1. Quy định chung về hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN)

Theo Tuyên bố Băngkôc, tôn chỉ và mục đích của ASEAN là:

1) Thúc đấy sự tăng trưởng kinh tế, tiến bộ xã hội và phát triển văn hoá trong khu vực;

2) Thúc đẩy hòa bình và ổn định khu vực;

3) Thúc đẩy sự cộng tác tích cực và giúp đỡ lẫn nhau trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn hoá, khoa học kĩ thuật và hành chính;

4) Hợp tác hữu hiệu hơn để sử dụng tốt hơn nền nông nghiệp và các ngành công nghiệp của nhau;

5) Giúp đỡ lẫn nhau trong các fĩnh vực đào tạo và cung cấp các phương tiện nghiên cứu; 6) Thúc đẩy việc nghiên cứu về Đông Nam Á;

7) Duy trì sự hợp tác chặt chẽ cùng có lợi với các tổ chức quốc tế và khu vực có cùng mục tiêu, tôn chỉ với ASEAN.

Cơ cấu ban đầu của ASEAN gồm:

1) Hội nghị Bộ trưởng ngoại giao các nước ASEAN (cơ quan cao nhất của ASEAN) được tổ chức hàng năm (trừ trường hợp đặc biệt nếu có yêu cầu);

>> Xem thêm:  Nạn nhân chiến tranh là gì ? Các quy định về kết thúc chiến sự và chấm dứt tình trạng chiến tranh

2) Uỷ ban thường trực thực hiện công việc của ASEAN trong thời gian giữa các Hội nghị Bộ trưởng ngoại giao. Thành phần của Uỷ ban gồm Chủ tịch là ngoại trưởng (hoặc người đại diện) nước chủ nhà và thành viên là các đại sứ của các quốc gia thành viên khác tại nước đó;

3) Các Uỷ ban chuyên môn, Uỷ ban ad-hoc gồm các chuyên gia về các vấn đề hợp tác cụ thể.

Ngoài ra còn có ban thư kí quốc gia được thành lập ở mỗi nước để chịu trách nhiệm thực hiện các công việc của ASEAN với tư cách đại diện cho nước mình.

Tại Hội nghị thượng đỉnh ASEAN lần thứ nhất năm 1976 tổ chức tại Bali (Inđônêxia), các nước ASEAN đã kí Hiệp ước thành lập Ban thư kí ASEAN để phối hợp hành động giữa các Uỷ ban và dự án hợp tác ASEAN. Tổng thư kí do các ngoại trưởng bổ ä nhiệm có nhiệm kì 2 năm trên cơ sở luân phiên theo trình tự chữ cái tên nước. Trụ sở của Ban thư kí ở Jakacta (Inđônêxia).

Bên cạnh Hội nghị Bộ trưởng ngoại giao, có thêm 5 Hội nghị Bộ trưởng khác được thiết lập (Hội nghị Bộ trưởng kinh tế, lao động, giáo dục, thông tin, phúc lợi xã hội).

Hội nghị thượng đỉnh ASEAN lần thứ 4 năm 1992 được tổ chức tại Xingapo đánh dấu bước quan trọng trong quá trình cải cách cơ cấu tổ chức của ASEAN, cụ thể: hình thành cơ chế Hội nghị thượng đỉnh những người đứng đầu Chính phủ các nước ASEAN họp chính thức 3 năm một lần để đề. ra phương hướng và chính sách chung cho hoạt động của ASEAN và đưa ra quyết định về các vấn để lớn; thành lập Hội đồng AFTA (khu vực mậu dịch tự do ASEAN) có nhiệm vụ theo dõi và báo cáo việc thực hiện CEPT (Hiệp định về chương trình ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung) lên Hội nghị Bộ trưởng kinh tế; cải tổ, tăng cường bộ máy Ban thư kí ASEAN.

Hiện nay, ASEAN có 10 thành viên chính thức, ngoài 5 thành viên sáng lập, hiện nay còn có, Brunei (gia nhập năm 1985), Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (gia nhập năm 1995), Lào và Myanma (gia nhập năm 1997) và Cămpuchia (gia nhập năm 1988).

Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (Association of Southeast Asian Nations - ASEAN)

Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (Association of Southeast Asian Nations - ASEAN) được thành lập ngày 8/8/1967 trên cơ sở Tuyên bổ Băng Cốc với năm thành viên sáng lập là Vương quốc Thái Lan, Malaysia, Cộng hoà Singapore, Cộng hoà Philippines và Cộng hoà Indonesia. Sau hơn bốn mươi năm tồn tại và phát triển, ASEAN đã tiếp nhận thêm năm thành viên gia nhập, bao gồm Bruney Darussalam (1985), Cộng hoà xã hội chù nghĩa Việt Nam (1995), Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào, Liên bang Myanmar (1997) và Vương quốc Campuchia (Ị999), nâng tổng số thành viên của ASEAN hiện nay (đến tháng 12/2015) lên mười thành viên.

>> Xem thêm:  Bảo hộ nạn nhân chiến tranh là gì ? Các quy định về bảo hộ nạn nhân chiến tranh

Trong hơn bốn mươi năm qua, ASEAN đã không ngừng phát triển và hoàn thiện các nguyên tắc Cơ bản và cơ cấu tổ chức để đạt được mục tiêu của ASEẠN như đã được ghi nhận trong Tuyên bố Băng Cốc và các văn bản pháp lý quốc tế sau này, đậc biệt là trong Hiến chương ASEAN (Hiến chương ASEAN được thông qua tại Hội nghị thượng đinh ASEAN lần thứ 11 ở Kuala Lumpur ngày 20/11/2007 và chính thức có hiệu lực ngày 15/12/2008, sau khi được 10 thành viên phê chuẩn). Từ một tổ chức khu vực có chế hoạt động và hợp tác lỏng lẻo, ưong những năm gần đây, ASEAN đang nổi lên như một tổ chức khu vực hình mẫu về sự năng đông và hợp tác có hiệu quả với cơ chế hợp tác ngoại khối mở và năng động. Đặc biệt, việc thông qua Hiển chương ASEAN đã đánh dấu bước ngoặt trong lịch sử của ASEAN, đưa tổ chức khu vực chuyển sang giai đoạn liên kết khu vực chặt chẽ hơn thông qua việc thiết lập Cộng đồng ASEAN. Hiển chương ASEAN không chỉ khẳng định tính chất pháp lý là tổ chức quốc tế liên chính phủ mà còn khẳng định rõ tư cách pháp nhân của ASEAN (Điều 3).

1. Mục tiêu, nguyên tắc của ASEAN

Trải qua các thời kỳ phát triển, ASEAN luôn kiên trì và tuân thủ những mục tiêu cũng như nguyên tắc hoạt động được đề ra từ văn kiện thành lập tổ chức (Tuyên bố Băng Cốc) và trong Hiến chương ASEAN. ASEAN luôn hướng tới những mục tiêu lớn, như xây dựng Đông Nam á thành khu vực hoà bình, ổn định, phi vũ khí hạt nhân và vũ khí hủy diệt; tăng cường hợp tác kinh tế, văn hoá, thu hẹp khoảng cách phát triển, nâng cao phúc lợi và đời sống nhân dân, tăng cường dân chủ, pháp quyền và quyền con người nhằm tạo dựng Cộng đồng ASEAN; đề cao bản sắc ASEAN đồng thời tôn ttọng các quyền và trách nhiệm của các thành viên ASEAN; tạo dựng và giữ vững vai ttò trung tâm và chủ động của ASEAN như là động lực chính trong quan hệ và hợp tác với các đối tác bên ngoài trong một cấu trúc khu vực mở, minh bạch và thu nạp.

Đê đạt được những mục tiêu lớn đó, hoạt động của ASEAN và các quốc gia thành viên phải tuân thủ các nguyên tẳc cơ bản của luật quốc tế hiện đại và những nguyên tắc riêng của tổ chức này, như đã được tái khẳng định tại khoản 2 Điều 2 Hiến chương ASEAN. Các nguyên tắc đó bao gồm: Tôn ttọng độc lập, chủ quyển, quyền bình đẳng và dân tộc tự quyết, toàn vẹn lãnh thổ và bản sắc dân tộc của các thành viên đồng thời nhấn mạnh giá trị chung trên tinh thần thống nhất trong đa dạng; không dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực trái với pháp luật quốc tế; giải quyết tranh chấp quốc tế bằng các biện pháp hoà bình; không can thiệp vào công việc nội bộ của các thành viên; tôn trọng pháp quyền, các nguyên tắc của nền dân chủ và chính phủ hợp hiến; thúc đẩy và bảo vệ nhân quyền, các quyền bình đẳng và đẩy mạnh công bằng xã hội; giữ vững vai ttò trung tâm và linh hoạt của ASEAN trong quan hệ ngoại khối trên tinh thần không phân biệt đối xử; tuân thủ các quy tắc thương mại đa phương chung và các cơ chế dựa ưên luật lệ của ASEAN nhằm triển khai có hiệu quả các cam kết kinh tế, tiến tới loại bỏ mọi rào cản đối với liên kết kinh tế khu vực trong một nền kinh tế do thị trường điều tiết.

2. Quy chế thành viên của ASEAN

Hiển chương cũng quy định rõ quy chế thành viên ASEAN tại Chương III. Ngoài việc khẳng định 10 thành viên tại thời điểm thông qua Hiến chương (Điều 4), các quốc gia muốn gia nhập phải tuân thủ các tiêu chí, điều kiện và thủ tục gia nhập theo quy định tại Điều 6 Hiến chương. Một quốc gia nếu đáp ứng được các tiêu chí như là quốc gia nằm trong khu vực địa lý Đông Nam Á, được các quốc gia thành viên ASEAN công nhận, chấp nhận sự ràng buộc và tuân thủ Hiến chương, có khả năng và sẵn sàng thực hiện các nghĩa vụ thành viên thì có thể xin gia nhập ASEAN. Quốc gia muốn gia nhập phải tuân thủ các thủ tục xin gia nhập do Hội đồng Điều phối ASEAN quy định và việc kết nạp sẽ do cấp cao ASEAN quyết định trên nguyên tắc đồng thuận, dựa trên khuyến nghị của Hội đồng điều phối ASEAN.

Các quốc gia thành viên ASEAN có các quyền và nghĩa vụ theo Hiến chương.

>> Xem thêm:  Dân thường trong chiến tranh là gì ? Quy định về bảo vệ dân thường trong chiến tranh

3. Cơ cấu tổ chức của ASEAN

Từ khi được thành lập tới nay, cơ cấu tổ chức của Hiệp hội các nước Đông Nam á đã có những cải tổ thường xuyên để phù hợp với khuôn khổ hợp tác ở từng thời kỳ phát triển. Theo Hiển chương, ASEAN có các thiết chế sau:

+ Cấp cao ASEAN - ASEAN Summit:

Là cơ quan hoạch định chính sách tối cao của ASEAN, với thành phần gồm nguyên thủ quốc gia hoặc người đứng đầu chính phù các nước thành viên, cấp cao ASEAN nhóm họp 2 nãm một lần (có thể họp bất thường khi cần thiết), dưới sự chủ trì của Chủ tịch ASEAN. Toàn bộ chức năng của cơ quan này được quy định cụ thể tại Điều 7 Hiến chương ASEAN, như quyết định các vấn đề then chốt của Hiệp hội, thực thi các biện pháp thích hợp để xử lý tình huống khẩn cấp tác động tới ASEAN, quyết định vấn đề kết nạp thành viên mới, cũng như tổ chức và hoạt động của một số thiết chế khác (ví dụ, bổ nhiệm Tổng thư ký ASEAN...).

+ Hội đồng điều phổi ASEAN - ASEAN Coordinating Council:

Theo Điều 8 Hiến chương, Hội đồng điều phối ASEAN là cơ quan bao gồm các bộ trưởng ngoại giao ASEAN, được nhóm họp ít nhất 2 lần trong năm. Hội đồng này có một số nhiệm vụ cụ thể liên quan đến việc’chuẩn bị các phiên họp của cấp cao ASEAN, phối hợp với hội đồng cộng đồng về hoạt động chức năng của hội đồng này, xem xét báo cáo của Tổng thư ký ASEAN và thực thi một số nhiệm vụ khác do cấp cao ASEAN chỉ đạo.

+ Các hội đồng cộng đồng ASEAN - ASEAN Community Councils:

Các hội đồng cộng đồng ASEAN bao gồm Hội đồng cộng đồng chính trị-an ninh, Hội đồng cộng đồng kinh tế và Hội đồng cộng đông văn hoá-xã hội. Các quốc gia thành viên sẽ cử đại diện quốc gia tham gia các cuộc họp của Hội đồng cộng đồng ASEAN (nhóm họp ít nhất 2 lần mỗi năm). Mỗi hội đồng sẽ có các cơ quan chuyên ngành cấp bộ trưởng trực thuộc như:

- Hội đồng cộng đồng chính trị-an ninh gồm 6 cơ quan.

- Hội đồng cộng đồng kinh tể gồm 14 cơ quan.

>> Xem thêm:  Chiến tranh giải phóng dân tộc là gì ? Quy định về xung đột vũ trang theo luật quốc tế

- Hội đồng cộng đồng văn hoá-xã hội gồm 17 cơ quan.

Nhiệm vụ chủ yếu cùa các cơ quan này là thực hiện thoả thuận, quyết định của cấp cao ASEAN trong lĩnh vực của mình, tăng cường hợp tác trong lĩnh vực chuyên ngành để hỗ trợ tiến trình xây dựng cộng đồng ASEAN.

- Tổng thư ký và Ban thư ký ASEAN:

So với những thời kỷ trước thì đây là cơ quan được cải tổ theo hướng tăng cường hoạt động hiệu quả và thiết thực cho Hiệp hội.

- Tổng thư ký ASEAN là chức vụ đo cấp cao ASEAN bổ nhiệm với nhiệm kỳ 5 năm, không tái bổ nhiệm. Tổng thư ký là quan chức hành chính cao cấp nhất của ASEAN. Người được bổ nhiệm giữ cương vị này phải là cộng dân của một trong số thành viên ASEAN, có năng lực, kinh nghiệm chuyên môn. Việc lựa chọn phải trên cơ sở cân bằng về giới cũng như thứ tự luân phiên trong nội bộ các nước thành viên. Các nhiệm vụ cùa Tổng thư ký được quy định tại Điều 11 Hiến chương.

- Ban thư ký ASEAN: Bao gồm Tổng thư ký và các nhân viên khác, hoạt động nhân danh ASEAN chứ không nhân danh quốc gia mà mình mang quốc tịch hoặc bất kỳ quốc gia nào khác.

- Ban thư ký ASEAN quốc gia: Đây là Ban thư ký do quốc gia thành viên tự thành lập, có nhiệm vụ là đàu mối cửa quốc gia trong các hoạt động liên quan đến ASEAN, như lưu trữ thông tin về các vấn đề có liên quan đến ASEAN ở cấp độ quốc gia, điều phối việc triển khai các quyết định của ASEAN ở cấp độ quốc gia...).

+ Ủy ban đại diện thường trực bên cạnh ASEAN:

Theo quy định của Hiến chương, mỗi quốc gia thành viên ASEAN bổ nhiệm một đại diện thường trực hàm đại sứ bên cạnh ASEAN, đặt tại Jakarta, ủy ban đại diện thường trực bao gồm đại sứ các quốc gia nhằm thực hiện nhiệm vụ hỗ ttợ công việc cho các hội đồng cộng đồng, phối hợp với Ban thư ký ASEAN và các đối tác bên ngoài, khi cần thực hiện nhiệm vụ khác do Hội đồng điều phối ASEAN quyết định.

+ Uỷ ban ASEAN ở nước thứ ba và các tổ chức quốc tế:

>> Xem thêm:  An ninh tập thể là gì ? An ninh toàn cầu là gì ? Hệ thống giữ gìn hoà bình và an ninh quốc tế

Uỷ ban ASEAN ở nước thứ ba có thể được thành lập tại các nước bên ngoài Hiệp hội, gồm những người đứng đầu cơ quan đại diện ngoại giao của các thành viên ASEAN tại quốc gia đó. Các ủy ban tương tự cũng có thể được thành lập bên cạnh tồ chức quốc tế. Nhiệm vụ chính của các ủy ban này là thúc đẩy lợi ích và bản sắc ASEAN tại nước sở tại và tổ chức quốc tế. Thủ tục hoạt động của ủy ban này do Hội nghị ngoại trưởng ASEAN quy định cụ thể.

Ngày 22/11/2015, tại Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 27, các quốc gia thành viên ASEAN đã tuyên bố thành lập Cộng đồng ASEAN vào ngày 31/12/2015 thông qua lễ ký kết Tuyên bố Kuala Lumpur. Theo nội dung Tuyên bố Kuala Lumpur về việc thành lập Cộng đồng ASEAN 2015, 10 quốc gia thành viên ASEAN cùng nhất trí về việc thành lập Cộng đồng ASEAN 2015 nhằm tạo ra một tổ chức với mục tiêu đem lại một khu vực Đông Nam Á hoà bình, an ninh và ổn định dài lâu, tăng trưởng kinh tế bền vững, thịnh vượng chung và tiến bộ xã hội.

Luật Minh Khuê (sưu tầm & biên tập)

>> Xem thêm:  Giải trừ quân bị là gì ? Nguyên tắc, các điều ước quốc tế về giải trừ quân bị