1. Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kì là gì ?

Hiệp định thương mại Viêt Nam - Hoa Kì là điều ước quốc tế song phương giữa Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Hợp chủng quốc Hoa Kì về quan hệ thương mại, được kí kết tại Oasinhtơn ngày 13.7.2000 và có hiệu lực kể từ ngày 10.12.2001.

Sau quá trình đàm phán và kí kết, thời gian phê chuẩn Hiệp định tiếp tục diễn ra trong vòng hơn một năm nữa. Hiệp định được Hạ viện Hoa Kì thông qua vào ngày 06.9.2001, Thượng viện Hoa Kì thông qua ngày 03.10.2001, Tổng thống Hoa Ki Busơ (G.W.Bush) kí ngày 16.12.2001. Ngày 28.11.2001, Quốc hội Việt Nam đã thông qua Nghị quyết phê chuẩn Hiệp định. Ngày 10.12.2001, Bộ trưởng thương mại hai nước trao đổi công hàm phê chuẩn Hiệp định.

Với 72 điều trong 07 chương và 09 phụ lục quy định chỉ tiết về các cam kết nhằm mở cửa thương mại hàng hóa, thương mại dịch vụ, thương mại đầu tư và thương mại liên quan đến quyền sở đối với các sản phẩm của công dân và pháp nhân của hai nước, Hiệp định này đánh dấu bước tiến quan trọng trong tiến trình bình thường hoá và phát triển mối quan hệ thương mại toàn diện giữa Việt Nam và Hoa Kì.

1.1 Thời gian và địa điểm ký kết hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ

Địa điểm ký kết: Washington, D.C.

Thời gian ký kết: 13/07/2000

Các bên tham gia: Chính phủ Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ Hợp chủng quốc Hoa Kỳ

Ngày 13/7/2000, tại Washington, Hiệp định Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ đã được chính thức ký kết giữa Bộ trưởng Thương mại Việt Nam Vũ Khoan và Đại diện Thương mại Hoa Kỳ Charlene Bashefsky, kết thúc 4 năm đàm phán liên tục.Ngày 13/7/2000, tại Washington, Hiệp định Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ đã được chính thức ký kết giữa Bộ trưởng Thương mại Việt Nam Vũ Khoan và Đại diện Thương mại Hoa Kỳ Charlene Bashefsky, kết thúc 4 năm đàm phán liên tục.

1.2 Mục đích của việc ký kết hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ

Mong muốn thiết lập và phát triển quan hệ kinh tế và thương mại bình đẳng và cùng có lợi trên cơ sở tôn trọng độc lập và chủ quyền của nhau;

Nhận thức rằng, việc các Bên chấp nhận và tuân thủ các quy tắc và tiêu chuẩn thương mại quốc tế sẽ giúp phát triển quan hệ thương mại cùng có lợi, và làm nền tảng cho các mối quan hệ đó;

Ghi nhận rằng, Việt Nam là một nước đang phát triển có trình độ phát triển thấp, đang trong quá trình chuyển đổi kinh tế và đang tiến hành các bước hội nhập và kinh tế khu vực và thế giới, trong đó có việc tham gia Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN (AFTA), và Diễn đàn Hợp tác Kinh tế Châu Á-Thái Bình Dương (APEC) và đang tiến hành tới trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO).

Thỏa thuận rằng, các mối quan hệ kinh tế, thương mại và việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ là những nhân tố quan trọng và cần thiết cho việc tăng cường các mối quan hệ song phương giữa hai nước; và

Tin tưởng rẳng, một hiệp định về quan hệ thương mại giữa các Bên sẽ phục vụ tốt nhất cho lợi ích chung của các Bên;

Một số nội dung về việc ký kết hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ về thương mại hàng hóa, thương mại dịch vụ và việc tạo điều kiện thuận lợi cho nhau như sau

2. Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ về thương mại hàng hóa

1. Quy chế Tối huệ Quốc (MFN)

Tại Điều 1, Hiệp định quy định hai bên dành cho nhau quy chế tối huệ quốc (hay còn gọi là quan hệ thương mại bình thường). Điều này có nghĩa là hàng hoá của Việt Nam vào Hoa Kỳ được dành sự đối xử không kém thuận lợi hơn sự đối xử mà Hoa Kỳ Kỳ dành cho các nước khác. Ngược lại, hàng hoá Hoa Kỳ vào Việt Nam cũng được hưởng sự đối xử không kém thuận lợi hơn sự đối xử mà Việt Nam dành cho các nước khác.

Việc được hưởng quy chế này giúp hàng hoá Việt Nam được hưởng thuế suất thấp hơn hẳn khi vào thị trường Hoa Kỳ, trung bình từ 40% xuống còn khoảng 3-4%. Tuy nhiên, quy chế tối huệ quốc mà Hoa Kỳ dành cho Việt Nam hàng năm vẫn phải được gia hạn. Phía Hoa Kỳ cũng sẵn sàng xem xét khả năng dành cho Việt Nam quy chế Ưu đãi Thuế quan Phổ cập (GSP)

 2. Đối xử quốc gia (NT)

Hai bên cũng sẽ dành cho hàng hoá của nhau sự đối xử không kém thuận lợi hơn sự đối xử dành cho hàng hoá trong nước, về tất cả các khía cạnh như bán hàng, chào hàng, mua, vận tải, phân phối, lưu kho, …

3. Biện pháp kỹ thuật (TBT) Hai bên cam kết sẽ không soạn thảo, ban hành hoặc áp dụng những quy định và tiêu chuẩn kỹ thuật nhằm tạo ra sự trở ngại đối với thương mại quốc tế hoặc bảo hộ sản xuất trong nước.

4. Biện pháp vệ sinh dịch tễ (SPS) Mọi biện pháp vệ sinh hoặc vệ sinh thực vật không trái với các quy định của GATT 1994 chỉ được áp dụng ở mức cần thiết để bảo vệ cuộc sống hoặc sức khoẻ của con người, động vật hoặc thực vật, được dựa trên cơ sở các nguyên lý khoa học.

5. Quyền kinh doanh

Các bên sẽ dành cho công ty và công dân của bên kia quyền kinh doanh. Theo đó:

  •  Tất cả các doanh nghiệp có quyền tham gia xuất khẩu nhập khẩu, trừ những mặt hàng tại nêu tại Phụ lục B và C;
  •  Các công ty có vốn đầu tư Hoa Kỳ có quyền nhập khẩu hàng hoá và sản phẩm liên quan đến hoạt động của công ty trên lãnh thổ Việt Nam.
  •  3 năm sau khi Hiệp định có hiệu lực, các công ty có vốn đầu tư Hoa Kỳ trong lĩnh vực chế tạo có quyền kinh doanh xuất nhập khẩu (có một vài loại trừ).
  • 3 năm sau khi Hiệp định có hiệu lực, các công ty Hoa Kỳ được phép thành lập liên doanh với đối tác Việt Nam để kinh doanh xuất nhập khẩu với cổ phần tối đa của phía Hoa Kỳ không quá 49%; sau đó 3 năm cổ phần tối đa của phía Hoa Kỳ có thể lên tới 51%.

6. Mở cửa thị trường

Hai bên đồng ý cắt giảm thuế quan và các hàng rào phi thuế quan đối với thương mại hàng hoá. Các hạn ngạch, giấy phép và kiểm soát xuất khẩu và nhập khẩu sẽ được loại bỏ. 2 năm sau khi Hiệp định có hiệu lực, các bên hạn chế tất cả các loại phí và phụ phí dưới bất kỳ hình thức nào áp dụng đối với xuất nhập khẩu, và đảm bảo rằng những loại phí và phụ phí đó không phải là một sự bảo hộ gián tiếp đối với sản xuất trong nước hoặc vì mục đích thu ngân sách.

7. Xác định trị giá tính thuế hải quan

Sau 2 năm kể từ khi Hiệp định có hiệu lực, các bên sẽ tuân thủ các quy định của WTO về xác định trị giá tính thuế hải quan, cụ thể là sử dụng giá giao dịch để tính thuế hải quan chứ không dựa vào giá trị của hàng hoá theo nước xuất xứ hoặc giá áp đặt không có cơ sở.

8. Tự vệ

Trong trường hợp nhập khẩu tăng đột biến đe doạ hoặc gây ra thiệt hại cho một ngành sản xuất trong nước thì nước nhập khẩu có thể áp dụng các hạn chế định lượng nhập khẩu, các biện pháp thuế quan hay bất kỳ các hạn chế nào khác mà nước nhập khẩu cho là phù hợp, và trong khoảng thời gian mà nước nhập khẩu cho là cần thiết.

9. Giải quyết tranh chấp

Các bên khuyến khích việc sử dụng trọng tài để giải quyết các tranh chấp phát sinh từ các giao dịch thương mại được ký kết giữa các công dân và công ty của hai bên. Mỗi bên bảo đảm tại lãnh thổ của mình có một cơ chế hiệu quả để công nhận và thi hành các phán quyết trọng tài.

10. Doanh nghiệp thương mại Nhà nước

Các Bên có thể thành lập hoặc duy trì doanh nghiệp nhà nước, hay dành cho một doanh nghiệp nhà nước bất kỳ, trên thực tế hay trên danh nghĩa, sự độc quyền hay đặc quyền nhập khẩu và xuất khẩu các sản phẩm liệt kê tại Phụ lục C

3. Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ về thương mại dịch vụ

Cam kết chung Công ty Hoa Kỳ được tiến hành hoạt động thương mại tại Việt Nam theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam dưới các hình thức: Hợp đồng hợp tác kinh doanh, xí nghiệp liên doanh, xí nghiệp 100% vốn Hoa Kỳ, BOT và BTO.

Các công ty Hoa Kỳ được phép đặt văn phòng đại diện tại Việt Nam. Các văn phòng này không được tiến hành hoạt động thu lợi nhuận tại Việt Nam.

Các công ty có vốn đầu tư trực tiếp của Hoa Kỳ được Chính phủ và chính quyền địa phương Việt Nam cho thuê đất.

Cam kết theo lĩnh vực

Dịch vụ pháp lý

  •  Được phép lập công ty 100% vốn Hoa Kỳ (kể cả chi nhánh).
  •  Chi nhánh được cấp lại giấy phép hoạt động 5 năm một lần.
  • Có thể tư vấn luật Việt Nam

Dịch vụ kế toán, kiểm toán

  • Trong vòng 3 năm kể từ ngày Hiệp định có hiệu lực, giấy phép cho các nhà cung cấp dịch vụ kế toán kiểm toán của Hoa Kỳ được cấp trên cơ sở phê duyệt theo từng trường hợp một. Sau thời hạn này sẽ không có một hạn chế nào khác.
  •  Trong vòng 2 năm kể từ khi Hiệp định có hiệu lực, các nhà cung cấp dịch vụ Hoa Kỳ chỉ được cung cấp dịch vụ cho các công ty có vốn đầu tư nước ngoài và dự án có tài trợ của nước ngoài. Sau thời hạn này sẽ không có bất kỳ hạn chế nào.

Dịch vụ kiến trúc, Dịch vụ kỹ thuật

  •  Được phép thành lập công ty 100% vốn Hoa Kỳ
  • Trong vòng 2 năm kể từ khi thành lập và hoạt động, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Hoa Kỳ chỉ được cung cấp dịch vụ cho các công ty có vốn đầu tư nước ngoài. Sau đó sẽ không có bất kỳ hạn chế nào.

Dịch vụ về vi tính và các dịch vụ liên quan

  • Được phép thành lập công ty 100% vốn Hoa Kỳ
  •  Trong vòng 2 năm kể từ khi thành lập và hoạt động, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Hoa Kỳ chỉ được cung cấp dịch vụ cho các công ty có vốn đầu tư nước ngoài. Sau đó sẽ không có bất kỳ hạn chế nào.

Dịch vụ quảng cáo

  • Được phép thành lập công ty liên doanh với vốn góp của phía Hoa Kỳ không vượt quá 49% vốn pháp định của liên doanh. 5 năm sau khi Hiệp định có hiệu lực hạn chế này sẽ là 51% và 7 năm sau khi Hiệp định có hiệu lực sẽ không còn bất kỳ hạn chế nào về tỷ lệ góp vốn trong liên doanh.

Dịch vụ nghiên cứu thăm dò thị trường

  • Được phép thành lập công ty liên doanh hoặc hợp đồng hợp tác kinh doanh
  • Vốn góp của phía Hoa Kỳ không vượt quá 49% vốn pháp định của liên doanh. 5 năm sau khi Hiệp định có hiệu lực hạn chế này sẽ là 51% và 7 năm sau khi HIệp định có hiệu lực sẽ không hạn chế tỷ lệ góp vốn trong liên doanh.

Dịch vụ Tư vấn quản lý

  • Được phép thành lập công ty liên doanh hoặc hợp đồng hợp tác kinh doanh
  • 5 năm sau khi Hiệp định có hiệu lực, được phép thành lập công ty 100% vốn Hoa Kỳ.

Dịch vụ viễn thông

  •  Đối với phương thức cung cấp dịch vụ qua biên giới, các nhà cung cấp dịch vụ Hoa Kỳ chỉ được phép thông qua hợp đồng hợp tác kinh doanh với đối tác Việt Nam
  •  Dịch vụ viễn thông giá trị gia tăng: Trong vòng 2 năm kể từ khi Hiệp định có hiệu lực (đối với dịch vụ Internet là 3 năm), phía Hoa Kỳ được thành lập công ty liên doanh với hạn chế không quá 50% vốn
  •  Dịch vụ Viễn thông cơ bản (bao gồm dịch vụ di động và vệ tinh): Trong vòng 4 năm kể từ khi Hiệp định có hiệu lực, phía Hoa Kỳ được thành lập công ty liên doanh với hạn chế không quá 49% vốn.
  •  Dịch vụ điện thoại cố định: Trong vòng 6 năm kể từ khi Hiệp định có hiệu lực, phía Hoa Kỳ được thành lập công ty liên doanh với hạn chế không quá 49% vốn.

Dịch vụ nghe nhìn (bao gồm các dịch vụ sản xuất và phân phối phim ảnh và chiếu phim)

  •  Được lập công ty liên doanh với hạn chế vốn đóng góp Hoa Kỳ 49%; 5 năm sau khi Hiệp định có hiệu lực, hạn chế này tăng lên 51%. Dịch vụ xây dựng và các dịch vụ đồng bộ liên quan
  •  Trong vòng 3 năm kể từ khi Hiệp định có hiệu lực các công ty Hoa Kỳ 100% vốn chỉ được phép cung cấp dịch vụ cho các công ty có vốn đầu tư nước ngoài. Sau đó sẽ không có bất kỳ hạn chế nào khác.

Dịch vụ phân phối

  • Dịch vụ phân phối bán buôn, bán lẻ: Được phép thành lập công ty liên doanh với hạn chế vốn đóng góp phía Hoa Kỳ 49% trong vòng 3 năm kể từ khi Hiệp định có hiệu lực. Sau 6 năm các hạn chế này sẽ được bãi bỏ.
  •  Ngoài ra, các doanh nghiệp có vốn Hoa Kỳ phải chịu sự điều chỉnh tại Phụ lục D đối với danh sách các mặt hàng được phép phân phối tại Việt Nam Dịch vụ giáo dục
  • Được phép thành lập liên doanh tại Việt Nam sau khi Hiệp định có hiệu lực. 7 năm sau khi Hiệp định có hiệu lực, được phép thành lập trường 100% vốn Hoa Kỳ.

Dịch vụ bảo hiểm

  • Bảo hiểm nhân thọ và các lĩnh vực "không bắt buộc" khác: 3 năm sau khi Hiệp định có hiệu lực, cho phép liên doanh, hạn chế 50% vốn phía Hoa Kỳ; 5 năm sau khi Hiệp định có hiệu lực, cho phép lập công ty 100% vốn Hoa Kỳ.
  • Các lĩnh vực bảo hiểm bắt buộc (ví dụ bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới, bảo hiểm trong xây dựng và lắp đặt): Các liên doanh có vốn Hoa Kỳ không được cung cấp dịch vụ trong vòng 3 năm sau khi Hiệp định có hiệu lực; đối với công ty 100% vốn Hoa Kỳ, thời gian hạn chế này là 6 năm.

Dịch vụ ngân hàng và các dịch vụ tài chính liên quan

  •  Cho phép ngân hàng Hoa Kỳ mở chi nhánh hoặc tham gia liên doanh với tỷ lệ góp vốn từ 30% đến 49%; sau 9 năm cho phép mở ngân hàng con với 100% vốn sở hữu của Hoa Kỳ. Tỷ lệ cổ phần của Hoa Kỳ trong các ngân hàng cổ phần Việt Nam cho phép ở mức ngang với người Việt Nam.
  • Yêu cầu vốn tối thiểu: 15 triệu $ đối với chi nhánh ngân hàng Hoa Kỳ; 10 triệu $ đối với liên doanh hoặc ngân hàng con 100% vốn Hoa Kỳ.
  •  Quyền thế chấp: Sau 3 năm, các tổ chức tài chính 100% vốn Hoa Kỳ có thể nhận thế chấp quyền sử dụng đất của các công ty đầu tư nước ngoài; trong trường hợp các công ty đó vỡ nợ, có thể sử dụng thế chấp để thanh lý.
  • Cho phép liên doanh hoặc công ty thuê mua tài chính 100% vốn Hoa Kỳ.
  •  Các chi nhánh ngân hàng Hoa Kỳ được nhận tiền gửi bằng đồng Việt Nam với một thời gian hạn chế là 8 năm.
  • 8 năm sau khi Hiệp định có hiệu lực, các tổ chức tài chính Hoa Kỳ có thể phát hành thẻ tín dụng trên cơ sở đãi ngộ quốc gia.
  •  Các ngân hàng Hoa Kỳ có thể đặt máy rút tiền tự động (ATM) ngoài các văn phòng của mình khi các ngân hàng Việt Nam được phép làm như vậy.

Các dịch vụ y tế và xã hội

  • Cho phép thành lập cơ sở chữa bệnh 100% vốn Hoa Kỳ;
  •  Đầu tư tối thiểu vào bệnh viện: 20 triệu $; tối thiểu đối với phòng khám đa khoa: 2 triệu $; tối thiểu đối với phòng khám chuyên khoa: 1 triệu $.

Dịch vụ du lịch và lữ hành ♦ Khách sạn và nhà hàng: Cho phép liên doanh hoặc 100% vốn;

  • Lữ hành và hướng dẫn du lịch: Cho phép liên doanh, hạn chế vốn Hoa Kỳ không quá 49%; sau 3 năm, cho phép vốn Hoa Kỳ không quá 51%; sau 5 năm không hạn chế vốn Hoa Kỳ trong liên doanh.

3. Hiệp định BTA chính là nền tảng tốt giúp Việt Nam tự tin hơn trong công cuộc hội nhập quốc tế

Ngày 13.7.2000, nguyên Bộ trưởng Bộ Thương mại Vũ Khoan và Đại diện Thương mại Mỹ Barshefsky ký Hiệp định Thương mại Song phương Việt Nam-Hoa Kỳ (BTA). Nếu không đạt được BTA, Việt Nam sẽ khó có cửa gia nhập WTO, một tổ chức mà luật chơi do Mỹ định hình và dẫn dắt. Khi đó, Mỹ gửi bản dự thảo Hiệp định Thương mại song phương. “Luật chơi” được Hoa Kỳ vạch rất rõ: Các điều khoản sẽ được đàm phán trên cơ sở các nguyên tắc của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Do đó, việc đàm phán thành công bản hiệp định này có một ý nghĩa quan trọng với Việt Nam, như một cuộc tập dượt thử sức trước khi bước vào sân chơi lớn toàn cầu là WTO. 

“Hiệp định BTA chính là nền tảng tốt giúp Việt Nam tự tin hơn trong công cuộc hội nhập quốc tế. Việt Nam chỉnh sửa, thay đổi hàng chục Luật, hoàn thiện khuôn khổ pháp lý mạnh mẽ. Sau BTA, Việt Nam tự tin đẩy mạnh hội nhập sâu rộng, gắn cam kết quốc tế với cải cách trong nước, đặc biệt là cải cách thể chế kinh tế” - TS Võ Trí Thành, nguyên Phó Viện trưởng CIEM, nhận định. 

BTA thúc đẩy một quá trình để Việt Nam từng bước xây dựng một hệ thống pháp luật công khai, minh bạch, không phân biệt đối xử để hội nhập vào kinh tế thế giới. 

" Tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ từ 1 tỉ USD vào năm 2000 đã tăng lên 10 tỉ USD vào năm 2007, chủ yếu nhờ tác động của việc ký kết BTA. Sau năm 2007, xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ tiếp tục tăng cao một phần do sự dịch chuyển chuỗi cung ứng toàn cầu, các nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam để tận dụng lợi thế nhân công rẻ do chi phí nhân công Trung Quốc tăng lên, và những doanh nghiệp FDI ở Việt Nam chủ yếu hướng ra xuất khẩu” - GS. David Dapice, chuyên gia hàng đầu về kinh tế Đông Nam Á tại Trường Quản lý Nhà nước John F Kennedy, Đại học Harvard, cho biết.

Năm 2020, dù xuất khẩu sang nhiều thị trường chịu ảnh hưởng lớn từ dịch COVID-19 nhưng thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ vẫn đạt 90,8 tỉ USD, tăng 19,8% so với năm 2019; trong đó, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường này đạt 77,1 tỉ USD, tăng 25,7% so với năm 2019; kim ngạch nhập khẩu từ Mỹ khoảng 13,7 tỉ USD, giảm 5%, xuất siêu của Việt Nam sang Mỹ ghi nhận 63,4 tỉ USD.

Đáng lưu ý, thương mại song phương tiếp tục được duy trì trong 7 tháng năm 2021 khi Hoa Kỳ tiếp tục là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch đạt 53,7 tỉ USD, tăng 37,7% so với cùng kỳ năm trước. Ở chiều nhập khẩu, Việt Nam nhập từ Hoa Kỳ 8,97 tỉ USD, tăng 10,6%. Nhận định về quan hệ Việt-Mỹ, Thứ trưởng Bộ Công Thương Đỗ Thắng Hải cho hay: Về bản chất, Việt Nam và Mỹ là hai nền kinh tế mang tính bổ sung cho nhau. Trong thời gian tới, Việt Nam sẽ tiếp tục cải cách kinh tế và hội nhập quốc tế, tăng cường hợp tác kinh tế, thương mại, đầu tư cùng có lợi với Hoa Kỳ, cùng hợp tác với doanh nghiệp Hoa Kỳ để thiết lập chuỗi sản xuất, chuỗi giá trị chất lượng.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về vấn đề về Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ. Mục đích đưa ra bản tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo. Trường hợp trong bản tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong bản tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề, rất mong nhận được phản ánh của quý khách tới địa chỉ email Tư vấn pháp luật qua Email hoặc tổng đài tư vấn trực tuyến 1900.6162. Chúng tôi sẵn sàng giải đáp.

Trân trọng./