1. Hồ sơ xin ly hôn quy định ở văn bản luật nào ?

Chào luật sư Minh Khuê, Em đang làm luận văn thi tại chức, em có tìm hiểu về hồ sơ xin ly hôn gồm giấy tờ sau : Giấy Chứng nhận kết hôn (bản chính); Giấy khai sinh các con; Hộ khẩu, CMND; Giấy tờ về chứng minh sở hữu, sở dụng tài sản hợp pháp. Nhưng em tìm hết khắp nơi không biết văn bản nào quy định về những giấy tờ như vậy. Và nhất là quy định về Giấy Chứng nhận kết hôn lại phải là bản chính nữa ?
Em mong nhận được hồi âm. Xin chân thành cảm ơn! chúc các anh các chị luôn có nhiều khách hàng lớn !

Luật sư tư vấn:

Theo Bộ luật tố tụng dân sự 2015 có quy định về việc cung cấp tài liệu chứng cứ chứng minh kèm theo đơn khởi kiện.

"Điều 189. Hình thức, nội dung đơn khởi kiện...

5. Kèm theo đơn khởi kiện phải có tài liệu, chứng cứ chứng minh quyền, lợi ích hợp pháp của người khởi kiện bị xâm phạm. Trường hợp vì lý do khách quan mà người khởi kiện không thể nộp đầy đủ tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện thì họ phải nộp tài liệu, chứng cứ hiện có để chứng minh quyền, lợi ích hợp pháp của người khởi kiện bị xâm phạm. Người khởi kiện bổ sung hoặc giao nộp bổ sung tài liệu, chứng cứ khác theo yêu cầu của Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án."

"Điều 95. Xác định chứng cứ

1. Tài liệu đọc được nội dung được coi là chứng cứ nếu là bản chính hoặc bản sao có công chứng, chứng thực hợp pháp hoặc do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cung cấp, xác nhận.

2. Tài liệu nghe được, nhìn được được coi là chứng cứ nếu được xuất trình kèm theo văn bản trình bày của người có tài liệu đó về xuất xứ của tài liệu nếu họ tự thu âm, thu hình hoặc văn bản có xác nhận của người đã cung cấp cho người xuất trình về xuất xứ của tài liệu đó hoặc văn bản về sự việc liên quan tới việc thu âm, thu hình đó.

3. Thông điệp dữ liệu điện tử được thể hiện dưới hình thức trao đổi dữ liệu điện tử, chứng từ điện tử, thư điện tử, điện tín, điện báo, fax và các hình thức tương tự khác theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử.

4. Vật chứng là chứng cứ phải là hiện vật gốc liên quan đến vụ việc.

5. Lời khai của đương sự, lời khai của người làm chứng được coi là chứng cứ nếu được ghi bằng văn bản, băng ghi âm, đĩa ghi âm, băng ghi hình, đĩa ghi hình, thiết bị khác chứa âm thanh, hình ảnh theo quy định tại khoản 2 Điều này hoặc khai bằng lời tại phiên tòa.

6. Kết luận giám định được coi là chứng cứ nếu việc giám định đó được tiến hành theo đúng thủ tục do pháp luật quy định.

7. Biên bản ghi kết quả thẩm định tại chỗ được coi là chứng cứ nếu việc thẩm định được tiến hành theo đúng thủ tục do pháp luật quy định.

8. Kết quả định giá tài sản, kết quả thẩm định giá tài sản được coi là chứng cứ nếu việc định giá, thẩm định giá được tiến hành theo đúng thủ tục do pháp luật quy định.

9. Văn bản ghi nhận sự kiện, hành vi pháp lý do người có chức năng lập tại chỗ được coi là chứng cứ nếu việc lập văn bản ghi nhận sự kiện, hành vi pháp lý được tiến hành theo đúng thủ tục do pháp luật quy định.

10. Văn bản công chứng, chứng thực được coi là chứng cứ nếu việc công chứng, chứng thực được thực hiện theo đúng thủ tục do pháp luật quy định.

11. Các nguồn khác mà pháp luật có quy định được xác định là chứng cứ theo điều kiện, thủ tục mà pháp luật quy định."

Ngoài ra bạn có thể tham khảo tại Nghị Quyết số 05/2012/NQ-HĐTP hướng dẫn bộ luật tố tụng dân sự “Thủ tục giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm” của Bộ luật Tố tụng Dân sự đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự

"6. Tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện quy định tại Điều 189 của BLTTDS

Về nguyên tắc, khi gửi đơn khởi kiện cho Toà án, người khởi kiện phải gửi kèm theo tài liệu, chứng cứ để chứng minh họ là người có quyền khởi kiện và những yêu cầu của họ là có căn cứ và hợp pháp. Tuy nhiên, trong trường hợp vì lý do khách quan nên họ không thể nộp ngay đầy đủ các tài liệu, chứng cứ, thì họ phải nộp các tài liệu, chứng cứ ban đầu chứng minh cho việc khởi kiện là có căn cứ. Các tài liệu, chứng cứ khác, người khởi kiện phải tự mình bổ sung hoặc bổ sung theo yêu cầu của Toà án trong quá trình giải quyết vụ án.

Ví dụ 1: Khi gửi đơn khởi kiện cho Toà án yêu cầu giải quyết ly hôn (có đăng ký kết hôn hợp pháp), nuôi con, chia tài sản, thì về nguyên tắc người khởi kiện phải gửi kèm theo đầy đủ các tài liệu, chứng cứ về quan hệ hôn nhân, con, tài sản chung của vợ chồng; nếu họ chưa thể gửi đầy đủ các tài liệu, chứng cứ này, thì cùng với đơn khởi kiện, họ phải gửi bản sao giấy đăng ký kết hôn, bản sao giấy khai sinh của con (nếu có tranh chấp về nuôi con)."

- Còn việc nộp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn bản chính bạn có thể hiểu là sau : khi nộp hồ sơ ly hôn tòa án giữ giấy chứng nhận đăng ký kết hôn bản chính thuận tiện cho việc sau khi có bản án sẽ tiến hành hủy giấy đăng ký kết hôn khi anh chị không còn là vợ chồng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Thủ tục xin ly hôn khi đang mang thai ? Cơ quan nào có thẩm quyền giải quyết ly hôn ?

2. Vợ làm giáo viên có được nuôi cả hai con sau ly hôn ?

Thưa luật sư, Vợ chồng tôi có với nhau 2 đứa con 1 cháu trai 5 tuổi và 1 cháu gái 2tuổi, nghề nghiệp của tôi là giáo viên còn chồng tôi thì làm bên xây dựng không ổn định nếu vợ chồng tôi bỏ nhau thì tôi có được phép nuôi cả 2 đứa con hay không ?
Tôi xin cảm ơn

Luật sư trả lời:

Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn như sau:

Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.

Theo thông tin bạn cung cấp thì vợ chồng bạn có 2 cháu, một cháu 5 tuổi và một cháu 2 tuổi. Căn cứ theo quy định tại khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi vì vậy cháu bé 2 tuổi sẽ được giao cho bạn trực tiếp nuôi.

Đối với cháu bé 5 tuổi, vợ chồng bạn có thể thỏa thuận với nhau về người nuôi con, nghĩa vụ của mỗi bên đối với con sau khi ly hôn, trong trường hợp vợ chồng bạn không thỏa thuận được thì Tòa án sẽ quyết định người nuôi con sau khi xem xét lợi ích về mọi mặt của cháu bé.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi về yêu cầu của bạn. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại, gọi ngay số: 1900.6162 để được giải đáp. Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Tư vấn quyền nuôi con khi ly hôn theo quy định mới năm 2020 ?

3. Làm thế nào để giành quyền nuôi con khi hai vợ chồng đã ly hôn được nhiều năm ?

Xin chào Luật sư! Xin trình bày với Luật sư về hoàn cảnh của em như sau: Em và chồng em đã ly hôn được 5 năm, sau khi ly hôn theo quyết định ly hôn của Tòa án thì chồng là người trực tiếp nuôi con vì lúc đó em không đủ điều kiện nuôi. Hiện nay do chồng em đã đi bước nữa nên tình cảm và thời gian giành cho bé không còn, thường xuyên chửi mắng, thậm chí đánh cháu. Nhiều lần cháu gọi điện thoại và nhắn tin mong muốn về với mẹ.
Vậy Luật sư cho biết làm thế nào để giành quyền nuôi con, xin Luật sư hướng dẫn thủ tục ?
Người gửi: T.L.T

>> Luật sư tư vấn luật hôn nhân gọi: 1900.6162

Trả lời:

Trả lời:

Trong trường hợp của bạn, chúng tôi xin được đưa ra phương án giải quyết như sau:

1. Quy định Pháp Luật về thay đổi người trực tiếp nuôi con như sau:

Khi hai vợ chồng đã ly hôn nhiều năm, nhận thấy điều kiện, môi trường sống của người trực tiếp nuôi con (bố) không đảm bảo, con mong muốn về ở với người không trực tiếp nuôi (mẹ), thì bạn có quyền khởi kiện lên Tòa án nhân dân có thẩm quyền để đề nghị thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Căn cứ theo điều 84, Luật hôn nhân và gia đình 2014, có quy định về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn như sau:

Điều 84. Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

1. Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều này, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

2. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con được giải quyết khi có một trong các căn cứ sau đây:

a) Cha, mẹ có thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phù hợp với lợi ích của con;

b) Người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

3. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phải xem xét nguyện vọng của con từ đủ 07 tuổi trở lên.

4. Trong trường hợp xét thấy cả cha và mẹ đều không đủ điều kiện trực tiếp nuôi con thì Tòa án quyết định giao con cho người giám hộ theo quy định của Bộ luật dân sự.

5. Trong trường hợp có căn cứ theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều này thì trên cơ sở lợi ích của con, cá nhân, cơ quan, tổ chức sau có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con:

a) Người thân thích;

b) Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình;

c) Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em;

d) Hội liên hiệp phụ nữ.

Trường hợp của bạn là trường hợp thay đổi người trực tiếp nuôi con vì lý do: Người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

2. Thủ tục để thay đổi người trực tiếp nuôi con:

Theo quy định của pháp Luật muốn giành quyền trực tiếp nuôi con phải làm đơn khởi kiện lên Tòa án nhân dân nơi bị đơn đang cư trú (trong trường hợp của bạn là nơi bố của cháu đang cư trú). Để được Tòa án thụ lý và giải quyết bạn chuẩn bị đầy đủ các giấy tờ sau:

- Đơn khởi kiện thay đổi quyền trực tiếp nuôi con (theo Mẫu số 23-DS )

- Quyết định ly hôn của Tòa án (bản sao công chứng)

- Chứng minh thư nhân dân và sổ hộ khẩu của nguyên đơn (bản sao công chứng)

- Giấy khai sinh của con (bản sao)

- Giấy xác nhận nơi cư trú của bị đơn

- Các giầy tờ, bằng chứng chứng minh người đang trực tiếp nuôi con không đủ điều kiện nuôi con.

>> Gửi lên Tòa án nơi chồng cũ hiện đang cư trú.

Sau đó Tòa án sẽ thụ lý và giải quyết theo quy định của Pháp Luật.

4. Giành quyền nuôi con sau ly hôn?

Thưa luật sư, xin hỏi: Em tên trinh, vợ chồng em cưới nhau được 10 năm và có một bé 7 tuổi.thời gian qua chồng em không lo làm ăn chỉ lo chơi bời không lo cho vợ con.em phải đi làm để nuôi con và lo cho chồng.với mức lương công nhân nên vợ chồng em ngày càng nợ nần,đã 3 năm nay vợ chồng em đã dần mất đi hạnh phuc.cho đến nay em quyết định về nhà ba mẹ sống.về phần con em thì ở nhà chồng học đến chiều thứ 6 thì em đón về nhà ngoại đến thứ 2 đưa cháu về học.em về nhà mẹ được 5 tháng rồi và cả 2 điều chấp nhận ký đơn thuận tình ly hôn.về phần nợ hơn 30tr (ba mươi triệu) em tự trả.luật sư cho em hỏi thời gian sống với chồng vì chồng không làm việc nên gia đình thiếu hụt,vì thế gia đình mẹ em luôn chu cấp cho vợ chồng em.và thời gian gần đây em có đến với người khác điều đoa chồng em cũng biết.cả 2 đã đồng ý ký đơn và thỏa thuận phần tài sản và nợ nần.nhưng về con thì em và chồng em điều muốn giành quyền nuôi con.nhưng theo cuộc sống 10 năm qua em thấy chồng em không có khả nâng nuôi dạy cháu tốt.em mong luật sư có thể giúp cho em biết về tình trạng bây giờ em có thể giành quyền nuôi cháu khi ra tòa ly hôn không ạ.cám ơn luật sư rất nhiều.

>> Xem thêm:  Tư vấn giải quyết cưỡng chế thi hành án khi chồng không thực hiện nghĩa vụ tài sản sau ly hôn ?

Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định:

"Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con"

Trong trường hợp của bạn, vợ chồng bạn sẽ thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con. Trong trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án sẽ xem xét, quyết định trên cơ sở bảo đảm quyền lợi mọi mặt của con. Một số căn cứ có thể được xem xét như: điều kiện sống từ lúc cháu sinh ra đến khi ly hôn; đạo đức, lối sống có ảnh hưởng đến cuộc sống của cháu con sau này; điều kiện về kinh tế có thể bảo đảm cuộc sống cho con; điều điều kiện về chỗ ở và các điều kiện khác.

Về việc chia tài sản chung,

Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng
1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.
Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.
2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.
3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.

Như vậy, những tài sản được hình thành trong thời kỳ hôn nhân sẽ được coi là tài sản chung của vợ chồng. Khi ly hôn, những tài sản chung đó sẽ được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố như:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

Thưa luật sư, xin hỏi: Em mới sang hàn theo diện visa kết hôn 15/3 tháng trc. Sống chung được hơn 1 tuần thì e thấy ko phù hợp và thích nghi với cuộc sống bên đó nên e đã bỏ ra ngoài. Hôm qua 24/4 e mới mua được vé về việt nam và ko muốn sang Hàn sống nữa. Vậy gia đình nhà chồng bên Hàn có về việt nam kiện nhà e được không và thủ tục pháp lý để theo kiện như thế nào ạ? Mong văn phòng luật sư cố gắng trả lời giúp e với a. E chân thành cảm ơn ạ

Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định:

Điều 127. Ly hôn có yếu tố nước ngoài

1. Việc ly hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, giữa người nước ngoài với nhau thường trú ở Việt Nam được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam theo quy định của Luật này.

2. Trong trường hợp bên là công dân Việt Nam không thường trú ở Việt Nam vào thời điểm yêu cầu ly hôn thì việc ly hôn được giải quyết theo pháp luật của nước nơi thường trú chung của vợ chồng; nếu họ không có nơi thường trú chung thì giải quyết theo pháp luật Việt Nam.

3. Việc giải quyết tài sản là bất động sản ở nước ngoài khi ly hôn tuân theo pháp luật của nước nơi có bất động sản đó.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc liên hệ văn phòng để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Việc chia tài sản trước khi ra tòa ly hôn có vi phạm pháp luật không ?

5. Thủ tục ly hôn và chia tài sản khi có tranh chấp ?

Thưa Luật sư, chị tôi đang chuẩn bị ly hôn mà tài sản và nợ thì không thỏa thuận được. Chị tôi sinh năm 1990 kết hôn năm 2015. Và có 2 con đứa lớn sinh năm 2017. Nhỏ sinh năm 2019. Tài sản gồm 1 miếng đất do cha mẹ chồng cho đã lâu mà có chồng chị đứng tên, 1 căn nhà mới mua khoảng 400 triệu ở Nhà Bè mà mẹ ruột có cho 100 triệu. Và 1 chiếc xe kobe lúc mua mẹ ruột cũng có cho 25tr và còn nợ mẹ ruột là 200tr nữa là tiền mua nhà.
Vậy cho hỏi sau ly hôn phải phân chia thế nào và có thưa được chồng chị về tội lấy vợ chưa đủ tuổi vị thành niên không ?
Cảm ơn luật sư!
Người gửi: Tiến

Thủ tục ly hôn và chia tài sản khi có tranh chấp ?

Luật sư tư vấn pháp luật hôn nhân gọi: 1900.6162

Trả lời:

Theo như bạn trình bày thì chị bạn kết hôn năm 1986 do đó luật áp dụng trong trường hợp này sẽ là Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Điều 5 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:

Điều 8. Điều kiện kết hôn

1. Nam, nữ kết hôn với nhau phải tuân theo các điều kiện sau đây:

a) Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên;

b) Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định;

c) Không bị mất năng lực hành vi dân sự;

d) Việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn theo quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 2 Điều 5 của Luật này.

2. Nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính.

Theo như quy định trên thì chị bạn không đủ điều kiện đăng ký kết hôn. Như vậy, khi chị bạn nộp đơn lên tòa thì tòa sẽ tuyên bố không công nhận việc kết hôn giữa vợ chồng anh chị.

Căn cứ Luật hôn nhân và gia đình 2014 hậu quả của việc hủy kết hôn trái pháp luật là

"Điều 12. Hậu quả pháp lý của việc hủy kết hôn trái pháp luật

1. Khi việc kết hôn trái pháp luật bị hủy thì hai bên kết hôn phải chấm dứt quan hệ như vợ chồng.

2. Quyền, nghĩa vụ của cha, mẹ, con được giải quyết theo quy định về quyền, nghĩa vụ của cha, mẹ, con khi ly hôn.

3. Quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên được giải quyết theo quy định tại Điều 16 của Luật này."

"Điều 16. Giải quyết quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn

1. Quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn được giải quyết theo thỏa thuận giữa các bên; trong trường hợp không có thỏa thuận thì giải quyết theo quy định của Bộ luật dân sự và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

2. Việc giải quyết quan hệ tài sản phải bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của phụ nữ và con; công việc nội trợ và công việc khác có liên quan để duy trì đời sống chung được coi như lao động có thu nhập."

Như vậy bạn có thể căn cứ theo quy định của pháp luật trên đây để giải quyết về trường hợp của mình. Khi hết thời hiệu việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân gia đình, lúc đó chị bạn sẽ không bị xử lý vi phạm.

Trên đây là một số tư vấn của chúng tôi cho vấn đề của bạn. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty chúng tôi.

Trân trọng!

Bộ phận tư vấn pháp luật hôn nhân - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Quyền lợi của vợ và con khi vợ chồng ly hôn ? Ly hôn khi mắc bệnh lây nhiễm từ chồng ?