Cộng đồng Kinh tế châu Âu (EEC) thời đó (nay là Liên minh châu Âu (EU)).

Hiệp ước EFTA được ký ngày 4.1.1960 tại Stockholm bởi 7 nước bên ngoài (Cộng đồng kinh tế châu Âu thời đó). Ngày nay chỉ còn Iceland, Na Uy, Thụy Sĩ và Liechtenstein vẫn còn là hội viên của EFTA (trong đó Na Uy và Thụy Sĩ là các hội viên sáng lập). Sau đó Hiệp ước Stockholm được thay thế bằng Hiệp ước Vaduz.

Hiệp ước này cho phép tự do hóa việc buôn bán trong các nước hội viên. Ba nước hội viên EFTA là thành phần của Thị trường chung Liên minh châu Âu thông qua Thỏa ước về Khu vực kinh tế châu Âu (EEA), có hiệu lực từ năm 1994. Nước hội viên thứ tư của EFTA – Thụy Sĩ - chọn ký kết một thỏa ước song phương với Liên minh châu Âu. Ngoài ra, các nước EFTA cũng ký chung các thỏa hiệp mậu dịch tự do với nhiều nước khác.

Năm 1999 Thụy Sĩ ký một bộ thỏa hiệp song phương với Liên minh châu Âu bao trùm nhiều lãnh vực, trong đó có sự phá bỏ các hàng rào cản trở buôn bán như việc di chuyển nhân công cùng vận tải hàng hóa và kỹ thuật giữa đôi bên. Sự tiến triển này thúc đẩy các nước EFTA hiện đại hóa Hiệp ước của mình để bảo đảm là sẽ tiếp tục tạo ra một khuôn khổ đầy thành công cho việc mở rộng và tự do hóa việc buôn bán trong các nước hội viên và với thế giới.

3. Ví dụ thương mại trong các Hiệp định của EFTA và EC (FTAs của EFTA)

Do những phần về thương mại trong các Hiệp định của EFTA và EC giống nhau về bản chất, nên có thể lấy những bản do EFTA ký kết làm ví dụ FTAs của EFTA như sau:

Mục tiêu cơ bản của FTAs là đảm bảo tính song hành với EC, tức là hàng xuất khẩu từ các nước EFTA được đối xử bình đẳng với hàng xuất khẩu từ EC sang các nước thứ ba. Vì vậy, các Hiệp định về thục chất được lấy mẫu theo các điều khoản liên quan đến thương mại của các Hiệp định Hiệp hội EC. Bên cạnh đó Công ước EFTA và các FTA trước đây giữa EEC và các nước EFTA cũng được sử dụng làm mẫu.

FTAs áp dụng đối với các sản phẩm công nghiệp thuộc các chương từ 25 đến 97 của HS, trừ các chất Casein và một số Albumin nhất định, đối với nông sản chế biến ghi trong Nghị định thư A và đối vói cá cùng các hải sản khác như đã nêu trong Phụ lục II. Việc kinh doanh nông sản cơ bản được điều chỉnh bởi các thoả thuận song phương giữa các nước EFTA và cấc nước đối tác.

Do điều kiện kinh tế của nhiều nước đối tác đặc biệt và phức tạp, phần lớn FTAs là không cân xứng, cho phép các nước đối tác duy trì suốt thời kỳ chuyển đổi những hạn chế thương mại về một loại sản phẩm nhất định. Các thoả thuận chuyển đổi đặc biệt dược nêu trong các Phụ lục. Thời kỳ chuyển đổi kéo dài khác nhau từ 4 đến 12 năm.

FTAs khuyến khích loại bỏ thuế quan (cũng là bản chất tài chính), biện pháp có hiệu quả tương đương và những hạn chế số lượng. Tuy vậy, trong những Hiệp định với CEECs cũng như các nước EFTA còn bảo lưu những ngoại lệ nhất định và những thoả thuận chuyển đổi. Tất cả những ngoại lệ này đã dần dần bị loại bỏ. Do đó, chúng không nằm trong các FTAs mới và các Hiệp định hiện nay cũng được sửa đổi theo.

Các Hiệp định này cũng bao trùm lên việc buôn bản nông sản chế biến. Những thoả thuận riêng được nêu trong Nghị định thư A và các bảng danh mục sản phẩm riêng của từng nước. Các nước EFTA đã bãi bỏ yếu tố công nghiệp và một phần hoặc toàn bộ yếu tố nông nghiệp của thuế nhập khẩu của các sản phẩm ghi trong bảng tương ứng. Họ chấp nhận cho các nước đối tác việc đối xử không ít thuận lợi hơn như đối với EC. Đa số các nước đối tác đã nhượng bộ các nước EFTA như đã nhượng bộ đối với EC.

Theo Phụ lục II, các điều khoản của FTAs cũng bao trùm sản phẩm cá và các hải sản khác. Đến tháng 1.1999, khi ngoại lệ này bị bãi bỏ, Liechtenstein và Thụy Sĩ có thể duy trì thuế quan đối với cá nước ngọt, mỡ và dầu ăn, thức ăn gia súc. Cũng như thế, một số nước đối tác bảo đảm những ngoại lệ và/hoặc những thoả thuận chuyển đổi có tính hạn chế hoặc rộng rãi.

4. Việt Nam với EFTA

Hiệp định thương mại tự do (FTA) giữa Việt Nam và Khối EFTA (bao gồm 4 nước Thụy Sỹ, Na Uy, Iceland, Liechtenstein) bắt đầu khởi động đàm phán từ tháng 5/2012. Hiện tại FTA này vẫn đang trong quá trình đàm phán.

FTA giữa Việt Nam và Khối thương mại tự do châu Âu EFTA bao gồm 4 nước Thụy Sĩ, Na Uy, Iceland và Liechtenstein có thể kết thúc trong năm 2021, khi hai nước kỷ niệm 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao (1971 - 2021).

Thông tin này được bà Lê Linh Lan, đại sứ Việt Nam tại Thụy Sĩ, cho biết tại hội thảo trực tuyến "Tiêu điểm thị trường: Việt Nam" do Hội Nhịp cầu kinh doanh Việt Nam - Thụy Sĩ (SVBG) tổ chức chiều ngày 2-3.

Từ năm 2012, Việt Nam và Khối thương mại tự do châu Âu EFTA bao gồm 4 nước Thụy Sĩ, Na Uy, Iceland và Liechtenstein chính thức đàm phán FTA. Tiến trình đàm phán gặp nhiều vướng mắc, trong đó chủ yếu liên quan đến các nội dung quyền sở hữu trí tuệ, tài chính công...

Hiện hai bên đang đẩy nhanh tiến trình đàm phán FTA để kỳ vọng sớm hoàn tất việc ký kết hiệp định trong năm 2021 khi hai nước kỷ niệm 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao (1971 - 2021).

Theo đại sứ Lê Linh Lan, một khi hiệp định được ký kết sẽ có rất nhiều điều kiện, lợi thế ở Việt Nam mà nhà đầu tư Thụy Sĩ tận dụng để phát triển hoạt động kinh doanh, đầu tư.

Các nhà đầu tư khi đến Việt Nam có thể được hưởng lợi từ 15 hiệp định thương mại tự do mà Việt Nam ký kết và đang có hiệu lực như Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - Liên minh châu Âu (EVFTA), Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện khu vực RCEP… Do đó, cơ hội và tiềm năng hợp tác kinh tế giữa hai nước thời gian tới còn rất lớn.

Thụy Sĩ cũng là đối tác thương mại quan trọng và là nhà đầu tư châu Âu lớn thứ 6 tại Việt Nam với tổng đầu tư khoảng 2,058 tỉ USD, tập trung vào các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, điện lực.

Hiện có khoảng 100 doanh nghiệp, tập đoàn tên tuổi lớn của Thụy Sĩ như Nestlé, Novatis, Roche (dược phẩm), Holcim (xi măng), ABB (thiết bị điện...) đang hoạt động ở Việt Nam.

Do ảnh hưởng của dịch COVID-19, kim ngạch giao thương giữa hai quốc gia có giảm nhẹ trong năm 2020 sau khi đạt mức 3,6 tỉ USD năm 2019.

Theo các chuyên gia, sau làn sóng các tập đoàn lớn, dòng vốn đầu tư từ Thụy Sĩ vào Việt Nam thời gian tới sẽ đến từ các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong lĩnh vực dịch vụ, sản xuất và công nghệ.

5. EU với Việt Nam

EU là thị trường có dung lượng lớn với sự thống nhất trong đa dạng và nhiều dư địa tăng trưởng; đồng thời cơ cấu xuất nhập khẩu hàng hoá giữa Việt Nam và EU mang tính bổ trợ thay vì đối đầu cạnh tranh. Việc thâm nhập thành công thị trường EU đồng nghĩa với việc Việt Nam có cơ hội mở rộng quan hệ hợp tác với cùng lúc 27 quốc gia thành viên, góp phần giải quyết bài toán đầu ra về mở rộng, đa dạng hóa thị trường, tiến sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Có thể nói rằng gần 100% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang EU sẽ được xóa bỏ thuế nhập khẩu sau một lộ trình ngắn. Cho đến nay, đây là mức cam kết cao nhất mà một đối tác dành cho ta trong các hiệp định FTA đã được ký kết. Lợi ích này đặc biệt có ý nghĩa khi EU liên tục là một trong hai thị trường xuất khẩu lớn nhất của ta hiện nay.

Đối với hàng xuất khẩu của EU, Việt Nam cam kết sẽ xóa bỏ thuế quan ngay khi Hiệp định có hiệu lực với 48,5% số dòng thuế (chiếm 64,5% kim ngạch nhập khẩu). Tiếp đó, sau 7 năm, 91,8% số dòng thuế tương đương 97,1% kim ngạch xuất khẩu từ EU được Việt Nam xóa bỏ thuế nhập khẩu.

Sau 10 năm, mức xóa bỏ thuế quan là khoảng 98,3% số dòng thuế (chiếm 99,8% kim ngạch nhập khẩu). Đối với khoảng 1,7% số dòng thuế còn lại của EU, ta áp dụng lộ trình xóa bỏ thuế nhập khẩu dài hơn 10 năm hoặc áp dụng hạn ngạch thuế quan theo cam kết WTO.

Trên đây là nội dung Luật Minh Khuê sưu tầm và biên soạn. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng!

Luật Minh Khuê (Sưu tầm và biên tập).