1. Quy định chung về hội đồng xét xử

Pháp luật quy định cụ thể thành phần của Hội đồng xét xử, Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm một Thẩm phán và hai Hội thẩm nhân dân đối với án hình sự, án dân sự; hai Thẩm phán và một Hội thẩm nhân dân đối với án kinh tế, án hành chính. Trong trường hợp vụ án hình sự có tính chất nghiêm trọng, phức tạp, kể cả các vụ án mà theo khung hình phạt có mức án cao nhất là tử hình, thì Hội đồng xét xử sơ thẩm có thể gồm hai Thẩm phán và ba Hội thẩm nhân dân. Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm ba Thẩm phán và trong trường hợp cần thiết có thể có thêm hai Hội thẩm nhân dân. Hội đồng xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm gồm ba Thẩm phán. Khi Uỷ ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Uỷ ban Thẩm phán Tòa án quân sự cấp quân khu, Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm thì Hội đồng xét xử gồm những thành viên của tổ chức đó và phải bảo đảm có ít nhất hai phần ba tổng số thành viên tham gia.

Các thành viên của Hội đồng xét xử phải xét xử vụ án từ khi bắt đầu cho đến khi kết thúc. Trong quá trình xét xử, nếu có Thẩm phán hoặc Hội thẩm nhân dân không tiếp tục tham gia xét xử được thì Tòa án vẫn có thể xét xử vụ án, nếu có Thẩm phán hoặc Hội thẩm nhân dân dự khuyết thay thế. Trong trường hợp không có người thay thế ngay thì Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa. Hội đồng xét xử phải trực tiếp xác định những tình tiết của vụ án bằng cách trực tiếp hỏi và nghe ý kiến của các đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người lầm chứng, người giám định, nghe ý kiến của người bào chữa và xem xét vật chứng. Sau khi xem xét những tình tiết khách quan của vụ án, Hội đồng xét xử tiến hành nghị án và tuyên án. Hội đồng xét xử làm việc theo nguyên tắc tập thể và quyết định theo đa số. Khi xét xử, Hội thẩm nhân dân ngang quyền với Thẩm phán. Các thành viên của Hội đồng xét xử phải giải quyết tất cả các vấn đề của vụ án bằng cách biểu quyết theo đa số về từng vấn đề một. Thẩm phán biểu quyết sau cùng. Người có ý kiến thiểu số trong Hội đồng xét xử có quyền trình bày ý kiến của mình bằng văn bản và được đưa vào hồ sơ. Mọi ý kiến thảo luận và quyết định của Hội đồng xét xử phải được ghi lại bằng biên bản.

Đảm bảo thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng xét xử tại các phiên tòa là yêu cầu quan trọng trong hoạt động tố tụng. Việc tăng cường vai trò của Hội đồng xét xử sẽ góp phần đảm bảo cho hoạt động xét xử các vụ án được tiến hành công khai, khách quan, đúng pháp luật. Đây cũng chính là nhân tố quan trọng nhằm góp phần đảm bảo nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa trong hoạt động xét xử ở nước ta hiện nay.

2. Hội đồng xét xử có hội thẩm tham gia

Tinh thần chung của nguyên tắc này là quá trình xét xử của tòa án cỏ sự tham gia thực hiện bởi một loại chủ thể không đại diện cho chuyên môn pháp luật mà đại diện cho nhận thức chung của xã hội - Hội thẩm. Nguyên tắc được thể hiện rõ ràng nhất qua sự hiện diện của Bồi thẩm đoàn (Jury) trong hệ thống tòa án Vượng quốc Anh, sau này được du nhập sang các quốc gia thuộc hệ thống Anh - Mỹ. Ở hệ thống pháp luật châu Âu lục địa, các quốc gia như Pháp, Đức... cũng đã từ lâu áp dụng nguyên tắc này trong hệ thống tòa án của mình? Tất nhiên, cùng một nguyên tắc song nội dung và hình thái thể hiện ở từng quốc gia là khác nhau.

Ổ Việt Nam, nguyên tắc xét xử có hội thẩm tham gia được quy định lần đầu tiên trong sắc lệnh số 85/SL ngày 22/5/1950 về cải cách bộ máy tư pháp và luật tố tụng, khi đó lần đầu tiên chế định “hội thẩm nhân dân” được hình thành trong hệ thống tòa án. Hiến pháp năm 1959, các luật tổ chức tòa án và pháp luật tố tụng sau đó tiếp tục ghi nhận và cụ thể hóa nguyên tắc, tất nhiên với nội dung quy định ở từng thời kì không hoàn toàn giống nhau. Ở Hiến pháp năm 2013, nguyên tắc này được quy định tại khoản 1 Điều 103 và được cụ thể hóa bởi các quy định của pháp luật tố tụng với các nội dung như sau:

Thứ nhất, hoạt động xét xử của tòa án được thực hiện không chỉ bởi thẩm phán mà cả hội thẩm, bao gồm hội thẩm quân nhân phục vụ trong các tòa án quân sự và hội thẩm nhân dân phục vụ trong các tòa án còn lại. Khác với thẩm phán, thế mạnh của hội thẩm không phải là kiến thức pháp luật, họ không bắt buộc phải có bằng cử nhân luật và hiểu biết pháp luật sâu như thẩm phán. Mặc dù vậy, cùng với thẩm phán, hội thẩm tham gia xét xử các vụ tranh chấp mà tòa án thụ lí. Sự hiện diện của hội thẩm thể hiện “tính xã hội” trong hoạt động xét xử vốn mang tính chuyên môn pháp luật cao của tòa án.

Thứ hai, hội thẩm chỉ xuất hiện ưong hoạt động xét xử ở cấp sơ thẩm. Xét xử phúc thẩm và xử giám đốc thẩm chỉ do các thẩm phán thực hiện mà không có sự tham gia của hội thẩm. Như vậy, nguyên tắc “xét xử có hội thẩm tham gia” không có nghĩa là hội thẩm tham gia mọi hoạt động xét xử của tòa án mà chỉ tham gia vào lần xét xử đầu tiên đối với mỗi vụ việc.

Thứ ba, khi xét xử hội thẩm nhân dân có quyền quyết định như thẩm phán đối với vụ việc. Đối với mỗi vụ tranh chấp, việc xét xử của tòa án luôn bao gồm hai công đoạn lớn:

(1) Xác định sự thật của vụ việc;

(2) Giải thích, áp dụng, làm rõ pháp luật đối với vụ việc trên cơ sở đó xác định chế tài pháp lý đối với các bên. Ở các quốc gia theo hệ thống luật Anh - Mỹ, có sự phân công giữa bồi thẩm đoàn và thẩm phán để đưa ra phán quyết ở mỗi công đoạn, theo đó công đoạn thứ nhất thuộc về bồi thẩm đoàn và công đoạn thứ hai thuộc về thẩm phán. Điều này thể hiện rõ nhất trong vụ án hình sự. Ở Việt Nam, hội thẩm và thẩm phán cùng trong hội đồng xét xử và cùng đưa ra phán quyết ở cả hai công đoạn. Có thể thấy, nội dung này không thể hiện trong lời văn của khoản 1 Điều 103 Hiến pháp năm 2013, song nó là hiển nhiên do kết hợp với nguyên tắc xét xử tập thể (khoản 4 Điều 103) và thể hiện qua các quy định của pháp luật tố tụng.

Thứ tư, nguyên tắc “xét xử có hội thẩm tham gia” không mang tính tuyệt đối. Không phải mọi thủ tục xét xử sơ thẩm của tòa án đều có hội thẩm tham gia. Trong trường hợp các vụ tranh chấp đơn giản, tình tiết rõ ràng, việc áp dụng pháp luật không phức tạp, Hiến pháp năm 2013 cho phép không áp dụng nguyên tắc này. Pháp luật tố tụng cụ thể hóa các trường hợp đó dưới thuật ngữ “thủ tục rút gọn” mà việc xét xử sơ thẩm chỉ do thẩm phán thực hiện. Tất nhiên, các trường họp xét xử theo thủ tục rút gọn phải được quy định rõ trong pháp luật tố tụng (Chương XIV Luật tố tụng hành chính năm 2015; Chương XVIII Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Chương XXXI Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015).

3. Thay đổi người tiến hành tố tụng (thẩm phán, hội thẩm).

3.1 Trường hợp thay đổi người tiến hành tố tụng dân sự.

Điều 52. Những trường hợp phải từ chối hoặc thay đổi người tiến hành tố tụng

Người tiến hành tố tụng phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi trong những trường hợp sau đây:

1. Họ đồng thời là đương sự, người đại diện, người thân thích của đương sự.

2. Họ đã tham gia tố tụng với tư cách là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, người làm chứng, người giám định, người phiên dịch trong cùng vụ việc đó.

3. Có căn cứ rõ ràng cho rằng họ có thể không vô tư trong khi làm nhiệm vụ.

Điều 53. Thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi trong những trường hợp sau đây:

- Thuộc một trong những trường hợp quy định tại Điều 52 của Bộ luật này.

- Họ cùng trong một Hội đồng xét xử và là người thân thích với nhau; trong trường hợp này, chỉ có một người được tiến hành tố tụng.

- Họ đã tham gia giải quyết theo thủ tục sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm hoặc tái thẩm vụ việc dân sự đó và đã ra bản án sơ thẩm, bản án, quyết định phúc thẩm, quyết định giám đốc thẩm hoặc tái thẩm, quyết định giải quyết việc dân sự, quyết định đình chỉ giải quyết vụ việc, quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, trừ trường hợp là thành viên của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao thì vẫn được tham gia giải quyết vụ việc đó theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm.

- Họ đã là người tiến hành tố tụng trong vụ việc đó với tư cách là Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên.

3.2 Trường hợp thay đổi người tiến hành tố tụng hình sự.

Căn cứ Điều 49 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 thì Người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải từ chối tiến hành tố tụng hoậc bị thay đổi khi thuộc một trong các trường hợp:

- Đồng thời là bị hại, đương sự; là người đại diện, người thân thích của bị hại, đương sự hoặc của bị can, bị cáo;

- Đã tham gia với tư cách là người bào chữa, người làm chứng, người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật trong vụ án đó;

- Có căn cứ rõ ràng khác để cho rằng họ có thể không vô tư trong khi làm nhiệm vụ.

Căn cứ Điều 50 Bộ luật tố tụng hình sự thì nguời có quyền đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng bao gồm:

1 Kiểm sát viên.

2. Người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự và người đại diện của họ.

3. Người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự.

Điều 53. Thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm

1. Thẩm phán, Hội thẩm phải từ chối tham gia xét xử hoặc bị thay đổi khi thuộc một trong các trường hợp:

a) Trường hợp quy định tại Điều 49 của Bộ luật này;

b) Họ cùng trong một Hội đồng xét xử và là người thân thích với nhau;

c) Đã tham gia xét xử sơ thẩm hoặc phúc thẩm hoặc tiến hành tố tụng vụ án đó với tư cách là Điều tra viên, Cán bộ điều tra, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên, Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án.

2. Việc thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm trước khi mở phiên tòa do Chánh án hoặc Phó Chánh án Tòa án được phân công giải quyết vụ án quyết định.

Thẩm phán bị thay đổi là Chánh án Tòa án thì do Chánh án Tòa án trên một cấp quyết định.

Việc thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm tại phiên tòa do Hội đồng xét xử quyết định trước khi bắt đầu xét hỏi bằng cách biểu quyết tại phòng nghị án. Khi xem xét thay đổi thành viên nào thì thành viên đó được trình bày ý kiến của mình, Hội đồng quyết định theo đa số.

Trường hợp phải thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm tại phiên tòa thì Hội đồng xét xử ra quyết định hoãn phiên tòa.

Luật Minh Khuê (sưu tầm & biên tập)