Qua các phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm đều tuyên ông a tiếp tục hợp đồng và trả tiền đất còn thiếu, và lãi suất vi phạm. Cụ thể: tôi giao đất và giấy đất cho ông a sau khi ông a trả đủ tiền đất còn thiếu. Trong khi ông a chưa thi hành nghĩa vụ nộp tiền thì thi hành án buộc tôi giao giấy đất cho ông a. Và tháng 9/2010 mặc dù giấy đất mang tên ông a tôi đag giữ thì ông a làm 3 hợp đồng bán đất cho bà b, hđ được ubnd phường ký, cùng ngày ông a có tiền nộp vào thi hành án. 2011, tòa án tối cao có qđ giám đốc thẩm hủy án st và pt xét xử lại. 2014, ta sơ thẩm lần 2 tuyên ông a tiếp tục trả tiền và ls theo giá thị trường (đất theo gía thị trường 1,9ty) 2015: ta phúc thẩm lần 2 tuyên hủy án st, ông a tiếp tục trả tiền đất và lãi suất 64tr.

- Đất tôi bán từ năm 2007, đến nay 10 năm đi thưa kiện vì bên mua không thanh toán tiền đủ. Đến giờ nhận 64tr tiền lãi suất rất thiệt thòi cho tôi. Giấy đất tôi đang giữ mà ông a vẫn bán cho bên thứ 3. - đất của tôi là hộ gia đình. Các con tôi không ký hđ mua bán, có giám định chữ ký không phải của con tôi.

Vậy hợp đồng có bị tuyên vô hiệu để hủy hđ được không ?

Xin chân thành cảm ơn quý luật sư. .

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật Đất đai của Công ty luật Minh Khuê

 

Trả lời:

Cảm ơn bạn đã tin tưởng gửi câu hỏi đến bộ phận tư vấn pháp luật đất đai của Luật Minh Khuê, vấn đề bạn quan tâm Chúng tôi xin trao đổi cụ thể như sau:

1. Cơ sở pháp lý: 

Bộ luật Dân sự 2015

>> Xem thêm:  Trình tự sang tên khi mua bán xe máy ở tiệm cầm đồ ?

Luật Đất đai 2013

2. Luật sư tư vấn:

Điều 212 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về sở hữu chung của các thành viên gia đình như sau:

1. Tài sản của các thành viên gia đình cùng sống chung gồm tài sản do các thành viên đóng góp, cùng nhau tạo lập nên và những tài sản khác được xác lập quyền sở hữu theo quy định của Bộ luật này và luật khác có liên quan.

2. Việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung của các thành viên gia đình được thực hiện theo phương thức thỏa thuận. Trường hợp định đoạt tài sản là bất động sản, động sản có đăng ký, tài sản là nguồn thu nhập chủ yếu của gia đình phải có sự thỏa thuận của tất cả các thành viên gia đình là người thành niên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, trừ trường hợp luật có quy định khác.

Trường hợp không có thỏa thuận thì áp dụng quy định về sở hữu chung theo phần được quy định tại Bộ luật này và luật khác có liên quan, trừ trường hợp quy định tại Điều 213 của Bộ luật này.

Tại khoản 29 Điều 3 Luật Đất đai 2013 quy định:

“Hộ gia đình sử dụng đất là những người có quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình, đang sống chung và có quyền sử dụng đất chung tại thời điểm được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất; nhận chuyển quyền sử dụng đất”.

Như vậy, theo quy định trên đất được cấp cho hộ gia đình thì thuộc quyền sở hữu chung của tất cả mọi thành viên trong hộ gia đình. Việc xác định những người có quyền đối với quyền sử dụng đất cấp cho hộ gia đình được căn cứ vào sổ hộ khẩu tại thời điểm được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất; nhận chuyển quyền sử dụng đất. Do đó, để thực hiện việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất cần phải có sự đồng ý của tất cả các thành viên trong sổ hộ khẩu của bạn, điều này cần được thể hiện bằng văn bản ủy quyền cho bạn khi bạn thực hiện giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Nếu không đáp ứng điều kiện này thì giao dịch không được công nhận.

Việc A đem chuyển nhượng miếng đất khi chưa hoàn thành nghĩa vụ thanh toán đủ tiền cho bạn (và bạn vẫn đang cầm giấy tờ miếng đất đó) là trái pháp luật. 

Theo quy định tại điều 122 Bộ luật Dân sự 2015 thì giao dịch được tuyên bố vô hiệu nếu không thỏa mãn các điều kiện sau:

a) Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập;

b) Chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện;

>> Xem thêm:  Mẫu đơn đề nghị cấp giấy phép xây dựng mới nhất năm 2020

c) Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.

Như vậy, giao dịch của bạn có thể bị tuyên bố vô hiệu do nội dung hợp đồng mua bán không hợp pháp ( do 1 mình bạn không thể quyết định miếng đất thuộc quyền sử dụng của hộ gia đình). Sau khi bị tuyên bố vô hiệu thì bạn sẽ hoàn trả lại tiền cho ông A ( kể cả lãi suất) và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã sang tên cho ông A sẽ vô hiệu, gia đình bạn nhận lại miếng đất thuộc quyền sử dụng của mình.

Trên đây là tư vấn của Luật Minh Khuê về Hủy hợp đồng mua bán đất do không được thanh toán tiền đầy đủ ?. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ 1900.6162  để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Đất đai - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Hợp lý hóa giấy tờ hóa đơn mua bán nhà đất ?