Vì tin tưởng anh họ nên việc nhờ vả chỉ được thực hiện bằng miệng chứ không có bất cứ giấy tờ nào được viết ra. Tháng 5 năm 2005, chị A điều khiển xe máy vi phạm luật giao thông đường bộ nên xe của chị đã bị tạm giữ 15 ngày theo quy định. Đến ngày hẹn lấy xe, chị A nhờ anh B đến lấy xe hộ vì đăng ký xe mang tên anh B. Sau khi lấy xe về, anh B đã mượn chị A để sử dụng và hứa trả sau 3 ngày. Tuy nhiên, sau khi hết hạn 3 ngày, chị A vẫn không thấy anh B trả xe nên đã sang nhà để lấy. Lúc này anh B nhất định không trả vì cho rằng xe của mình theo giấy đăng ký xe. Hai bên xảy ra tranh chấp. Tôi muốn hỏi rằng :

1. Xét về bản chất, giao dịch giữa A và B là loại giao dịch gì? 

2. Ai là chủ sở hữu của chiếc xe máy?

3. Giả sử khi trả tiền mua xe, chị A là người trả và phiếu thu chị vẫn còn giữ và người trả tiền là chị A. Vậy chị A có thể kiện đòi lại chiếc xe máy không?

4. Các phương thức khởi kiện mà chị A có thể áp dụng để bảo vệ quyền sở hữu của mình?

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật dân sự của công ty luật Minh Khuê.

Luật sư tư vấn pháp luật dân sự trực tuyến, gọi:  1900.6162

Trả lời:

Chào bạn,Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn luật dân sự của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

>> Xem thêm:  Tư vấn thủ tục khởi kiện vụ án dân sự - hôn nhân - gia đình

 

I. Căn cứ pháp lý:

-Bộ luật dân sự 2005

-Bộ luật hình sự 1999

-Bộ luật hình sự sửa đổi bổ sung 2009

-Bộ luật tố tụng hình sự 2003

II. Luật sư tư vấn:

1/.Điều 121 BLDS 2005 quy định về giao dịch dân sự như sau: "Giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự"

Điều 122. Điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự  

1. Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:

>> Xem thêm:  Hỏi đáp pháp luật dân sự trực tuyến qua tổng đài 1900.6162

a) Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự;

b) Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội;

c) Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện.

2. Hình thức giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch trong trường hợp pháp luật có quy định.

Điều 128. Giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội  

Giao dịch dân sự có mục đích và nội dung vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội thì vô hiệu.

Điều cấm của pháp luật là những quy định của pháp luật không cho phép chủ thể  thực hiện những hành vi nhất định.

Đạo đức xã hội là những chuẩn mực ứng xử chung giữa người với người trong đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng.

Như vậy, giao dịch giữa A và B bản chất vẫn là giao dịch dân sự thông thường làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên. Tuy nhiên giao dịch này bị vô hiệu vì mục đích và nội dung của giao dịch vi phạm điều cấm của pháp luật.

2/.  Về mặt pháp lý, Giấy đăng ký xe là giấy tờ Nhà nước cấp cho chủ sở hữu xe để công nhận quyền sở hữu của người đó đối với chiếc xe. Giấy đăng ký xe là giấy tờ chứng minh quyền tài sản và là căn cứ để chủ sở hữu xe thực hiện các quyền của chủ sở hữu theo Điều 164 BLDS quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt tài sản. Theo đó, ai là người đứng tên trên giấy tờ đăng ký xe thì đó sẽ là chủ sở hữu của chiếc xe. Theo đó, B là người đứng tên trên các hợp đồng mua bán và giấy tờ đăng ký xe, nên chiếc xe thuộc quyền sở hữu của B.

>> Xem thêm:  Được công nhận quyền sử dụng đất ông cha lâu đời ?

3/. Nếu như trong các giao dịch với đại lý X, chị A là người đứng tên và chị vẫn còn giữ các giấy tờ đó thì có thể chứng minh chị là chủ sở hữu của chiếc xe. Khi đó, chị A có thể kiện đòi lại tài sản của mình.

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 401 BLDS 2005 quy định về hình thức hợp đồng dân sự:“Hợp đồng dân sự có thể được giao kết bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể, khi pháp luật không quy định loại hợp đồng đó phải được giao kết bằng một hình thức nhất định”

Như vậy, việc bạn nhờ anh B đứng tên hộ trên toàn bộ giấy tờ xe có thể được coi là một hợp đồng dân sự bằng miệng giữa hai bên với nhau. Để bảo vệ quyền lợi của mình, chị A cần yêu cầu B chấm dứt hợp đồng giữa hai người và thực hiện việc đăng ký giấy tờ xe mang tên A.

Nếu chị A muốn đơn phương chấm dứt hợp đồng mà B không đồng ý thì chị A nên kiện ra Tòa án. Trong thời gian chờ Tòa án giải quyết, chị có thể lập văn bản để thông báo việc chấm dứt không nhờ B đứng tên hộ nữa. Thông báo này chị A gửi đến các cơ quan chức năng như Ủy ban nhân dân cấp xã nơi chị cư trú, cơ quan công an nơi thực hiện đăng ký xe. Theo đó, người đứng tên hộ có thể được xem xét đến việc trả các trách nhiệm liên quan về cho chủ xe thực sự.

Vì  chiếc xe đó được mua tại các cơ sở bán xe máy, nên nếu còn giữ các giấy tờ mua bán xe, chị A cần đưa ra các hóa đơn, chứng từ để chứng minh chị đã mua chiếc xe đó và chị là chủ sở hữu thực sự của chiếc xe.

Nếu chị A không có giấy tờ gì chứng minh chiếc xe là của chị thì trường hợp này có bất lợi cho A vì mọi giấy tờ pháp lý chứng minh chiếc xe là của B vì vậy việc lấy lại chiếc xe là rất khó.

4/.  TH1: Chị A có thể kiện anh B ra tòa án dân sự theo thủ tục tố tụng dân sự để kiện đòi tài sản.

Nếu khi chị A muốn đơn phương chấm dứt hợp đồng mà B không đồng ý thì chị A nên kiện ra Tòa án, vì khi đó theo như quy định tại BLDS 2005, C đã chiếm đoạt và sử dụng tài sản của bạn trái pháp luật, theo đó, quy định tại Điều 259 BLDS 2005 thì bạn có quyền:

"Điều 259. Quyền yêu cầu ngăn chặn hoặc chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật đối với việc thực hiện quyền sở hữu, quyền chiếm hữu hợp pháp

Khi thực hiện quyền sở hữu, quyền chiếm hữu của mình, chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp có quyền yêu cầu người có hành vi cản trở trái pháp luật phải chấm dứt hành vi đó; nếu không có sự chấm dứt tự nguyện thì có quyền yêu cầu Toà án, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền khác buộc người đó chấm dứt hành vi vi phạm."

>> Xem thêm:  Tư vấn về bồi thường thiệt hại trong dân sự ?

Theo phương án này, bạn gửi đơn khởi kiện tới Tòa án có thẩm quyền . Ở đây là Tòa án cấp huyện nơi bị đơn cư trú, làm việc theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 BLTTDS.

" Điều 35. Thẩm quyền của Toà án theo lãnh thổ

1. Thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của Toà án theo lãnh thổ được xác định như sau:

a) Toà án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều 25, 27, 29 và 31 của Bộ luật này;

Trường hợp 2: Đòi lại tài sản trên bằng con đường tố giác tội phạm theo quy định của pháp luật về tố giác tội phạm.

Theo như thông tin bạn cung cấp, có thể khái quát như sau: Anh B lợi dụng mối quan hệ anh em với chị A, lừa dối mượn xe để sử dụng và giờ không có ý định trả lại tai sản đó cho bạn. Như vậy, theo quy định tại BLHS anh ta có thể bị truy tố về tội danh lợi dụng tín nhiệm để chiếm đoạt tài sản của bạn tại Khoản 1 Điều 140 như sau:

"Điều 140. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

1. Người nào có một trong những hành vi sau đây  chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ một triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới một triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm:

  a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian  dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó;

  b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó  vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản."

Theo quy định tại điểm b, khoản 2 điều 1 BLHS 2009 quy định: "Sửa đổi cụm từ “một triệu đồng” thành cụm từ “bốn triệu đồng” tại khoản 1 và bỏ từ “trên” tại điểm d khoản 2 Điều 140;"

Theo quy định trên thì hành vi phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là hành vi vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó. Giá trị tài sản bị chiếm đoạt phải có giá trị từ bốn triệu đồng trở lên thì mới phạm vào tội này, nếu dưới bốn triệu đồng thì phải hội đủ các điều kiện khác của điều luật như gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm thì mới phạm vào tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Chiếc xe máy của chị A giá trị chắc chắn lớn hơn 4 triệu đồng và các yếu tố khác, đủ để cấu thành tội phạm đối với B.

Theo quy định tại điều 101 BLTTHS 2003: “Công dân có thể tố giác tội phạm với Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án hoặc với các cơ quan khác, tổ chức. Nếu tố giác bằng miệng thì cơ quan, tổ chức tiếp nhận phải lập biên bản và có chữ ký của người tố giác.

Cơ quan, tổ chức khi phát hiện hoặc nhận được tố giác của công dân phải báo tin ngay về tội phạm cho Cơ quan điều tra bằng văn bản”.
 
Sau khi gửi đơn tố giác, quyền và nghĩa vụ của bạn là cung cấp mọi thông tin đúng sự thật cho cơ quan điều tra nếu cơ quan điều tra quyết định khởi tố vụ án theo đơn tố giác nếu có đủ dấu hiệu cấu thành tội phạm. Sau khi xử lí về hình sự, tòa án sẽ giải quyết yêu cầu về mặt dân sự cho bạn. Và đương nhiên chị A phải đưa ra được các căn cứ như đã nêu ở trên để chứng minh quyền 
sở hữu tài sản của mình.

>> Xem thêm:  Hát karaoke vào ban đêm thì có bị phạt không ?

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.                                  

Bộ phận tư vấn pháp luật dân sự. 

>> Xem thêm:  Luật sư và cơ quan tố tụng: Loay hoay tìm tiếng nói chung