Thưa luật sư, theo tôi được biết pháp luật hiện hành cho phép Hội đồng trọng tài lao động có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp lao động cá nhân. Vậy quy trình, thủ tục giải quyết tranh chấp lao động cá nhân của Hội đồng trọng tài được quy định như thế nào? Rất mong nhận được phản hồi từ luật sư. Tôi xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: Ngọc Huấn - TP.HCM

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật Lao động của Công ty luật Minh Khuê

>> Luật sư tư vấn pháp luật Lao động, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

- Bộ luật lao động năm 2019

2. Cơ sở xác định thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động cá nhân

Điều 187 Bộ luật lao động năm 2019 quy định về cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động cá nhân bao gồm:

>> Xem thêm:  Giải quyết tranh chấp là gì ? Khái niệm về giải quyết tranh chấp ?

1. Hòa giải viên lao động;

2. Hội đồng trọng tài lao động;

3. Tòa án nhân dân.

Điều luật này quy định về cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền tranh chấp lao động cá nhân. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động cá nhân gồm: Hòa giải viên lao động, Hội đồng trọng tài lao động và Tòa án nhân dân. Ba cơ quan, tổ chức, cá nhân này đại diện cho 3 phương thức giải quyết tranh chấp lao động là hòa giải, trọng tài và xét xử. So với Bộ luật lao động cũ năm 2012, Bộ luật lao động năm 2019 đã bổ sung Hội đồng trọng tài có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động cá nhân. Điều đó có nghĩa là tạo thêm cơ hội để các bên trong quan hệ lao động có thể giải quyết tranh chấp bằng con đường ngoài tòa án, tăng cường sự thương lượng, thỏa thuận giữa các bên trong tranh chấp.

3. Hội đồng trọng tài lao động

Điều 185 Bộ luật lao động năm 2019 quy định về hội đồng trọng tài lao động. Cụ thể như sau:

1. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thành lập Hội đồng trọng tài lao động, bổ nhiệm Chủ tịch, thư ký và các trọng tài viên lao động của Hội đồng trọng tài lao động. Nhiệm kỳ của Hội đồng trọng tài lao động là 05 năm.

2. Số lượng trọng tài viên lao động của Hội đồng trọng tài lao động do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định, ít nhất là 15 người, bao gồm số lượng ngang nhau do các bên đề cử, cụ thể như sau:

a) Tối thiểu 05 thành viên do cơ quan chuyên môn về lao động thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đề cử, trong đó có Chủ tịch Hội đồng là đại diện lãnh đạo và thư ký Hội đồng là công chức của cơ quan chuyên môn về lao động thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh;

b) Tối thiểu 05 thành viên do công đoàn cấp tỉnh đề cử;

c) Tối thiểu 05 thành viên do các tổ chức đại diện của người sử dụng lao động trên địa bàn tỉnh thống nhất đề cử.

3. Tiêu chuẩn và chế độ làm việc của trọng tài viên lao động được quy định như sau:

a) Trọng tài viên lao động là người hiểu biết pháp luật, có kinh nghiệm trong lĩnh vực quan hệ lao động, có uy tín và công tâm;

b) Khi đề cử trọng tài viên lao động theo quy định tại khoản 2 Điều này, cơ quan chuyên môn về lao động thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, công đoàn cấp tỉnh, tổ chức đại diện của người sử dụng lao động có thể cử người của cơ quan, tổ chức mình hoặc cử người khác đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn đối với trọng tài viên lao động theo quy định;

c) Thư ký Hội đồng trọng tài lao động thực hiện nhiệm vụ thường trực của Hội đồng trọng tài lao động. Trọng tài viên lao động làm việc theo chế độ chuyên trách hoặc kiêm nhiệm.

4. Khi có yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động theo quy định tại các điều 189, 193 và 197 của Bộ luật này, Hội đồng trọng tài lao động quyết định thành lập Ban trọng tài lao động để giải quyết tranh chấp như sau:

a) Đại diện mỗi bên tranh chấp chọn 01 trọng tài viên trong số danh sách trọng tài viên lao động;

b) Trọng tài viên lao động do các bên lựa chọn theo quy định tại điểm a khoản này thống nhất lựa chọn 01 trọng tài viên lao động khác làm Trưởng Ban trọng tài lao động;

c) Trường hợp các bên tranh chấp cùng lựa chọn một trọng tài viên để giải quyết tranh chấp lao động thì Ban trọng tài lao động chỉ gồm 01 trọng tài viên lao động đã được lựa chọn.

5. Ban trọng tài lao động làm việc theo nguyên tắc tập thể và quyết định theo đa số, trừ trường hợp quy định tại điểm c khoản 4 Điều này.

6. Chính phủ quy định chi tiết về tiêu chuẩn, điều kiện, trình tự, thủ tục bổ nhiệm, miễn nhiệm, chế độ và điều kiện hoạt động của trọng tài viên lao động, Hội đồng trọng tài lao động; tổ chức và hoạt động của Hội đồng trọng tài lao động; việc thành lập và hoạt động của Ban trọng tài lao động quy định tại Điều này.

Thật ngữ trọng tài bắt đầu từ tiếng La Tinh “arbitrari, có nghĩa là đưa ra phán quyết hoặc đưa ra quyết định. Có thể thấy, cơ chế giải quyết tranh chấp này giống như sự xét xử hoặc đưa ra phán quyết của tòa án. Tuy vậy, trong bộ luật lao động cũ năm 2012, tranh chấp tập thể về lợi ích được giải quyết thông qua hai bước hòa giải: một là được thực hiện bởi hòa giải viên lao động, hai là được thực hiện bởi hội đồng trọng tài lao động. Điều này có vẻ mâu thuẫn và ngoại lệ với nhiều thông lệ quốc gia, theo đó giai đoạn thứ hai trong quá trình giải quyết các tranh chấp lao động thường dành cho một dạng can thiệp của bên thứ ba mạnh hơn.

Bộ luật lao động năm 2019 có những sửa đổi căn bản về tổ chức và hoạt động của hội đồng trọng tài lao động. Cụ thể số lượng trọng tài viên lao động của hội đồng trọng tài lao động sẽ cho chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định, ít nhất là 15 người, bao gồm số lượng ngang nhau do các bên đề cử, bao gồm:

+ Tối thiểu 05 thành viên do cơ quan chuyên môn về lao động thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh để cử, trong đó có chủ tịch hội đồng là đại diện lãnh đạo và thư ký hội đồng là công chức của cơ quan chuyên môn về lao động thuộc ủy ban nhân dân cấp tỉnh;

+ Tối thiểu 05 thành viên do công đoàn cấp tỉnh đề cử;

+ Tối thiểu 05 thành viên do các tổ chức đại diện của người sử dụng lao động trên địa bàn tỉnh thống nhất đề cử.

Nhiệm kỳ hoạt động của Hội đồng trọng tài lao động là 05 năm. Cơ cấu bộ máy và cách vận hành của hội đồng trọng tài trong trường hợp này có thể được thỏa thuận để áp dụng, giải quyết tranh chấp kinh tế, khu vực tương thích với đặc điểm về địa lý, văn hóa xã hội hay địa phương nhất định, bao gồm tất cả những cơ sở kinh tế liên quan đến phạm vi lãnh thổ.

Bộ luật lao động năm 2019 quy định về Ban trọng tài lao động bao gồm các trọng tài viên trong danh sách Hội đồng trọng tài lao động và được đại diện các bên tranh chấp lựa chọn; Hội đồng trọng tài lao động quyết định thành lập ban trọng tài lao động để giải quyết tranh chấp khi có yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động theo quy định tại các điều 189, 193 và 197 Bộ luật lao động. Điều khác biệt lớn so với bộ luật lao động cũ năm 2012 ở đây là việc giải quyết tranh chấp lao động sẽ không được hiểu là chỉ hoặc được giải quyết thông qua phiên họp của Hội đồng trọng tài lao động.

>> Xem thêm:  Khái niệm giải quyết tranh chấp lao động ? Nguyên tắc giải quyết tranh chấp lao động ?

Cơ chế giải quyết tranh chấp lao động này, cũng như việc lựa chọn các trọng tài có thể được chọn từ danh sách để thành lập ra ban trọng tài được nhiều quốc gia quy định, ví dụ như tại Bờ biển Ngà, Pakistan, Philippines và vương quốc Anh, quy định sẽ có một danh sách các trọng tài cho các bên chọn; ở Costa Rica, Israel, Venezuela có hai danh sách trọng tài viên dành cho người sử dụng lao động và người lao động; còn có một danh sách thứ ba của chủ tịch ban trọng tài.

Và với Nhật Bản, các thành viên của một ban trọng tài được chọn ra từ những thành viên của bản thân tổ chức các quan hệ lao động và từ danh sách các ủy viên hội đồng đặc biệt có liên quan, đây cũng là mô hình gần gũi nhất với cơ chế hội đồng trọng tài lao động đang được thể hiện ở bộ luật lao động năm 2019

4. Giải quyết tranh chấp lao động cá nhân của Hội đồng trọng tài lao động

Điều 189 Bộ luật lao động năm 2019 quy định về giải quyết tranh chấp lao động cá nhân của Hội đồng trọng tài lao động như sau:

1. Trên cơ sở đồng thuận, các bên tranh chấp có quyền yêu cầu Hội đồng trọng tài lao động giải quyết tranh chấp trong trường hợp quy định tại khoản 7 Điều 188 của Bộ luật này. Khi yêu cầu Hội đồng trọng tài lao động giải quyết tranh chấp, các bên không được đồng thời yêu cầu Tòa án giải quyết, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều này.

2. Trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày nhận được yêu cầu giải quyết tranh chấp theo quy định tại khoản 1 Điều này, Ban trọng tài lao động phải được thành lập để giải quyết tranh chấp.

3. Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày Ban trọng tài lao động được thành lập, Ban trọng tài lao động phải ra quyết định về việc giải quyết tranh chấp và gửi cho các bên tranh chấp.

4. Trường hợp hết thời hạn quy định tại khoản 2 Điều này mà Ban trọng tài lao động không được thành lập hoặc hết thời hạn quy định tại khoản 3 Điều này mà Ban trọng tài lao động không ra quyết định giải quyết tranh chấp thì các bên có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết.

5. Trường hợp một trong các bên không thi hành quyết định giải quyết tranh chấp của Ban trọng tài lao động thì các bên có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết

Điều luật này quy định về thẩm quyền, thời hạn và thủ tục giải quyết tranh chấp lao động cá nhân tại Hội đồng trọng tài lao động.

4.1. Về thẩm quyền của hội đồng trọng tài lao động:

Hội đồng trọng tài lao động có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp lao động không bắt buộc phải qua thủ tục hòa giải hoặc hết thời hạn hòa giải mà hòa giải viên lao động không tiến hành hòa giải hoặc trường hợp hòa giải không thành và các bên tranh chấp đồng thuận lựa chọn yêu cầu Hội đồng trọng tài lao động giải quyết.

Tuy nhiên cũng cần lưu ý là khi các bên đã đồng thuận yêu cầu hội đồng trọng tài lao động giải quyết thì các bên không được đồng thời yêu cầu tòa án giải quyết. Điều đó có nghĩa là, trong một khoảng thời gian, các bên tranh chấp không thể vừa yêu cầu hội đồng trọng tài lao động giải quyết, người yêu cầu tòa án giải quyết, trừ trường hợp hết thời hạn quy định mà ban trọng tài không được thành lập hoặc hết thời hạn quy định mà ban trọng tài không ra quyết định giải quyết tranh chấp.

Như vậy có thể thấy một luật lao động năm 2019 đã đưa ra cơ chế giải quyết tranh chấp lao động hết sức linh hoạt. Trường hợp hòa giải tại hòa giải viên lao động không đạt kết quả, các bên tranh chấp có quyền lựa chọn cơ quan, tổ chức giải quyết tiếp theo, đó là đưa ra giải quyết tại hội đồng trọng tài lao động hoặc tòa án nhân dân. Cơ chế giải quyết tranh chấp lao động tại hội đồng trọng tài không phải là cơ chế mang tính bắt buộc mà là cơ chế tự nguyện, nếu các bên tin tưởng vào hội đồng trọng tài lao động thì đưa ra tổ chức này giải quyết. Bởi vậy việc giải quyết tranh chấp tại hội đồng trọng tài lao động không làm mất thời gian cũng như kéo dài thời hạn giải quyết tranh chấp như cơ chế trọng tài bắt buộc mà một thời kỳ trước đây chúng ta đã từng áp dụng nhưng không có hiệu quả.

4.2. Về thời hạn và thủ tục giải quyết tranh chấp lao động cá nhân

+ Thành lập ban trọng tài lao động: ban trọng tài lao động được thành lập trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày nhận được yêu cầu giải quyết tranh chấp

+ Tiến hành giải quyết tranh chấp: trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày ban trọng tài lao động được thành lập, ban trọng tài lao động phải ra quyết định về việc giải quyết tranh chấp và gửi cho các bên tranh chấp.

>> Xem thêm:  Môi giới việc làm có phải ngành nghề kinh doanh có điều kiện ?

+ Thi hành quyết định của trọng tài hoặc yêu cầu tòa án giải quyết tranh chấp:

Khi hội đồng trọng tài lao động ra quyết định về việc giải quyết vụ tranh chấp, các bên có nghĩa vụ thực hiện theo phán quyết của trọng tài. Trường hợp một trong các bên không thi hành quyết định giải quyết tranh chấp của ban trọng tài lao động thì các bên có quyền yêu cầu tòa án giải quyết.

Trường hợp hết thời hạn quy định mà ban trọng tài lao động không được thành lập hoặc hết thời hạn quy định mà ban trọng tài lao động không ra quyết định giải quyết tranh chấp thì các bên có quyền yêu cầu tòa án giải quyết.

Thực tế cho thấy, số lượng các vụ tranh chấp lao động tại tòa án khá nhiều và ngày càng có xu hướng gia tăng. Theo báo cáo của tòa án nhân dân tối cao, số lượng các vụ tranh chấp lao động cá nhân được giải quyết tại tòa án khá nhiều. Năm 2015, tòa án thụ lý 6663 vụ, giải quyết 6386 vụ. Năm 2016, thụ lý 7428 vụ, giải quyết 6949 vụ. Năm 2017, thụ lý 4980 vụ, giải quyết 4516 vụ. Năm 2018, thụ lý 3747 vụ, giải quyết 2414 vụ. 52019, thụ lý 3132 vụ phải giải quyết 2146 vụ.

Bởi vậy, việc quy định hội đồng trọng tài lao động có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động cá nhân sẽ làm tại các tranh chấp lao động khởi kiện ra tòa án nhân dân, hạn chế được tình trạng quá tải của tòa án nhân dân trong việc giải quyết tranh chấp, tiết kiệm thời gian, chi phí và bảo đảm tối đa quyền và lợi ích của các bên khi tham gia vào quan hệ lao động.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Lao động - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Khi nào được ký hợp đồng lao động không xác định thời hạn và giá trị pháp lý của hợp đồng lao động ?

Câu hỏi thường gặp về Hội đồng trọng tài lao động

Câu hỏi: Hội đồng trọng tài lao động có được giải quyết tranh chấp lao động cá nhân không?

Trả lời:

Có. căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 187 Bộ luật lao động năm 2019.

Câu hỏi: Hội đồng trọng tài lao động được thành lập như thế nào?

Trả lời:

Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thành lập Hội đồng trọng tài lao động, bổ nhiệm Chủ tịch, thư ký và các trọng tài viên lao động của Hội đồng trọng tài lao động. Nhiệm kỳ của Hội đồng trọng tài lao động là 05 năm.

Câu hỏi: Số lượng trọng tài viên của Hội đồng trọng tài lao động là bao nhiêu?

Trả lời:

Số lượng trọng tài viên lao động của Hội đồng trọng tài lao động do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định, ít nhất là 15 người, bao gồm số lượng ngang nhau do các bên đề cử, cụ thể như sau:

- Tối thiểu 05 thành viên do cơ quan chuyên môn về lao động thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đề cử, trong đó có Chủ tịch Hội đồng là đại diện lãnh đạo và thư ký Hội đồng là công chức của cơ quan chuyên môn về lao động thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh;

- Tối thiểu 05 thành viên do công đoàn cấp tỉnh đề cử;

- Tối thiểu 05 thành viên do các tổ chức đại diện của người sử dụng lao động trên địa bàn tỉnh thống nhất đề cử.