Kính thưa quý khách hàng!

Công ty Luật TNHH MINH KHUÊ xin gửi tới quý khách hàng lời chào trân trọng và cảm ơn quý khách đã tin tưởng vào dịch vụ do chúng tôi cung cấp. Chúng tôi nhận được yêu cầu của quý khách liên quan đến nội dung cụ thể như sau:

NỘI DUNG YÊU CẦU

Kính gửi Công ty Luật Minh Khuê!
Tôi có một vụ việc, muốn quý công ty tư vấn cho tôi, Nội dung vụ việc như sau: Vợ tôi là giáo viên dạy cấp 2, trong hai năm học 2018- 2019 và 2019-2020, vợ tôi cùng các giáo viên khác của nhà trường không tổ chức dạy thêm ở bên ngoài, chỉ dạy thêm trong trường (việc dạy thêm này do nhà trường đứng ra tổ chức, có phép. Tất cả các giáo viên của
nhà trường đều tham gia). Vừa qua vợ tôi cùng 4 giáo viên khác cùng trường bị tố cáo là "Dạy thêm không có phép năm học 2018-2019 và 2019-2020". Đơn tố cáo được gửi tới UBND quận, sau đó UBND quận chuyển đơn xuống nhà trường cho Hiệu trưởng giải quyết theo thẩm quyền (bao gồm phiếu chuyển đơn và đơn đi kèm). Hiệu trưởng nhà trường đã ban hành quyết định thụ lý tố cáo, (nhưng không thông báo nội dung tố cáo cho người bị tố cáo biết theo Điều 9 Nghị định 31 ngày 10/4/2019 của Thủ tướng Chính phủ). Thành lập đoàn xác minh nội dung tố cáo. Đoàn xác minh đã làm việc với người bị tố cáo; làm việc trực tiếp với người tố cáo, đã yêu cầu người tố cáo cung cấp thông tin, tài liệu, bằng chứng mà họ có được để làm rõ nội dung tố cáo. Nhưng tại buổi làm việc này người tố cáo không cung cấp được bất kỳ chứng cứ ... nào liên quan đến nội dung tố cáo. Sau khi có báo cáo kết quả xác minh nội dung tố cáo, Hiệu trưởng nhà trường đã ban hành kết luận nội dung tố cáo. Trong kết luận đã khẳng định rằng nội dung tố cáo là không có căn cứ, tố cáo không đúng sự thật. (Được biết người đứng đơn tố cáo là 1 giáo viên khác cùng trường nhưng theo qui định của pháp luật, người tố cáo được giữ bí mật họ tên, chỉ người giải quyết tố cáo và Đoàn xác minh mới được biết họ tên, địa chỉ người tố cáo). Vậy xin hỏi Luật sư tư vấn cho biết:
1) Hiệu trưởng xử lý không đúng quy trình thụ lý tố cáo (không thông báo nội dung tố cáo cho người bị tố cáo biết) thì bị xử lý thế nào? Cơ quan nào xử lý Hiệu trưởng?
2) Chế tài nào xử lý hành vi tố cáo không đúng sự thật theo Điều 36 Luật Tố cáo?
3) Người bị tố cáo hoặc Hiệu trưởng nhà trường làm cách nào để người
tố cáo lần sau không tái diễn hành vi tố cáo không đúng sự thật nữa? (thực tế người tố cáo này hay có hành vi gửi đơn linh tinh, tố cáo không đúng sự thật, như kiểu không thích ai thì cứ đơn từ, trúng thì trúng mà trật thì trật). Mặc dù người bị tố cáo không sai phạm gì, nhưng cứ bị liên quan đến đơn từ thì sẽ ảnh hưởng đến uy tín danh dự...
4) Các mẫu văn bản xử lý người tố cáo sai sự thật? Do trình độ có hạn, nên nhiều khi diễn đạt chưa hết ý, Luật sư có thể liên lạc lại những vấn đề nào cần làm rõ.
Trân trọng cảm ơn Luật sư!

CƠ SỞ PHÁP LÝ

Bộ luật hình sự 2015;

Luật cán bộ, công chức 2008;

Luật Tố cáo 2018;

Luật viên chức 2010;

Nghị định 31/2019/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp tổ chức thi hành luật tố cáo;

>> Xem thêm:  Quy định mới nhất năm 2021 đối với việc thi tuyển, xét tuyển giáo viên tại Tp Hồ Chí Minh

Thông tư 12/2020/TT-BGDĐT hướng dẫn về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Sở Giáo dục và Đào tạo thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Phòng Giáo dục và Đào tạo thuộc Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc Trung ương do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành;

NỘI DUNG TƯ VẤN

1) Hiệu trưởng xử lý không đúng quy trình thụ lý tố cáo (không thông báo nội dung tố cáo cho người bị tố cáo biết) thì bị xử lý như thế nào? Cơ quan nào xử lý hiệu trưởng?

Trả lời:

Để trả lời được câu hỏi này, cần làm rõ được hai vấn đề đó là: Hiệu trưởng có vi phạm quy trình giải quyết tố cáo không? Nếu vi phạm thì xử lý như thế nào?

Vấn đề 1: Hiệu trưởng có vi phạm không?

Theo khoản 2 Điều 9 nghị định 31/2019/NĐ-CP quy định như sau:

“Điều 9. Thụ lý tố cáo, thông báo việc thụ lý tố cáo

2. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định thụ lý tố cáo, người giải quyết tố cáo có trách nhiệm thông báo cho người tố cáo và thông báo về nội dung tố cáo cho người bị tố cáo biết. Thông báo việc thụ lý tố cáo được thực hiện theo Mẫu số 05, thông báo về nội dung tố cáo cho người bị tố cáo thực hiện theo Mẫu số 06 tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định này.”

Theo quy định này, trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định thụ lý tố cáo, người giải quyết tố cáo trong trường hợp này là Hiệu trưởng phải có trách nhiệm thông báo về nội dung tố cáo cho người bị tố cáo - là vợ anh biết. Tuy nhiên, hiệu trưởng đã không thông báo về nội dung tố cáo cho vợ anh biết. Điều này vi phạm quy định nêu trên.

>> Xem thêm:  Chỉ còn hai loại hợp đồng lao động kể từ ngày 01/01/2021

Kết luận: Hiệu trưởng có vi phạm khoản 2 Điều 9 nghị định 31/2019/NĐ-CP

Vấn đề 2: Hiệu trưởng có thể bị xử lý như thế nào?

Điều 21 Nghị định 31/2019/NĐ-CP quy định: Người có thẩm quyền giải quyết tố cáo có hành vi vi phạm pháp luật tố cáo thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật theo quy định của pháp luật và quy định tại Điều 22, Điều 23 Nghị định 31/2019/NĐ-CP hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự. Trường hợp gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.

Nguyên tắc, thẩm quyền, trình tự, thủ tục xử lý kỷ luật và quy định khác có liên quan được thực hiện theo quy định của pháp luật về xử lý kỷ luật đối với cán bộ, công chức, viên chức.

Tại điều 22 Nghị định 31/2019/NĐ-CP quy định khá cụ thể về việc xử lý kỷ luật đối với người có thẩm quyền giải quyết tố cáo, theo đó có 3 hình thức kỷ luật đó là: khiển trách, cảnh cáo và cách chức. Cụ thể như sau:

- Hình thức kỷ luật khiển trách áp dụng đối với người có thẩm quyền giải quyết tố cáo khi có một trong các hành vi vi phạm pháp luật sau đây:

+ Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong việc giải quyết tố cáo để thực hiện hành vi trái pháp luật;

+ Không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ trách nhiệm bảo vệ người tố cáo dẫn đến việc người tố cáo bị trả thù, trù dập.

- Hình thức kỷ luật cảnh cáo áp dụng đối với người có thẩm quyền giải quyết tố cáo khi có một trong các hành vi vi phạm pháp luật sau đây:

+ Tiết lộ họ, tên, địa chỉ, bút tích của người tố cáo và những thông tin khác làm lộ danh tính của người tố cáo;

>> Xem thêm:  Quy định mới năm 2021 về cách tính thời gian nghỉ hè của giáo viên ?

+ Cố ý không thụ lý tố cáo, không ban hành kết luận nội dung tố cáo; không quyết định xử lý tố cáo theo thẩm quyền hoặc không kiến nghị người có thẩm quyền xử lý tố cáo.

- Hình thức kỷ luật cách chức áp dụng đối với người có thẩm quyền giải quyết tố cáo khi có một trong các hành vi vi phạm pháp luật sau đây:

+ Cố ý không giải quyết hoặc cố ý giải quyết tố cáo trái pháp luật gây mất ổn định, an ninh, trật tự xã hội;

+ Cố ý bỏ qua các bằng chứng, bỏ lọt các thông tin, tài liệu, làm mất hoặc làm sai lệch hồ sơ vụ việc; bao che cho người bị tố cáo gây mất ổn định, an ninh, trật tự xã hội;

+ Không áp dụng biện pháp bảo vệ người tố cáo thuộc thẩm quyền làm cho người tố cáo bị trả thù, trù dập dẫn đến thương tích hoặc tổn hại cho sức khỏe với tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên hoặc bị chết.

Ở đây có thể thấy trong trường hợp này hành vi của hiệu trưởng giải quyết tố cáo trái pháp luật. Tuy nhiên, phải xem xét đến hậu quả xảy ra trong trường hợp này là gì? Nếu hành vi của hiệu trưởng gây mất ổn định nhà trưởng thì theo quy định trên có thể bị kỷ luật cách chức. Do đó, trong trường hợp này việc có gây ra hậu quả hay không và hậu quả như thế nào là một điều hết sức quan trọng và cần làm rõ để có thể xác định được hình thức kỷ luật phù hợp.

- Về thẩm quyền xử lý vi phạm: Theo quy định tại Điều 4 Thông tư 12/2020/TT-BGDĐT thì UBND cấp quận có thẩm quyền bổ nhiệm cán bộ quản lý giáo dục. Vì vậy, chủ tịch UBND quận có thẩm quyền xem xét xử phạt vi phạm hành vi giải quyết tố cáo không đúng quy định của hiệu trưởng.

Câu hỏi 2: Chế tài nào xử lý hành vi tố cáo không đúng sự thật theo Điều 36 Luật Tố cáo?
Trả lời:

Điều 23 Nghị định 31/2019/NĐ-CP quy định như sau:

Điều 23. Xử lý kỷ luật đối với người tố cáo là cán bộ, công chức, viên chức

>> Xem thêm:  Thủ tục thành lập trung tâm Yoga ?

Cán bộ, công chức, viên chức biết rõ việc tố cáo là không đúng sự thật nhưng vẫn tố cáo nhiều lần hoặc biết vụ việc đã được cơ quan, người có thẩm quyền giải quyết đúng chính sách, pháp luật nhưng vẫn tố cáo nhiều lần mà không có bng chứng chng minh nội dung tố cáo; cưỡng ép, lôi kéo, kích động, dụ dỗ, mua chuộc người khác tố cáo sai sự thật; sử dụng họ tên của người khác để tố cáo gây mất đoàn kết nội bộ hoặc ảnh hưởng đến uy tín, hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức, đơn vị thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm sẽ bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

  1. Vậy theo quy định này, người có hành vi tố cáo có thể bị xử lý kỷ luật trong trường hợp sau:

- Biết rõ việc tố cáo là không đúng sự thật nhưng vẫn tố cáo nhiều lần (tố cáo từ 2 lần trở lên).

- Người tố cáo biết vụ việc đã được cơ quan, người có thẩm quyền giải quyết đúng chính sách, pháp luật nhưng vẫn tố cáo nhiều lần mà không có bằng chứng chứng minh nội dung tố cáo.

- Cưỡng ép, lôi kéo, kích động, dụ dỗ, mua chuộc người khác tố cáo sai sự thật.

- Sử dụng họ tên của người khác để tố cáo gây mất đoàn kết nội bộ hoặc ảnh hưởng đến uy tín, hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức, đơn vị.

Vậy theo quy định này, người tố cáo chỉ bị xử lý kỷ luật trong những trường hợp nêu trên. Nếu đây là lần tố cáo đầu tiên, ngoài ra người tố cáo không có động cơ, mục đích nào khác thì không bị xử lý kỷ luật theo quy định này.

  1. Người tố cáo còn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội vụ khống quy định tại Điều 156 Bộ luật hình sự 2015 khi bịa đặt người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền.

“Điều 156. Tội vu khống

1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm:

a) Bịa đặt hoặc loan truyền những điều biết rõ là sai sự thật nhằm xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác;

b) Bịa đặt người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền.”

>> Xem thêm:  Định mức tiết dạy của giáo viên tiểu học hiện hành?

Trường hợp này, cần xác định được động cơ, hành vi mà mục đích của người tố cáo để có thể xác định có đủ dấu hiệu cấu thành tội phạm nêu trên không? Nếu người tố cáo biết rõ là không có sự việc tố cáo xảy ra, vợ anh hoàn toàn không làm, nhưng vẫn cố ý bịa đặt và tố cáo với UBND, với nhà trường thì hành vi của người này có dấu hiệu của tội vụ khống.

Câu hỏi 3: Người bị tố cáo hoặc Hiệu trưởng nhà trường làm cách nào để người
tố cáo lần sau không tái diễn hành vi tố cáo không đúng sự thật nữa? (thực tế người tố cáo này hay có hành vi gửi đơn linh tinh, tố cáo không đúng sự thật, như kiểu không thích ai thì cứ đơn từ, trúng thì trúng mà trật thì trật). Mặc dù người bị tố cáo không sai phạm gì, nhưng cứ bị liên quan đến đơn từ thì sẽ ảnh hưởng đến uy tín danh dự...

Trả lời:

Nếu người tố cáo biết rõ việc tố cáo là không đúng sự thật nhưng vẫn tố cáo từ 2 lần trở lên thì Hiệu trưởng nhà trường cũng có thể dựa trên Điều 23 Nghị định 31/2019/NĐ-CP để xử lý kỷ luật.

Ngoài ra, Như phân tích ở câu hỏi 2, nếu người tố cáo có hành vi như anh nêu. Anh có thể làm đơn tố cáo ra cơ quan công an cấp quận để đề nghị làm rõ hành vi vu khống của người tố cáo nêu trên. Từ đó, xác định trách nhiệm của người tố cáo. Qua quá trình xác minh, nếu đủ các dấu hiệu, hành vi vi phạm thì người tố cáo sẽ bị xử lý theo đúng quy định của pháp luật.

Câu hỏi 4. Các mẫu văn bản xử lý người tố cáo sai sự thật?

Như đã phân tích ở các câu hỏi trên, việc xử lý đơn tố cáo sai sự thật có hai hình thức: Đó là kỷ luật và truy cứu trách nhiệm hình sự. (Điều 23 Nghị định 31/2019/NĐ-CP )

Đối với các mẫu xử lý kỷ luật theo nghị định 27/2012/NĐ-CP quy định về xử lý kỷ luật viên chức không có mẫu kèm theo mà chỉ quy định chi tiết, cụ thể quy trình xử lý kỷ luật. Trong đó có phát sinh các văn bản liên quan như: Biên bản họp, kiểm điểm, quyết định kỷ luật. Tuy nhiên, những văn bản này người tiến hành có thể soạn có đầy đủ nội dung theo đúng quy định pháp luật.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi vềGiải quyết tố cáo” Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và hồ sơ do quý khách cung cấp. Mục đích đưa ra bản tư vấn này là để quý khách tham khảo. Trường hợp trong bản tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong bản tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề, rất mong nhận được phản ánh của quý khách. Chúng tôi sẵn sàng giải đáp.

Trân trọng cảm ơn!

>> Xem thêm:  Giáo viên mầm non có thể mở nhóm trẻ tại nhà không ?

Bộ phận tư vấn Pháp luật

Công ty Luật TNHH Minh Khuê

>> Xem thêm:  Các chế độ phụ cấp cho giáo viên ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn?