1. Làm đơn tố cáo hành vi vay tiền không trả ?

Em xin chào luật sư ạ. E xin luật sư tư vấn giúp e ạ. E có cho bà A vay 30tr đồng trong thời hạn 6 tháng. Khi đến hạn e đã rất nhiều lần hỏi bà trả tiền nhưng bà đã lần lữa và không chịu trả. Khi đi vay tiền bà A có nói là vay cho con gái và con rể làm trang trại. vì tin tưởng bà A là hàng xóm nên em đã cho bà vay.

Tuy nhiên đến giờ gần 1 năm mà bà A không chịu trả tiền và con bà A thì bảo không biết việc bà A vay tiền.( bà A góa chồng con gái và con rể ở cùng với bà) Ngoài gia đình e ra bà A còn lừa và vay rất nhiều gia đình khác nữa ạ. Ngoài ra còn lấy cả tiền công quỹ và không trả ạ. Số tiền từ vài trăm nghìn đến vài chục triệu thậm trí có người còn hàng trăm triệu nữa ạ. Vì tin tưởng bà A mà giờ đây gần hết dân làng quanh khu xóm đều bị bà A lừa và k trả lại tiền.

Vậy luật sư cho e hỏi như vậy e làm đơn tố cáo bà A tội chiếm đoạt tài sản được không ạ? Đơn tố cáo đó nộp ở đâu? Với tội như vậy bà A có thể phải chịu hình phạt nào ạ?

- Đơn tố cáo có thể làm 1 đơn và tất cả những người bị bà A lừa cùng kí có được không hay phải làm mỗi người 1 đơn ạ?

Em xin chân thành cám ơn và rất mong sớm nhận được câu trả lời từ luật sư ạ.

Luật sư trả lời:

Theo những thông tin quý khách cung cấp thì người phụ nữ kia và quý khách có một hợp đồng vay tiền. Mặc dù đã hết thời hạn vay nhưng người vay vẫn chưa trả tiền. Đồng thời, mục đích vay tiền lúc đầu đã được quý khách xác minh là không đúng. Với những thông tin nêu như vậy, người vay sẽ bị tình nghi có dấu hiệu gian dối. Nhưng người vay và người cho vay có hợp đồng vay tiền, người vay chỉ quanh co chưa chịu trra tiền đúng hạn mà vẫ n nhận trả. Nên mặc dù có dấu hiệu gian dối nhưng để xác minh đó là hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Điều 174 ;Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi năm 2017 thì chưa đủ.

" Điều 174. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ; tài sản là kỷ vật, di vật, đồ thờ cúng có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại.

Nhưng quý khách vẫn có thể làm đơn tố giác hành vi của người vay về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản vì cho rằng người vay có dấu hiệu dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản.

Điều 175. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ một số điều của Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13
...
35. Sửa đổi, bổ sung Điều 175 như sau:

“Điều 175. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả;

b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

Quý khách cùng những người gặp trường hợp tương tự như quý khách có thể cùng làm một lá đơn tố giác (đơn tố cáo) nộp tại cơ quan công an cấp huyện nơi sự việc diễn ra hoặc nơi người vay sinh sống. Nếu cơ quan công an xác minh, điều tra và làm rõ hành vi của người vay đầy đủ dấu hiệu của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản nêu trên thì người vay tiền phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi của mình và sẽ bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm.

Nhưng nếu cơ quan công an tiến hành xác minh trong thời gian tối đa 02 tháng mà ra kết luận vụ việc không có dấu đủ dấu hiệu của tội phạm thì quý khách phải tiến hành làm đơn khởi kiện dân sự về việc vi phạm hợp đồng vay tiền của người vay để mong được nhận lại số tiền đã cho vay.

2. Có lấy lại được số tiền lừa chạy việc ?

>> Xem thêm:  Vay tiêu dùng tín chấp của FE CREDIT mà không trả hết thì có bị đi tù không ?

Xin luật sư tư vấn giúp tôi; vợ chồng tôi và một số người khác bị môt người lừa gạt số tiền cua mỗi người là 120trieu để chạy việc, đến nay đã gần 7 tháng không xin được việc cho chung tôi, chúng tôi đòi lại tiền nhưng cứ kéo dài không trả, nay tôi muốn tố cáo người này về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản được không? tố cáo tại cơ quan nào ạ. Chúng tôi có bằng chứng là hóa đơn chuyển tiền của ngân hàng, và một số đoạn băng ghi âm cuộc điện thoại nói chuyện trao đổi giữa 2 bên ?

Tôi xin cam ơn!

>> Luật sư tư vấn pháp luật Hình sự trực tuyến, gọi: 1900.0159

Trả lời:

Điều 174. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Nếu bạn có đầy đủ bằng chứng chứng chứng minh rằng bạn và anh ta đã thuận về hợp đồng giao tiền chạy việc như giấy tờ thỏa thuận hoặc nếu không có giấy tờ thỏa thuận thì có ngừoi làm chứng thì bạn có thể đòi lại được số tiền của mình

Mẫu đơn: Mẫu đơn tố cáo ( gửi đến Phòng cảnh sát điều tra công an cấp quận/huyện nơi người vi phạm đăng ký hộ khẩu thường trú)

>> Bài viết tham khảo thêm: Tư vấn tố cáo hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản ?

>> Xem thêm:  Bị lừa qua mạng có cách đòi được không ? Cách xư lý việc lừa tiền chạy việc

3. Bị người khác lừa mượn tiền rồi không trả ?

Thưa luật sư, xin hỏi: Tôi có một người bạn nói do hoàn cảnh khó khăn (Bố Mẹ ốm cấp cứu) không có tiền nên hỏi tôi vay 100 triệu. Vì chơi với nhau đã lâu nên tôi không nghi ngờ và chuyển khoản cho họ. Nhưng đến nay đã 3 năm mà họ không trả ? Tôi có dò hỏi biết anh ta thua cờ bạc nên lừa tôi ? Vậy tôi phải làm sao ?
Cảm ơn luật sư!

Trả lời:

Theo quy định tại điều Điều 400 Bộ luật dân sự năm 2015) quy định về hình thức hợp đồng dân sự thì :

Điều 400. Thời điểm giao kết hợp đồng

1. Hợp đồng được giao kết vào thời điểm bên đề nghị nhận được chấp nhận giao kết.

2. Trường hợp các bên có thỏa thuận im lặng là sự trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng trong một thời hạn thì thời điểm giao kết hợp đồng là thời điểm cuối cùng của thời hạn đó.

3. Thời điểm giao kết hợp đồng bằng lời nói là thời điểm các bên đã thỏa thuận về nội dung của hợp đồng.

4. Thời điểm giao kết hợp đồng bằng văn bản là thời điểm bên sau cùng ký vào văn bản hay bằng hình thức chấp nhận khác được thể hiện trên văn bản.

Trường hợp hợp đồng giao kết bằng lời nói và sau đó được xác lập bằng văn bản thì thời điểm giao kết hợp đồng được xác định theo khoản 3 Điều này.

Trong trường hợp của bạn là hợp đồng vay tài sản , pháp luật không yêu cầu phải giao kết bằng một hình thức nhất định vì vậy khi cho vay 2 bên đã giao kết bằng lời nói , hợp đồng này có giá trị pháp luật . Do đó, để được giải quyết bạn có thể khởi kiện dân sự ra Tòa án nơi bị đơn cư trú để yêu cầu giải quyết .

Hồ sơ khởi kiện bao gồm :

Đơn khởi kiện .

– Giấy xác nhận của cơ quan nhà nước về địa chỉ cư trú, làm việc của bị đơn;

– Chứng minh nhân dân và Hộ khẩu của người khởi kiện;

– Giấy tờ chứng minh vụ việc vẫn còn thời hiệu khởi kiện (nếu có).

– Bằng chứng tài liệu chứng cứ liên quan.

– Bản kê các tài liệu nộp kèm theo đơn kiện (ghi rõ số bản chính, bản sao).

Cũng căn cứ theo các quy định tại Điều 139 và Điều 140 của Bộ luật hình sự 1999 (sửa đổi bổ sung 2009) quy định về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản thì:

“Nếu ngay từ đầu, người phạm tội cố ý đưa ra thông tin không đúng sự thật nhằm làm cho người khác tin đó là sự thật nhằm chiếm đoạt tài sản thì sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Trường hợp này, giá trị của tài sản bị chiếm đoạt chỉ cần từ 2 triệu đồng trở lên hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm thì sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự”.

Với những thông tin mà bạn đưa ra như trên, thì hành vi mà bạn của bạn thực hiện sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại Điều 139 của Bộ luật hình sự.

Để bảo vệ quyền lợi của mình, nếu không làm đơn khởi kiện ra tòa bạn có thể gửi đơn tố cáo kèm theo các tài liệu, chứng cứ có liên quan như đoạn ghi âm đến cơ quan công an để được giải quyết.

>> Xem thêm:  Cách giải quyết khi bị lừa tiền nhờ xin việc ? Tố cáo hành vi lừa tiền chạy việc ở đâu ?

4. Bị lừa uống chất gây nghiện chiếm đoạt tài sản ?

Kính chào Luật Minh Khuê, Tôi có một vấn đề mong các luật sư giải đáp: Tôi chạy xe gia đình chở một người khách đến một địa điểm ở Thái Nguyên là 12h trưa, anh ta lừa cho tôi uống một cốc bia có bỏ Chất gây mê và ma túy đá khiến tôi mất nhận thức không nhớ gì cả đến tối khi tôi tỉnh dậy anh ta và một số người nói tôi đánh bạc thua nợ tiền là 50 triệu rồi bắt tôi viết giấy bán xe 50 triệu cho về nhà lấy tiền lên chuộc xe.
Tôi đã xuống bệnh viện Bạch Mai xét nghiệm phát hiện có hai chất Chất gây mê và ma túy tôi đã mang giấy xét nghiệm của bệnh viện Bạch Mai lên Làm Đơn trình báo Công an Huyện Phổ Yên Thái Nguyên.

Vậy tôi muốn hỏi là:

1. Tôi có phạm tội đánh bạc hay không ?

2. Giấy xét nghiệm của bệnh Viện Bạch Mai có tác dụng trước pháp luật hay không ?

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: L.T.X

Thứ nhất, Bộ luật dân sự 2015 có quy định về giao dịch dân sự vô hiệu do người xác lập không nhận thực và làm chủ được hành vi của mình như sau:

Điều 125. Giao dịch dân sự vô hiệu do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện

1. Khi giao dịch dân sự do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi hoặc người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện thì theo yêu cầu của người đại diện của người đó, Tòa án tuyên bố giao dịch đó vô hiệu nếu theo quy định của pháp luật giao dịch này phải do người đại diện của họ xác lập, thực hiện hoặc đồng ý, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.

Theo đó, do anh bị lừa uống chất gây mê và ma túy khiến không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình dẫn đến việc đánh bạc thua nợ 50 triệu đồng thì có thể yêu cầu Tóa án tuyên bố giao dịch thể hiện việc thua nợ là vô hiệu. Theo đó, anh không phạm tội đánh bạc.

Thứ hai, Bộ luật tố tụng dân sự 2015 quy định về việc xác chứng cứ như sau:

Điều 87. Nguồn chứng cứ

1. Chứng cứ được thu thập, xác định từ các nguồn:

a) Vật chứng;

b) Lời khai, lời trình bày;

c) Dữ liệu điện tử;

d) Kết luận giám định, định giá tài sản;

đ) Biên bản trong hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án;

e) Kết quả thực hiện ủy thác tư pháp và hợp tác quốc tế khác;

g) Các tài liệu, đồ vật khác.

2. Những gì có thật nhưng không được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định thì không có giá trị pháp lý và không được dùng làm căn cứ để giải quyết vụ án hình sự.

Theo đó thì giấy xét nghiệm của Bệnh viện Bạch Mai có tác dụng là 1 chứng cứ trước pháp luật về việc anh bị lừa uống thuốc mê và ma túy dẫn đến tình trạng không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình.

>> Xem thêm:  Bị lừa tiền qua facebook thì phải làm gì ? Làm sao để tố cáo khi bị lừa đảo

5. Chuyên lợi dụng chức vụ để lừa tiền ?

Chào luật sư, luật sư tư vấn giúp tôi về trường hợp sau: Tôi tin một người về nhà nói chuyện với em trong họ tôi là có lo được một xuất vào học viện cảnh sát nhân dân 1. em tôi nghĩ tôi nói là đúng và dủ tôi vào gặp người đó. Vì chỗ tôi tin tưởng nên em tôi nhờ tôi đứng ra lo cho cháu ( con của em tôi) vào học ở học viện cảnh sát nhân dân 1, vì là chỗ tin tưởng nên tôi nhận lời giúp cháu tôi làm sao cho được.
Vì là chỗ tin tưởng nên khi giao tiền thì chỉ viết là: người nhận tiền lo cho cháu tôi là người này lo tôi số tiền mà tôi đưa cho để lo cho cháu tôi, nhưng khi nghi vấn là người này không thể lo được cho cháu tôi tôi đã ghi âm tất cả các cuộc nói chuyện của người này với tôi, và đến lúc biết chắc chắn là không được tôi đến đòi tiền lại thì nghe thông tin là người này chuyên lợi dụng chức vụ để lừa tiền. Vậy tôi kiện người này ra tòa thì người này bị tội gì? Và thủ tục khởi kiện ra tòa như thế nào? Cơ quan nào nhận đơn của tôi.
Cảm ơn luật sư!

>> Luật sư tư vấn luật hình sự gọi: 1900.0159

Trả lời:

Theo bạn trình bày, bạn tin một người về nhà nói chuyện với em trong họ bạn là có lo được một xuất vào học viện cảnh sát nhân dân, em tôi nghĩ bạn nói là đúng và rủ bạn vào gặp người đó. Vì chỗ bạn tin tưởng nên em bạn nhờ bạn đứng ra lo cho cháu. Khi nghi vấn là người này không thể lo được cho cháu bạn nên bạn đã ghi âm tất cả các cuộc nói chuyện của người này với bạn, và đến lúc biết chắc chắn là không được tôi đến đòi tiền lại thì nghe thông tin là người này chuyên lợi dụng chức vụ để lừa tiền. Nay bạn muốn khởi kiện người này, khi khởi kiện thì người này có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Điều 174 Bộ luật hình sự 2015

Về thủ tục khởi kiện thì bạn có thể tham khảo tại đây.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng qua email Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email hoặc qua tổng đài 1900.0159. Chúng tôi sẳn sàng giải đáp.

Trân trọng ./.

Bộ phận Tư vấn luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Có lấy lại được tiền khi đã bị lừa chuyển khoản mà không nhận được hàng đã đặt qua mạng ?