1. Hỏi về hành vi phỉ báng, xúc phạm danh dự, nhân phẩm và đe dọa người khác có vi phạm luật không ?

Thưa Luật sư, Em xin nêu rõ vấn đề như sau: dì của em, tức là chị ruột của mẹ em. Sống một mình, không có chồng. Gia đình em thường lui tới hỏi thăm, giúp đỡ dì. Đến một ngày, em gái của em cưới chồng. Ba em bảo dì lớn tuổi rồi, không cho đi họ đưa dâu.
Tính khí dì bỗng nhiên thay đổi. Dì gửi tin nhắn điện thoại cho mẹ em liên tục với lời chửi bới, xúc phạm nặng và đòi giết ba mẹ em. Sau đó lại nhắn tin điện thoại cho chị em mắng chửi nhân phẩm, danh dự. Và đến em cũng vậy. Dì còn xún tận nhà chửi mắng mẹ em, có người xung quanh làm chứng. Mẹ em có mượn dì 6 triệu trước đó để xây nhà do thiếu. Dì lấy cớ đòi tiền và chửi bới. Mẹ liền đi vay mượn để trả rồi. Xong dì lại lấy chuyện mượn tiền đó ra để chửi. Miệng luôn bảo cầu mong cho gia đình em tan nát, ba mẹ tai nạn giao thông mà chết. Người nhà em cứ để vậy, không nói tiếng nào. Càng lúc dì càng làm tới. Nên em đành nhờ pháp luật can thiệp. Nhà em còn khó khăn, không thể thuê luật sư riêng để kiện cáo dì. Nên em muốn bên pháp luật có thể tư vấn cho em để em nộp đơn tố cáo lên cơ quan hình sự giải quyết chuyện này cho gia đình em. Và em nên làm đơn tố cáo như thế nào và nộp ở đâu ạ ?
Em xin chân thành cám ơn!

Luật sư tư vấn

Theo như tình huống bạn kể lại, dì của bạn đã có hành vi đe dọa, chửi bới, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác. Hành vi này có thể bị xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự, cụ thể như sau:

Căn cứ vào Điều 5, Nghị định 167/2013/NĐ-CP xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh trật tự phòng cháy chữa cháy hành vi của dì của bạn sẽ bị xử phạt hành chính như sau:

"Điều 5. Vi phạm quy định về trật tự công cộng

1. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

a) Có cử chỉ, lời nói thô bạo, khiêu khích, trêu ghẹo, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác".

Trường hợp của bạn, bạn có thể làm đơn trình báo đến cơ quan công an xã, phường tại địa phương để tiến hành lập biên bản và xử phạt hành chính đối với hành vi của dì bạn. Nếu đã tiến hành xử phạt hành chính và lập biên bản mà còn tái phạm, ảnh hưởng đến cuộc sống gia đình của bạn, lúc này, bạn cần làm đơn tố cáo đến cơ quan công an cấp quận, huyện về hành vi đe dọa giết người được quy định trong Bộ Luật hình sự năm 2015 như sau:

"Điều 133. Tội đe dọa giết người

1. Người nào đe dọa giết người, nếu có căn cứ làm cho người bị đe dọa lo sợ rằng việc đe dọa này sẽ được thực hiện, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Đối với 02 người trở lên;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

c) Đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân;

d) Đối với người dưới 16 tuổi;

đ) Để che giấu hoặc trốn tránh việc bị xử lý về một tội phạm khác".

Dấu hiệu của hành vi đe dọa giết người là làm cho người bị hại tin rằng hành vi sẽ được xảy ra trên thực tế, nội dung của việc đe dọa là xâm hại trực tiếp đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của người khác. Để đánh giá người bị đe dọa có ở trong trạng thái lo lắng, tin rằng hành vi đe dọa sẽ xảy ra trên thực tế hay không thì phải xem xét một cách khách quan về hoàn cảnh xung quanh như: thời gian, địa điểm, lý do tiến hành đe dọa, nguyên nhân xảy ra vụ việc. Thông thường, trong hoàn cảnh cụ thể, ai cũng sẽ có tâm lý lo lắng là sự đe dọa giết người sẽ được thực hiện, thì đó là trường hợp lo lắng có căn cứ. Nếu cùng có hành vi đe doạ, còn có hành vi chuẩn bị khác như lên kế hoạch, chuẩn bị hung khí vũ khí, thì có thể truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi chuẩn bị giết người.

Như vậy, tùy vào hoàn cảnh cụ thể của bạn mà bạn có thể tiến hành tố cáo về hành vi nào, bạn cần thu thập bằng chứng, chứng cứ cụ thể như băng ghi âm, ghi hình, lời khai của nhân chứng về những lời lẽ đe dọa, xúc phạm của dì bạn. Nếu hành vi của dì bạn chỉ dừng lại ở lời nói đe dọa, chửi bới, gây rối trật tự công cộng, thì đó là hành vi đe dọa giết người; nếu có hành vi chuẩn bị, lên kế hoạch để thực hiện những việc đe dọa đó thì đó là hành vi chuẩn bị giết người, tùy vào từng hành vi mức xử phạt cũng sẽ khác nhau. Bạn cần cân nhắc tình hình để viết đơn tố cáo sao cho phù hợp.

Tham khảo: Luật tố cáo năm 2011 quy định về mẫu đơn tố cáo, mời bạn tham khảo mẫu đơn tại đây.

Trên đây là tư vấn cua chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại, gọi ngay số: 1900.6162 để được giải đáp. Trân trọng./.

2. Xúc phạm danh dự và vu cho người khác trộm cắp tài sản có vi phạm pháp luật không ?

Thưa luật sư, Xin hỏi: Luật sư có thể tư vấn giúp em Chuyện là em có ông anh chồng trước khi cưới thì 2 anh em đã xích mích và không nói chuyện với nhau rồi. Nhưng vợ chồng em không làm gì đụng chạm đến anh đó mà anh đó lại đi nói với bà con họ hàng là chồng em đi ăn cắp cafe bán để có tiền mua xe mua điện thoại mà không có bất cứ chứng cứ gì?

Khi nghe kể lại vợ chồng em rất bức xúc thì chồng em có nhắn nói với anh đó là muốn gì thì nói trực tiếp không có bằng chứng thì đừng nói lung tung. Rồi anh đó trả lời tin nhắn lại là chồng em lấy con vợ nghèo rớt mồng tơi mà còn bám váy. Rồi nói chồng em là gặp ở đâu đánh ở đó thủ hàng sẵn trong người rồi. Em thấy vậy mới bức xúc và nhắn tin lại nói nhà e nghèo nhưng ko xin hay trộm cắp của ai và yêu cầu anh đó ko có bằng chứng thì ko được vu khống chồng em. Nhưng anh đó lại còn trả lời lại là chồng em lấy đĩ về làm vợ và ỉa vô mặt cả gia đình em.

Xin lỗi luật sư vì e nói thẳng như vậy nhưng e phải nói để luật sư thấy sự xúc phạm đối với ba mẹ e thế nào. Luật sư cho e hỏi là trường hợp này e có thể khởi kiện không vì vợ chồng em muốn yên ổn làm ăn mà cứ bị xúc phạm và bị bôi nhọ như vậy thì ko thể nhìn mặt họ hàng cũng ko yên tâm làm ăn được.

Em xin cám ơn luật sư!

Xúc phạm danh dự và vu cho người khác trộm cắp tài sản có vi phạm pháp luật không ?

Luật sư tư vấn dân sự trực tuyến qua tổng đài, Gọi1900.6162

Trả lời

2.1 Truy cứu trách nhiệm hình sự.

Căn cứ theo quy định tại Điều 156 Bộ luật hình sự năm 2015, Luật sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định về tội làm nhục người khác như sau:

"Điều 156. Tội vu khống

1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm:

a) Bịa đặt hoặc loan truyền những điều biết rõ là sai sự thật nhằm xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác;

b) Bịa đặt người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền.

.......................................".


Căn cứ theo những thông tin chị cung cấp cho chúng tôi thì chị có thể kiện người anh của chồng chị theo vì đã có hành vi vu khống, bịa đặt những chuyện không có thật làm tổn hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của chị.

2.2 Yêu cầu bồi thường về danh dự, nhân phẩm bị xâm hại.

Căn cứ theo quy định tại Điều 592 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về việc bồi thường thiệt hại khi danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm hại, cụ thể như sau:

"Điều 592. Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm

1. Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm bao gồm:

a) Chi phí hợp lý để hạn chế, khắc phục thiệt hại;

b) Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút;

c) Thiệt hại khác do luật quy định.

2. Người chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác bị xâm phạm phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm không quá mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định".

Người có hành vi xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác sẽ có trách nhiệm bồi thường theo quy định trên.

>> Tham khảo thêm: Tư vấn về hành vi vào nhà đe dọa tấn công người khác phạm tội gì ?

3. Mẹ đánh mắng xỉ nhục con cái xử lý như thế nào ?

Năm nay tôi chỉ còn 1 tháng nữa 18 tuổi. Từ nhỏ mẹ đã đánh đập làm tổn thương tâm lý, mẹ lâm vào đánh đề và giấu ba dượng tôi. Sau khi tôi 15 tuổi chuyện bị bại lộ, mẹ tôi nghĩ do tôi nên đã ác cảm , dùng lời lẽ nhục mạ xúc phạm quan hệ tôi và ba dượng.

Tôi đã bỏ nhà. 2 năm sau quay về mối quan hệ trong gia đình vẫn phức tạp. Mẹ dường như không muốn có trách nhiệm với tôi vì tôi không làm theo những gì mẹ muốn từ việc mượn tiền đến nhiều sự lừa dối khác đối với ba nuôi. Mẹ vẫn dùng lời lẽ không đúng và đòi giết, đuổi tôi. Bây giờ tôi bị tâm lý nặng và rất cần có cách giải quyết. Ruồng bỏ trách nhiệm nuôi con ăn học... có được kiện ?

- N.N.N

Mẹ đánh mắng xỉ nhục con cái xử lý như thế nào ?

Luật sư trả lời:

Trường hợp của bạn, cha mẹ có nghĩa vụ chăm sóc, nuôi nấng, thương yêu con cái, theo quy định tại Điều 69 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014

"Điều 69. Nghĩa vụ và quyền của cha mẹ

1. Thương yêu con, tôn trọng ý kiến của con; chăm lo việc học tập, giáo dục để con phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ, đạo đức, trở thành người con hiếu thảo của gia đình, công dân có ích cho xã hội.

2. Trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

3. Giám hộ hoặc đại diện theo quy định của Bộ luật dân sự cho con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự.

4. Không được phân biệt đối xử với con trên cơ sở giới hoặc theo tình trạng hôn nhân của cha mẹ; không được lạm dụng sức lao động của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động; không được xúi giục, ép buộc con làm việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội".

Nhưng mẹ của bạn lại không có trách nhiệm như vậy.

Kèm theo đó, mẹ bạn còn xỉ nhục, xúc phạm bạn. Căn cứ vào mức độ ,hành vi, mẹ của bạn có thể sẽ bị xử lý vi phạm theo Nghị định 167/2013/NĐ-CP và Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 như sau:

"Điều 51: Hành vi xúc phạm danh dự, nhân phẩm của thành viên gia đình:

1. Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với hành vi lăng mạ, chì chiết, xúc phạm danh dự, nhân phẩm thành viên gia đình.
2. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 1.500.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:
a) Tiết lộ hoặc phát tán tư liệu, tài liệu thuộc bí mật đời tư của thành viên gia đình nhằm xúc phạm danh dự, nhân phẩm;
b) Sử dụng các phương tiện thông tin nhằm xúc phạm danh dự, nhân phẩm thành viên gia đình;
c) Phổ biến, phát tán tờ rơi, bài viết, hình ảnh, âm thanh nhằm xúc phạm danh dự, nhân phẩm của nạn nhân.
3. Biện pháp khắc phục hậu quả:
a) Buộc xin lỗi công khai khi nạn nhân có yêu cầu đối với hành vi quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều này;
b) Buộc thu hồi tư liệu, tài liệu, tờ rơi, bài viết, hình ảnh, âm thanh đối với hành vi quy định tại Điểm a, c Khoản 2 Điều này".

Hành vi thường xuyên chửi bới, lăng mạ, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của mẹ bạn đối với bạn sẽ bị xử phạt hành chính về hành vi xúc phạm danh dự, nhân phẩm của thành viên gia đình theo quy định tại Điều 51 của Nghị định 167/2013/NĐ-CP với mức phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng.

Nếu trong trường hợp nghiêm trọng có thể truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 155 Bộ luật hình sự năm 2015, luật sửa đổi bổ sung năm 2017, cụ thể như sau:

"Điều 155. Tội làm nhục người khác

1. Người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác, thì bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm:

a) Phạm tội 02 lần trở lên;

b) Đối với 02 người trở lên;

c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

d) Đối với người đang thi hành công vụ;

đ) Đối với người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, chữa bệnh cho mình;

e) Sử dụng mạng máy tính hoặc mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội;

g) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân từ 11% đến 45%.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 05 năm:

a) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân 46% trở lên;

b) Làm nạn nhân tự sát.

4. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm".

Như vậy, hành vi của mẹ bạn nhẹ thì có thể bị xử phạt hành chính, nghiêm trọng thì có thể về truy cứu trách nhiệm hình sự. Nếu như hành vi này liên tục tiếp diễn với mức độ ngày càng nghiêm trọng thì bạn có thể nộp đơn tố giác hành vi của mẹ bạn với cơ quan công an để mẹ bạn phải chịu trách nhiệm về hành vi nghiêm trọng mà mình gây ra.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp. Trân trọng./.

4. Giải đáp về hành vi đe dọa phá hoại hạnh phúc gia đình ?

Kính chào luật sư : Em xin được giấu tên của mình : Em có một vấn đề cần luật sư giúp tư vấn , để giúp bạn em vượt qua quãng thời gian khó khăn này . Thưa anh chị trong thời gian 2 ngày gần đây . Bạn thân của em có gọi điện tâm sự với em trong tình trạng rất buồn và đang hoảng loạn . Bạn ấy đã có gia đình . Nhưng cách đây 4 tháng . Vì chồng cô ấy hay rượu chè chửi mắng và nghe người ngoài về đánh ghen với vợ . Vì quá Bức xúc nên bạn em , đã bỏ nhà đi cùng với hai đứa con nhưng chỉ đi có 5 ngày rồi lại về với chồng . Trong 5 ngày đó vô tình bạn em quen một người . Trong lúc quẫn bách không có tiền mà lại mang theo con . Gặp người đàn ông này . Anh ta đã đưa bạn em và con của cô ấy về nhà .
Trong thời gian ở chung với anh ta . Vì buồn chán quẫn bách và muốn trả thù chồng . Cho nên bạn em và người ấy đã có quan hệ xác thịt . Đến nay bạn em đã về nhà và đang chung sống hòa thuận với chồng cô ấy . Thì người đàn ông kia lại nhắn tin gọi điện bạn em phải đi theo anh ta và quan hệ tình dục với anh ta . Bạn em không chịu . Thì anh ta đe dọa sẽ đem tin nhắn . Nói với chồng bạn em để phá hoại hạnh phúc của gia đình bạn em . Bao sóng gió đã vừa trôi qua . Nay người kia lại muốn làm khổ bạn em mong luật sư cho em lời khuyên để giúp bạn em với . Bạn em nên làm gì bây giờ . Cô ấy đang rất buồn rất hoảng loạn em anh chị ạ ?
Mong anh chị giúp đỡ em và bạn em. Chúng em chân thành cảm ơn luật sư

Trả lời:

Như theo nội dung bạn kể, sau khi cắt đứt quan hệ với Người đàn ông kia thì anh ta lại nhắn tin gọi điện với bạn em nói phải đi theo anh ta và quan hệ tình dục. Như vậy, chủ thế của tội phạm là Người đàn ông kia, có hành vi dùng thủ đoạn là đe dọa sẽ đem tin nhắn dọa nói với chồng bạn em về quan hệ của họ trước đấy. Tuy nhiên, chưa có hành vi giao cấu xảy ra (dấu hiệu bắt buộc), vì vậy trong trường hợp của bạn em chưa cấu thành tội cưỡng dâm, quy định tại Khoản 1 Điều 143 Bộ luật hình sự năm 2015, luật sửa đổi bổ sung năm 2017, cụ thể như sau:

"Điều 143. Tội cưỡng dâm

1. Người nào dùng mọi thủ đoạn khiến người lệ thuộc mình hoặc người đang ở trong tình trạng quẫn bách phải miễn cưỡng giao cấu hoặc miễn cưỡng thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm".

Người đàn ông kia đã và đã vi phạm Khoản 1 Điều 182Bộ luật hình sự năm 2015, luật sửa đổi bổ sung năm 2017: "Người nào đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến một năm."

Xin được tư vấn cho bạn như sau:

Trước hết, bạn của em nên gửi đơn tố cáo kèm theo các tài liệu, chứng cứ chứng minh hành vi của Người đàn ông kia đến cơ quan công an để xem xét và tiến hành điều tra theo thẩm quyền.

Khi xác định có dấu hiệu của việc vi phạm, cơ quan điều tra sẽ ra quyết định và tiến hành điều tra vụ việc. Sau khi có đủ căn cứ để xác định Người đàn ông kia đã thực hiện hành vi trái pháp luật, thì Cơ quan điều tra ra quyết định xử lý đối với Người đàn ông kia cũng như có các biện pháp bảo vệ bạn em.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Tham khảo nội dung: Làm gì khi người yêu đe dọa, không cho chia tay ?

5. Sau khi ly hôn vợ gửi tin nhắn đe dọa ?

Thưa Luật sư: Tôi và chồng tôi kết hôn năm 2009, trước đây chồng tôi đã có hai người con một trai sinh 2002 một gái sinh 1997 chồng tôi ly dị từ năm 2005 và toà xử chồng tôi nuôi hai con, tuy nhiên chồng tôi nuôi được khoảng nửa năm thì chị ấy ra bắt các cháu đưa vào mà không được sự đồng ý của chồng tôi, trong quá trình các cháu sống với mẹ, chồng tôi có chu cấp tiền cho các cháu.

Nhưng vẫn thường xuyên bị chị ấy nhắn tin đe dọa chửi bới. Đến giữa năm 2010 thì chồng tôi không gửi tiền vào tài khoản chị ấy nữa. Khoảng tháng 10/2012 chồng tôi có đón cháu gái ra sống với ông bà nội. Đến tháng 7/2014 tiếp tục đón cháu trai ra sống chung với ông bà nội cùng lúc này chị ấy cũng bán nhà ra Hà nội theo con và thuê trọ gần nhà chồng tôi. Trong suốt thời gian chị ấy ở đó vẫn thường xuyên đến nhà làm phiền và nhắn tin chửi bới đe dọa gđ tôi. Do cháu trai quá hư hỏng nên ông bà không dạy bảo được nên tôi đưa cháu vào Đà Nẵng sống cùng vợ chồng tôi. Tuy nhiên vào sống với tôi cháu cũng không sửa đổi được nhiều đồng thời mẹ cháu thường xuyên đe dọa bằng tin nhắn tới chúng tôi xin nói rõ là đe dọa dùng hoá chất khiến chồng toi bị tàn phế. Và đốt nhà chúng tôi. Tôi xin hỏi:

1. còn với mẹ cháu thường xuyên đe dọa gia đình tôi thì có vi phạm không? Tôi có quyền đánh chị ta khi xâm phạm đến nhà tôi và các con tôi không? Và tôi phải nhờ đến cơ quan chức năng nào để đảm bảo an toàn cho gia đình tôi?

2. theo quy định của toà thì chồng tôi phải lo cho hai cháu đến 18 tuổi.hiện nay cháu lớn đang là sv năm nhất, tôi có còn trách nhiệm với cháu không? Còn với cháu trai đang học lớp 8 vì quá hư không thể dạy dỗ tôi có thể cho cháu ra ngoài sống có thể là thuê phòng cho cháu mà vẫn chu cấp tiền không và khoản chu cấp ấy là bao nhiêu đến khi cháu đủ 18 tuổi. Vì cháu không muốn về sống với mẹ. Làm vậy tôi có vi phạm pháp luật không?

Xin chân thành cảm ơn!

>> Luật sư tư vấn luật hình sự trực tuyến, gọi:1900.6162

Trả lời:

1. Hành vi đe dọa của người vợ cũ?

Căn cứ theo quy định tại Điều 133 Bộ luật hình sự năm 2015, luật sửa đổi bổ sung năm 2017, cụ thể như sau:

"Điều 133. Tội đe dọa giết người

1. Người nào đe dọa giết người, nếu có căn cứ làm cho người bị đe dọa lo sợ rằng việc đe dọa này sẽ được thực hiện, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Đối với 02 người trở lên;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

c) Đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân;

d) Đối với người dưới 16 tuổi;

đ) Để che giấu hoặc trốn tránh việc bị xử lý về một tội phạm khác".

Theo tinh thần của điều luật, thì chỉ được coi là phạm tội đe dọa giết người khi người bị đe dọa lo sợ rằng việc đe dọa giết người sẽ được thực hiện. Về trường hợp của bạn, chồng bạn bị vợ trước đây nhắn tin đe dọa dùng hóa chất gây tàn phế và đốt nhà. Như vậy, chưa đủ yếu tố là đe dọa giết người để cấu thành tội đe dọa giết người. Do đó, trong trường hợp này, người vợ trước không phạm tội nào theo quy định của bộ luật Hình sự.

Về tinh thần quy định của pháp luật, hành vi đánh người là bị cấm, tuy nhiên, tùy từng trường hợp, đánh người là để phòng vệ chính đáng hay không. Ngoài ra, hành vi đánh người sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự nếu như cấu thành tội (ví dụ như tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác). Như vậy, hành vi đánh người nếu như chị cũ thực hiện những hành vi đe dọa thì chưa thể khẳng định được bạn có vi phạm pháp luật hay không vì còn dựa vào hậu quả xảy ra.

Về cơ quan có thẩm quyền, nếu xảy ra trường hợp người vợ cũ thực hiện các hành vi như đe dọa, thì bạn có thể khởi kiện ra Tòa án, nếu đủ yếu tố cấu thành tội thì người vợ cũ đó phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.

2. Trách nhiệm đối với 2 người con?

Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 quy định:

"Điều 69. Nghĩa vụ và quyền của cha mẹ
1. Thương yêu con, tôn trọng ý kiến của con; chăm lo việc học tập, giáo dục để con phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ, đạo đức, trở thành người con hiếu thảo của gia đình, công dân có ích cho xã hội.
2. Trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.
3. Giám hộ hoặc đại diện theo quy định của Bộ luật dân sự cho con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự.
4. Không được phân biệt đối xử với con trên cơ sở giới hoặc theo tình trạng hôn nhân của cha mẹ; không được lạm dụng sức lao động của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động; không được xúi giục, ép buộc con làm việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội".

"Điều 71. Nghĩa vụ và quyền chăm sóc, nuôi dưỡng
1. Cha, mẹ có nghĩa vụ và quyền ngang nhau, cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.
2. Con có nghĩa vụ và quyền chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ, đặc biệt khi cha mẹ mất năng lực hành vi dân sự, ốm đau, già yếu, khuyết tật; trường hợp gia đình có nhiều con thì các con phải cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ".

"Điều 72. Nghĩa vụ và quyền giáo dục con
1. Cha mẹ có nghĩa vụ và quyền giáo dục con, chăm lo và tạo điều kiện cho con học tập.
Cha mẹ tạo điều kiện cho con được sống trong môi trường gia đình đầm ấm, hòa thuận; làm gương tốt cho con về mọi mặt; phối hợp chặt chẽ với nhà trường, cơ quan, tổ chức trong việc giáo dục con.
2. Cha mẹ hướng dẫn con chọn nghề; tôn trọng quyền chọn nghề, quyền tham gia hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của con.
3. Cha mẹ có thể đề nghị cơ quan, tổ chức hữu quan giúp đỡ để thực hiện việc giáo dục con khi gặp khó khăn không thể tự giải quyết được".

Khoản 1 Điều 79. Quyền, nghĩa vụ của cha dượng, mẹ kế và con riêng của vợ hoặc của chồng
"1. Cha dượng, mẹ kế có quyền và nghĩa vụ trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con riêng của bên kia cùng sống chung với mình theo quy định tại các điều 69, 71 và 72 của Luật này."

Luật trẻ em năm 2016 quy định như sau:

"Điều 96. Bảo đảm cho trẻ em được sống với cha, mẹ

1. Cha, mẹ, người chăm sóc trẻ em, các thành viên trong gia đình bảo đảm Điều kiện để trẻ em được sống với cha, mẹ.

2. Cha, mẹ, người chăm sóc trẻ em và các thành viên trong gia đình phải chấp hành quy định của pháp luật và quyết định của cơ quan, cá nhân có thẩm quyền về việc hạn chế quyền của cha, mẹ; tách trẻ em khỏi cha, mẹ để bảo đảm an toàn và vì lợi ích tốt nhất của trẻ em".

Như vậy:

- Đối với con 18 tuổi, theo tinh thần của pháp luật, người 18 tuổi được coi là người thành niên, như vậy, cha mẹ có nghĩa vụ chăm sóc người thành niên nếu người đó mất năng lực hành vi dân sự, hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản. Thông tin bạn cung cấp, con của chồng bạn 18 tuổi, nhưng bạn không cung cấp rõ con có bị mất năng lực hành vi dân sự, hay không có khả năng lao động và không có tài sản không, nên chúng tôi chưa thể xác định bạn có trách nhiệm đối với con 18 tuổi không. Nếu con 18 tuổi của bạn có khả năng lao động và có tài sản thì bạn không có nghĩa vụ phải chăm sóc, nuôi dưỡng.

- Đối với con lớp 8 tuổi thì được xác định là chưa thành niên (độ tuổi dưới 18 tuổi), do đó, cha mẹ có nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Hơn nữa, theo quy định của Luật Bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em thì cha mẹ có trách nhiệm tạo điều kiện để con sống cùng bố mẹ. Như vậy, việc bạn để con lớp 8 ở ngoài là vi phạm theo quy định của pháp luật về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em.

>> Tham khảo nội dung: Tố cáo khi bị đe dọa tung ảnh nóng lên mạng?

6. Xử lý thế nào khi bị xúc phạm danh dự nhân phẩm ?

Thưa Luật sư, trước đây em có quan hệ tình cảm qua lại với 1 người đàn ông đã có vợ, nhưng sau khi bị vợ anh ta phát hiện thì em đã chấm dứt. Nhưng anh ta thì không chấp nhận, vẫn sống với vợ nhưng vẫn muốn có em. Vợ anh ta thì ghen, hung dữ, nói chuyện ngang ngược. Em đã nhận sai và hứa với chị ta là sẽ chấm dứt không liên quan gì nữa.

Chị ta cũng đồng ý bỏ qua tất cả miễn em tránh xa chồng chi ấy ra. Em đã hứa và làm theo lời hứa, nhưng chị ta nói 1 làm 2, hể nghe người ta nói bóng gió thì lại kiếm chuyện với em đã nhiều lần trong công ty (cả 3 làm chung công ty). Bây giờ em muốn thưa chị ta có được không, phải làm thủ tục thế nào. Vì công việc chồng chị ấy đứng gần chỗ em ngồi, chị ta cũng đi lại chỗ em kiếm chuyện chửi nói em có ý với chồng chị ta rồi lôi chuyện cũ ra nói xúc phạm em. Em có giải thích lí lẽ chị ta không nghe còn hét to giọng rất ngang ngược, dữ tợn. Em phải làm gì bây giờ, vì có người nhà là cấp cao trong công ty với chồng chị ta cũng co chức quyền nên chị ta không coi ai ra gì, trong giờ làm chị muốn chửi là chửi. Xin giúp em!

Em xin chân thành cảm ơn!

Xử lý thế nào khi bị xúc phạm danh dự nhân phẩm ?

Luật sư tư vấn luật dân sự trực tuyến, gọi:1900.6162

Trả lời:

Theo quy định tại Điều 34 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về quyền được bảo vệ về danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân, cụ thể như sau:

"Điều 34. Quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín

1. Danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân là bất khả xâm phạm và được pháp luật bảo vệ.

2. Cá nhân có quyền yêu cầu Tòa án bác bỏ thông tin làm ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của mình.

Việc bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín có thể được thực hiện sau khi cá nhân chết theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc con thành niên; trường hợp không có những người này thì theo yêu cầu của cha, mẹ của người đã chết, trừ trường hợp luật liên quan có quy định khác.

3. Thông tin ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân được đăng tải trên phương tiện thông tin đại chúng nào thì phải được gỡ bỏ, cải chính bằng chính phương tiện thông tin đại chúng đó. Nếu thông tin này được cơ quan, tổ chức, cá nhân cất giữ thì phải được hủy bỏ.

4. Trường hợp không xác định được người đã đưa tin ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của mình thì người bị đưa tin có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố thông tin đó là không đúng.

5. Cá nhân bị thông tin làm ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín thì ngoài quyền yêu cầu bác bỏ thông tin đó còn có quyền yêu cầu người đưa ra thông tin xin lỗi, cải chính công khai và bồi thường thiệt hại".

Việc chị đồng nghiệp của bạn luôn có những lời lẽ xúc phạm bạn thìcăn cứ vào Điều 584 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định như sau:

"Điều 584. Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại

1. Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.

2. Người gây thiệt hại không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp thiệt hại phát sinh là do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.

3. Trường hợp tài sản gây thiệt hại thì chủ sở hữu, người chiếm hữu tài sản phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp thiệt hại phát sinh theo quy định tại khoản 2 Điều này".

Điều 592 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm:

"Điều 592. Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm

1. Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm bao gồm:

a) Chi phí hợp lý để hạn chế, khắc phục thiệt hại;

b) Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút;

c) Thiệt hại khác do luật quy định.

2. Người chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác bị xâm phạm phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm không quá mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định".

Như vậy khi nhận thấy danh dự nhân phẩm của mình bị xâm phạm bạn có quyền khởi kiện dân sự có kèm nghĩa vụ chứng minh để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình đồng thời yêu cầu người gây ra thiệt hại phải bồi thường.

Thủ tục bạn cần có là:

- Đơn khởi kiện (Theo mẫu);

- Chứng minh nhân dân và sổ hộ khẩu của hai bên (Bản sao có chứng thực);

- Bằng chứng, chứng cứ kèm theo;

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Emailđể nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Tư vấn luật Dân sự - Công ty luật Minh Khuê