Sau đó người chủ thứ 2 làm đơn xin sử dụng đất xây dựng nhà ở. Sau đó, chủ thứ 2 làm giấy tay công nhận đứng tên dùm phần đất cho người thứ 3 vào tháng 6/1996. Sau khi mua nhà một thời gian, tôi có xây lại nhà, nhưng không phép (không có quyết định xử phạt). Nhà đã được cấp số nhà do anh ruột tôi đứng tên và đã có hộ khẩu (con tôi là chủ hộ). Hiện tại hợp đồng điện nước vẫn còn đứng tên của người chủ thứ 3. Nhà ở ổn định, không tranh chấp. Vậy nhà tôi có hợp thức hóa được không và cần những thủ tục, giấy tờ gì ?

Luật Minh Khuê vui lòng tư vấn giúp. Xin cảm ơn.

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê.

>> Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến,gọi: 1900.6162

 

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của chúng tôi nghiên cứu và tư vấn như sau: 

1. Cơ sở pháp lý:

Luật đất đai năm 2013 

Nghị định số 121/2013/NĐ-CP

Thông tư 02/2014/TT-BXD

Nghị định số 43/2014/NĐ-CP

2. Nội dung tư vấn:

Theo quy định của pháp luật thì khi tiến hành xây dựng bạn phải xin Giấy phép xây dựng. Trong trường hợp này, nếu không có giấy phép xây dựng thì bạn phải nộp phạt để được cấp giấy phép xây dựng theo quy định tại khoản 9 Điều 13 Nghị định số 121/2013/NĐ-CP Nghị định quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động xay dựng; kinh doanh bất động sản; khai thác; sản xuất; kinh doanh vật liệu xây dựng; quản lý công trình hạ tầng kỹ thuật; quản lý phát triển nhà và công sở.

Và Điều 8 Thông tư 02/2014/TT-BXD Thông tư Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 121/2013/NĐ-CP ngày 10 tháng 10 năm 2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động xây dựng; kinh doanh bất động sản; khai thác, sản xuất, kinh doanh vật liệu xây dựng; quản lý công trình hạ tầng kỹ thuật; quản lý phát triển nhà và công sở

Theo quy định này thì hành vi xây dựng không phép mà không vi phạm chỉ giới xây dựng và gây ảnh hưởng các công trình lân cận, không có tranh chấp, xây dựng trên đất thuộc quyền sử dụng hợp pháp thì ngoài việc bị xử phạt vi phạm hành chính, bạn còn buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được, tương đương 40% giá trị phần xây dựng sai phép hoặc không phép nếu là công trình nhà ở riêng lẻ….

Sau khi bạn nộp phạt, cơ quan có thẩm quyền sẽ cấp phép xây dựng và tiến hành thủ tục hợp thức hóa theo quy định của pháp luật

Căn cứ theo Điều 20 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP NGhị định quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai
quy đinh như sau:

“Điều 20. Cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất mà không có giấy tờ về quyền sử dụng đất và không vi phạm pháp luật đất đai Việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất(công nhận quyền sử dụng đất) cho hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ổn định từ trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 mà không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật Đất đai, Điều 18 của Nghị định này và không thuộc trường hợp quy định tại Khoản 1 Điều 101 của Luật Đất đai, Điều 23 của Nghị định này
được thực hiện theo quy định như sau:

1. Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất có nhà ở, công trình xây dựng khác từ trước ngày 15 tháng 10 năm 1993; nay được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất xác nhận không có tranh chấp sử dụng đất; việc sử dụng đất tại thời điểm nộp hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là phù hợp với quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị hoặc quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn hoặc quy hoạch xây dựng nông thôn mới đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt (sau đây gọi chung là quy hoạch) hoặc không phù hợp với quy hoạch nhưng đã sử dụng đất từ trước thời điểm phê duyệt quy hoạch hoặc sử dụng đất tại nơi chưa có quy hoạch thì được công nhận quyền sử dụng đất như sau:

a) Đối với thửa đất có nhà ở mà diện tích thửa đất nhỏ hơn hoặc bằng hạn mức công nhận đất ở quy định tại Khoản 4 Điều 103 của Luật Đất đai (sau đây gọi là hạn mức công nhận đất ở) thì toàn bộ diện tích thửa đất được công nhận là đất ở.

Trường hợp thửa đất có nhà ở mà diện tích thửa đất lớn hơn hạn mức công nhận đất ở thì diện tích đất ở được công nhận bằng hạn mức công nhận đất ở;trường hợp diện tích đất xây dựng nhà ở và các công trình phục vụ đời sống lớn hơn hạn mức công nhận đất ở thì công nhận diện tích đất ở theo diện tích thực tế  đã xây dựng nhà ở và các công trình phục vụ đời sống đó;”

Ngoài ra, căn cứ để xác định việc sử dụng đất ổn định được quy định tại Điều 21 Nghị định này như sau: “Điều 21. Căn cứ xác định việc sử dụng đất ổn định 1. Sử dụng đất ổn định là việc sử dụng đất liên tục vào một mụcđích chính nhất định kể từ thời điểm bắt đầu sử dụng đất vào mục đích đó đến thời điểm cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất hoặc đến thời điểm quyết định thu hồi đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với trường hợp chưa cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Giấychứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (sau đây gọi chung là Giấy chứng nhận).

Trong trường hợp này, nếu bạn thỏa mãn được các điều kiện quy định như trên bạn có thể làm đơn Phòng Tài nguyên môi trường UBND Quận ,huyện nơi mảnh đất tọa lạc để yêu cầu được cấp giấy chứng nhận. Hồ sơ gồm:

- Đơn đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

- Sơ đồ thửa đất xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất;

- Một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất

- Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa các bên

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật đất đai qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!                                  

Trân trọng./.                                  

Bộ phận tư vấn luật đất đai.