1. Những thành tựu đạt được trong việc đào tạo đội ngũ cán bộ pháp luật ở Việt Nam hiện nay

Tính đến ngày 1/1/2020, cả nước có 8.546 cán bộ, công chức làm công tác pháp lý. Trong đó, các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có 4.173 người; các địa phương hiện có 80 phòng Pháp chế tại các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh, có tổng số 2.242 người còn ở khối doanh nghiệp nhà nước có 1.801 người làm công tác pháp lý.

Qua kết quả rà soát cho thấy hầu hết đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác xây dựng pháp luật, đội ngũ cán bộ pháp chế các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và Sở Tư pháp các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đều được đào tạo chính quy, bài bản (gần 99% cán bộ, công chức làm nhiệm vụ xây dựng pháp luật có trình độ từ đại học trở lên), có kinh nghiệm, tâm huyết, trách nhiệm trong công việc.

Ngày 29/4/2021, chủ trì Phiên họp thứ 12 của Ban Chỉ đạo (BCĐ) Cải cách tư pháp Trung ương, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc - Trưởng Ban Chỉ đạo Cải cách tư pháp Trung ương đã nhấn mạnh cần xây dựng Đề án mới về xây dựng 2 trường Đại học Luật thành các trường trọng điểm về đào tạo cán bộ pháp luật, về xây dựng Học viện Tư pháp thành trung tâm lớn đào tạo các chức danh tư pháp khác trình Thủ tướng Chính phủ trong bối cảnh mới, tình hình mới với mục tiêu cao hơn, sâu sắc hơn.

Về việc thực hiện Quyết định số 2083-QĐ/TTg năm 2013 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Xây dựng Học viện Tư pháp thành trung tâm lớn đào tạo các chức danh tư pháp”, tính đến cuối năm 2021, quy mô đào tạo các chức danh tư pháp cơ bản đáp ứng nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng của bộ, ngành tư pháp và nhu cầu xã hội, cơ bản hoàn thành chỉ tiêu được giao trong Đề án. Đặc biệt, đào tạo nghề công chứng vượt xa chỉ tiêu được giao cao gấp 3,2 lần mục tiêu đề ra. Quy mô bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng nghề nghiệp cho một số chức danh tư pháp đạt khoảng 71% chỉ tiêu được giao. Quy mô bồi dưỡng chuyên sâu trong lĩnh vực tư pháp và pháp luật theo mục tiêu phục vụ hội nhập quốc tế, bồi dưỡng kiến thức cho đội ngũ cán bộ làm công tác pháp luật tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ đạt khoảng 39%.

Hàng năm, Bộ Tư pháp đều tổ chức các lớp tập huấn, bồi dưỡng về kỹ năng, nghiệp vụ, cập nhật kiến thức liên quan tới công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL), triển khai thi hành pháp luật cho cán bộ, công chức pháp chế Bộ, ngành, địa phương. Đặc biệt, Thực hiện Nghị quyết số 67/2013/QH13 của Quốc hội về tăng cường công tác triển khai thi hành luật, pháp lệnh, nghị quyết của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội và ban hành văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành, Bộ Tư pháp đã giao Trường ĐH Luật Hà Nội xây dựng riêng Chương trình hệ văn bằng hai đại học chính quy cho đối tượng người làm công tác pháp lý chưa có trình độ cử nhân luật.

Như vậy, có thể nói những năm gần đây việc đào tạo đội ngũ cán bộ pháp luật ở Việt Nam hiện nay được Nhà nước quan tâm và có nhiều thành tựu đáng kể. Việc nâng cao đào tạo đội ngũ cán bộ pháp luật đã góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền Chủ Nghĩa Xã Hội.

2. Những điểm còn hạn chế:

Thứ nhất, cơ sở đạo tạo cán bộ pháp luật: Tính đến đầu năm 2020, cả nước có 91 cơ sở đào tạo được tổ chức đào tạo và cấp bằng ĐH cử nhân luật với tổng quy mô đào tạo lên tới 98.000 sinh viên . Việc tràn lan các cơ sở đạo tạo dẫn đến việc dễ dãi trong tuyển sinh và thiếu nghiêm túc trong quá trình đào tạo, kèm theo học phí thấp đã khiến cuộc cạnh tranh trong đào tạo về luật là "cạnh tranh xuống đáy" làm ảnh hưởng xấu đến nền tư pháp cũng như mục tiêu xây dựng nhà nước pháp quyền của đất nước.

Thứ hai, chương trình đào tạo:

- Đào tạo Đại học/Cao đẳng/Trung cấp: Phần lớn các chương trình đào tạo có cơ cấu kiến thức không phù hợp. Nhìn chung, chương trình đào tạo của các cơ sở đều nặng nề, chú ý nhiều đến lý thuyết và thiếu kiến thức thực tiễn, kỹ năng hành nghề. Thời gian dành cho việc tự nghiên cứu của sinh viên, học viên còn ít và chưa được sử dụng triệt để. Các cơ sở đào tạo luật vẫn chú trọng đến việc cung cấp kiến thức lý luận cho người học hơn là cung cấp và rèn luyện kỹ năng thực hành cho sinh viên. Trong khối kiến thức chuyên ngành, số học phần, chuyên đề tự chọn còn chưa được phong phú, chưa tạo cho người học nhiều sự lựa chọn. Thiếu những chuyên đề liên quan hoặc phục vụ cho hội nhập quốc tế của Việt Nam, thí dụ như: Luật Đầu tư chung của các nước ASEAN, Luật Hình sự Quốc tế, Luật về Trọng tài quốc tế, Luật Thương mại điện tử, Luật Tài chính quốc tế.

- Đào tạo sau Đại học: Chưa có sự gắn bó và liên thông giữa các bậc học, giữa các ngành học, giữa các cơ sở đào tạo cán bộ pháp luật cũng như giữa lý luận và thực tiễn, giữa việc đào tạo và sử dụng cán bộ pháp luật. Chương trình đào tạo của các cơ sở chưa thống nhất, không đồng đều, có nơi nặng, có nơi nhẹ; có nơi rất bài bản, có nơi còn sơ sài, tuỳ tiện. Một số cơ sở đào tạo như Trường Đại Học Luật Hà Nội, Đại học Luật TP Hồ Chí Minh;…. Chương trình có hơi nặng hơn các cơ sở như Viện hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam chương trình nhẹ sản xuất tràn lan những thạc sĩ, tiến sĩ Luật không thống nhất như các cơ sở. Các cơ sở còn có một số môn học không thích hợp, làm tốn nhiều thời gian, công sức, chi phí tài chính, hiệu quả thấp.

- Đào tạo các chức danh tư pháp: Do nhiều học viên đã tốt nghiệp đại học từ lâu, trong quá trình công tác thực tiễn không được bồi dưỡng thường xuyên nên nhiều kiến thức mới về pháp luật nội dung và pháp luật tố tụng không được cập nhật nhưng chương trình học lại thiếu chuyên đề pháp luật chuyên sâu liên quan đến hoạt động nghề nghiệp của từng chức danh và các chuyên đề thông tin pháp luật trong chương trình đào tạo. Các kỹ năng có được của học viên khi mới vào trường chủ yếu được hình thành từ việc học hỏi kinh nghiệm của những người đi trước, do đó, bên cạnh những kỹ năng nghề nghiệp tốt còn có nhiều cách làm theo thói quen, không chính quy, chưa phù hợp với quy định của pháp luật nên tiếp cận chương trình học có phần khó khăn.

Thứ ba, có những hình thức đào tạo không bảo đảm chất đào tạo sau đại học lượng, hiệu quả không cao. Hình thức vừa làm vừa học (tại chức) hoặc đào tạo ban đêm, cuối tuần là những hình thức đào tạo đạt hiệu quả không cao. Học viên luôn luôn bị chi phối bởi nhiều vấn đề cùng phải giải quyết ngay một lúc hoặc sau một ngày, một tuần làm việc căng thẳng, vất vả, thì học viên và ngay cả giảng viên cũng không còn sức lực và hứng thú giảng dạy, học tập nữa.

Thứ tư, phương pháp đào tạo: Một số giảng viên chưa sử dụng phương pháp đào tạo thích hợp. Các giảng viên này sử dụng chủ yếu phương pháp thuyết trình (độc thoại); hầu như không sử dụng phương pháp trao đổi, thảo luận giữa giảng viên và học viên, nên không gợi được sự hăng say, sáng tạo, chủ động, chịu khó tìm tòi trong học tập và nghiên cứu khoa học của học viên, nghiên cứu sinh.

Thứ năm, đội ngũ cán bộ giảng dạy còn nhỏ bé về số lượng, hạn chế về chất lượng và chưa được nâng cao trình độ ở mức cần thiết, thiếu hiểu biết về chính sách và pháp luật trong cơ chế thị trường. Việc cập nhật kiến thức và kỹ năng giảng dạy, nghiên cứu theo cơ chế mới còn có nhiều hạn chế. Số lượng các giảng viên luật tham gia các công tác thực tiễn còn ít và có tính tự phát.

Thứ sáu, hệ thống giáo trình, giáo án, sách và tài liệu tham khảo còn chưa đầy đủ và có nhiều bất cập. Nội dung của nhiều giáo trình, tài liệu tham khảo trùng lặp, thiếu tính đa dạng, không chuyên sâu, ít kiến thực thực tiễn và chưa theo kịp sự phát triển của kinh tế và xã hội. Công tác biên soạn giáo trình của nhiều cơ sở đào tạo chưa được coi trọng, thiếu tính thống nhất trong toàn bộ hệ thống... Thư viện nhìn chung còn lạc hậu, chỉ có sách mà thiếu các tạp chí chuyên ngành mới nhất; các phương tiện tin học còn quá ít. Số tài liệu đã có chưa được khai thác một cách tối đa.

Thứ bảy, ý thức học tập của các sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh còn chưa đáp ứng được những đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp đổi mới. Mục đích học tập của sinh viên, học viên và nghiên cứu sinh đôi khi chưa chính đáng.

Thứ tám, việc sử dụng cán bộ pháp luật đã tốt nghiệp các hệ chưa thật hợp lý, gây ra sự lãng phí và không phát huy được hết những kiến thức mà các nhà trường đã trang bị cho các luật gia này. Đặc biệt là trong sự nghiệp đổi mới cần các nhân lực phục vụ quá trình hội nhập quốc tế.

3. Phương hướng đào tạo đội ngũ cán bộ pháp luật trong sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam hiện nay

Từ kết quả nghiên cứu lý luận và thực tiễn, những thành công và nhược điểm trong  công tác đào tạo cán bộ pháp luật nhằm phát huy nhân tố con người trong sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam hiện nay thì cần thiết phải có các phương hướng, giải pháp để giải quyết vấn này, cụ thể như sau:

- Thứ nhất, đổi mới chương trình đào tạo cán bộ pháp luật. Đổi mới nội dung chương trình, hình thức và phương pháp đào tạo đại học ngành luật là vấn đề có tính cấp bách. Đổi mới việc đào tạo cán bộ pháp luật cần phải được thực hiện theo các phương hướng sau đây: Cần thống nhất về quan điểm và hành động theo hướng cải cách mạnh mẽ. Trong đào tạo cán bộ pháp lý cần có những định hướng chung, rõ ràng và thiết thực; Cần tổ chức lại hệ thống chuyên ngành giảng dạy và các khoa chuyên môn; Cần phải có sự đổi mới đồng bộ, thiết thực; Cần có sự đầu tư mạnh mẽ của Nhà nước và xã hội về cơ sở vật do cơ sơ vật chất chưa đáp ứng được đòi hỏi của một trường luật hiện đại.

- Thứ hai, hoàn thiện tài liệu học tập, nghiên cứu cho người học.Trong khi giảng dạy, các giảng viên cần cung cấp cho sinh viên, học viên cao học một danh mục các sách báo, tài liệu tham khảo cần thiết cho việc học một chuyên đề, một môn học. Bên cạnh các bộ giáo trình, cần sớm chỉnh lý, bổ sung các hồ sơ vụ án thực tế phục vụ cho các bài học nghiên cứu tình huống của học viên.

- Thứ ba, đổi mới phương pháp giảng dạy của giảng viên. Để đào tạo ra được những luật gia giỏi có trình độ cao phục vụ tốt cho sự nghiệp đổi mới của Việt Nam, các giảng viên trong các cơ sở đào tạo cán bộ pháp luật cần đổi mới mạnh mẽ phương pháp giảng dạy, lấy người học làm trung tâm. Với những phương pháp mới này, người giảng viên không phải lên lớp nhiều giờ, không tốn nhiều công sức... mà vẫn đảm bảo cho người học nắm vững vấn đề cần nghiên cứu, phát huy được tính chủ động, tự chủ, tự giác trong học tập của sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh.

- Thứ tư, đổi mới phương pháp học tập của sinh viên, học viên cao học. Cần mạnh dạn đổi mới phương pháp học tập của sinh viên và học viên cao học. Những người học này cần chuyển từ phương pháp học tập, nghiên cứu thụ động (Thầy nói, trò ghi, thầy đọc sách thay cho người học) sang phương pháp các giảng viên chỉ gợi mở vấn đề, còn để cho sinh viên, học viên tự tìm và đọc các tài liệu mà giảng viên đã cung cấp. Sau đó, việc thầy và trò gặp nhau ở lớp được dùng chủ yếu cho việc trao đổi, giải đáp thắc mắc, tranh luận khoa học...

- Thứ năm, nâng cao trình độ chuyên môn và có chế độ đãi ngộ xứng đáng đối với giảng viên.Trong quá trình đào tạo cán bộ pháp luật, người giảng viên như những “chiếc máy cái”. Những “chiếc máy cái” có tốt thì mới chế tạo ra được những “chiếc máy con” tốt. Những cải cách, đổi mới chương trình đào tạo chỉ có thể thực hiện được khi có sự đổi mới tư duy của người đào tạo.

- Thứ sáu, tăng cường hợp tác, liên kết giữa các cơ sở đào tạo trong nước và quốc tế trong đào tạo cán bộ pháp luật.

- Thứ bảy, đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học và sử dụng có hiệu quả kết quả nghiên cứu khoa học. Trong các cơ sở đào tạo cán bộ pháp luật, việc giảng dạy và nghiên cứu khoa học là hai công việc có vai trò quan trọng như nhau và gắn bó chặt chẽ với nhau. Muốn giảng dạy, học tập tốt thì cần phải nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn của đời sống pháp lý, nhất là những vấn đề của sự nghiệp đổi mới toàn diện của nước ta. Những kết quả nghiên cứu đạt được sẽ góp phần thiết thực phục vụ cho hoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp của nước ta.

- Thứ tám, đổi mới phương thức tuyển chọn đối tượng đào tạo cán bộ pháp luật có trình độ cao. Cần xác định đúng đối tượng cần đào tạo để không làm lãng phí thời gian, công sức, tiền bạc của bản thân người đi học cũng như của Nhà nước và của xã hội. Việc lựa chọn người học như vậy sẽ tiết kiệm được nhiều chi phí của người học, của Nhà nước cũng như của xã hội, bảo đảm sẽ đào tạo được một đội ngũ những luật gia có chất lượng, phục vụ tốt cho đất nước.

- Thứ chín, đổi mới việc sử dụng luật gia của các cơ quan quản lý nhà nước. Việc sử dụng các luật gia đã tốt nghiệp đại học, cao học hoặc nghiên cứu sinh phải thật sự khoa học và hợp lý. Các cán bộ này đã thể hiện sự cố gắng cao độ của bản thân; Nhà nước và xã hội cũng đã chi phí những khoản tài chính rất lớn cho việc học tập, nghiên cứu của các cán bộ này, do đó không được sử dụng một cách lãng phí những luật gia đã được đào tạo này.

Thứ mười, đổi mới việc đào tạo, rèn luyện kỹ năng hành nghề của cán bộ pháp luật. Ngay trong quá trình đào tạo các luật gia có trình độ đại học, các cơ sở đào tạo đã cần phải giảm bớt thời lượng dành cho các môn phụ trợ để rèn luyện cho sinh viên có kỹ năng hành nghề (chiếm 10% số giờ giảng). Cần rèn luyện kỹ năng hành nghề cho sinh viên, học viên cao học ở nhiều lĩnh vực và với những nghề nghiệp khác nhau

Thứ mười một, tăng cường bồi dưỡng sau đại học cho các cán bộ pháp luật. Việc trang bị những kiến thức lý luận, thực tiễn cũng như dạy nghề cho người học chưa phải là đã kết thúc quá trình đào tạo các cán bộ pháp lý phục vụ cho đất nước. Việc này còn cần được tiếp tục bằng việc mở ra các lớp bồi dưỡng sau đại học. Để có thể cùng ngồi lại với nhau để được cung cấp những kiến thức lý luận về pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật cập nhật, mới mẻ về một hoặc một số vấn đề của sự nghiệp đổi mới đất nước, hội nhập quốc tế của Việt Nam.

4. Khái quát về trường đại học Luật Hà Nội

Trường Đại học Luật Hà Nội – tên tiếng Anh là Hanoi Law University (HLU), địa chỉ 87 Nguyễn Chí Thanh, Q. Đống Đa, Hà Nội, được thành lập vào năm 1979 trên cơ sở hợp nhất Khoa Pháp lí của Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội và Trường Cao đẳng Pháp lí Việt Nam.

Đây xứng đáng là ngôi trường đi đầu trong hệ thống đào tạo Luật ở Việt Nam với đội ngũ giảng viên là các nhà khoa học có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cao, năng lực, phẩm chất tốt; cơ sở vật chất ngày càng được cải thiện, đáp ứng yêu cầu đào tạo cán bộ pháp luật cho đất nước trong tiến trình hội nhập quốc tế và phát triển bền vững.

Hệ thống đào tạo của trường bao gồm chương trình đào tạo Cử nhân Đại học, Đại học liên thông, chương trình đào tạo Đại học vừa học vừa làm, Đại học văn bằng 2 chính quy và chương trình đào tạo sau Đại học (Thạc sỹ, Tiến sỹ).

5. Vì sao nên chọn trường Đại học Luật Hà Nội làm nguyện vọng xét tuyển?

  • Trường Đại học Luật Hà Nội là cơ sở dẫn đầu về quy mô và chất lượng đào tạo trong lĩnh vực Luật; cung cấp trên 90% cán bộ giảng dạy pháp luật cho các cơ sở đào tạo luật trong toàn quốc.
  • Chất lượng sinh viên ở tất cả các hệ, đặc biệt là hệ chính quy, khá ổn định và từng bước được nâng cao. Sinh viên tốt nghiệp của Trường được các đơn vị tuyển dụng đánh giá có kiến thức và năng lực tốt hơn so với mặt bằng chung của sinh viên luật hiện nay.
  • Các Câu lạc bộ nghiên cứu, học tập hoạt động rất hiệu quả, tạo cơ hội cho các bạn sinh viên giao lưu, học hỏi, ứng dụng các kiến thức đã học đến gần hơn với thực tiễn: CLB Luật gia trẻ, CLB Tranh tụng, CLB Hùng biện, CLB pháp luật học đường…
  • Trường có cơ sở vật chất, trang thiết bị hiện đại, phòng học, thư viện xây dựng mới, tiện nghi. Tuy nhiên, khuôn viên hẹp, không có sân chơi cũng là một điểm trừ của Đại học Luật Hà Nội.
  • Chú trọng tổ chức các hoạt động ngoại khóa, hoạt động xã hội; thành lập các Câu lạc bộ về âm nhạc – nghệ thuật, thể dục – thể thao, tổ chức các cuộc thi Văn nghệ, giải đấu thể thao nhằm tạo không khí vui tươi, sôi nổi cho sinh viên.
  • Thư viện của Trường phục vụ hiệu quả cho công tác đào tạo, nghiên cứu khoa học với nguồn tài liệu phong phú và cung cấp đủ giáo trình cho sinh viên. Công tác quản lý thư viện và phục vụ bạn đọc từng bước được tin học hoá.