Trả lời:

Chào bạn,cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

- Bộ luật hình sự năm 1999 ( sửa đổi, bổ sung năm 2009 ) 

- Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 

- Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 

2. Nội dung phân tích

Nhân viên bệnh viện làm việc vô ý gây chết người, phiên tòa sơ thẩm xử bệnh viện bồi thường cho gia đình bị hại 200.000000, sau đó phiên xử phúc thẩm xử bệnh viện bồi thường thêm 140.000.000, tổng cộng bệnh viện bồi thường 340.000.000. vậy xin hỏi số tiền này bệnh viện chịu hoàn toàn hay cá nhân nhận viên bệnh viện phải chịu ?

Nhân viên bệnh viện được giao nhiệm vụ thực hiện việc điều trị cho bệnh nhân gây thiệt hại thì chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại Theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2005 như sau:

Điều 618. Bồi thường thiệt hại do người của pháp nhân gây ra

Pháp nhân phải bồi thường thiệt hại do người của mình gây ra trong khi thực hiện nhiệm vụ được pháp nhân giao; nếu pháp nhân đã bồi thường thiệt hại thì có quyền yêu cầu người có lỗi trong việc gây thiệt hại phải hoàn trả một khoản tiền theo quy định của pháp luật."

>> Xem thêm:  Phân tích cơ sở pháp lý phán quyết của tòa án ?

Như vậy, bệnh viện phải chịu trách nhiệm bồi thường cho người bị thiệt hại

Em chào anh, chị. Anh chị cho em hỏi vấn đề về luật tố tụng dân sự ạ: Hiện tại thì tòa án nhân dân tỉnh thực hiện phúc thẩm vụ án dân sự. Tòa án tỉnh đã mời 2 thư mời cha và mẹ em với vai trò là bị đơn. Vậy anh, chị cho em hỏi là cha và mẹ em có thể làm giấy ủy quyền cho anh của em sẽ đại diện được không ạ. Và thủ tục làm như thế nào ạ. Em cảm ơn anh, chị rất nhiều. Trân trọng,

" Điều 85. Người đại diện

... 

4. Người đại diện theo ủy quyền theo quy định của Bộ luật dân sự là người đại diện theo ủy quyền trong tố tụng dân sự.

Đối với việc ly hôn, đương sự không được ủy quyền cho người khác thay mặt mình tham gia tố tụng. Trường hợp cha, mẹ, người thân thích khác yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Luật hôn nhân và gia đình thì họ là người đại diện."

Như vậy, Cha mẹ bạn có thể viết giấy ủy quyền cho anh trai bạn đại diện tham gia tố tụng

Luật sư cho lời tư vấn phải làm sao khi có điều trái với quy định pháp luật?từ khi có quyết định thụ lí đến khi mở phiên tòa phúc thẩm thời hạn tối đa là 4 tháng-nhưng đã 18 tháng trôi qua vẫn chưa thấy gì,làm ảnh hưởng rất nhiều tới cuộc sống công việc sinh hoạt của gia đình bị can như có hợp đồng làm ăn không dám kí vì không rõ ngày nào tòa sẽ triệu tập.....tòa án và cơ quan điều tra cùng các cơ quan khác liên quan có quyền trễ hẹn kéo dài lê thê nhưng vẫn bình yên vô sự-nếu người dân mà có lỡ đến trễ hẹn 30 phút thì bị cáo buộc là chống đối, xem thường phép luật....thực sự những điều kì lạ này dân tình không biết kiện tụng ai, kiện ở đâu....?

Đây là thực trạng pháp luật rất phổ biến tại Việt Nam. Trong trường hợp này việc tiếp nhận và xử lý giải quyết được thực hiện theo thủ tục hành chính. Nếu bạn có căn cứ cho rằng hành vi hành chính đó là trái quy định pháp luật

Tại bản án số 02 toàn án nhân dân quận T đã xử và quyết định: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị N Buộc công ty TNHH bất động sản B phải thanh toán trả chị N 140.000.000 đồng tiền đặt cọc và 200.000.000 đồng tiền phạt cọc. Tổng cộng là 340.000.000 đồng. Không đồng ý với quyết định của bản án, ngày 13/3/2009, anh X có đơn kháng cáo chỉ chấp nhận trả số tiền đạt cọc, còn không đồng ý trả số tiền phạt cọc do thời kỳ kinh tế toàn cầu. Anh cho rằng anh không thực hiện đựơc hợp đồng là do khách quan chứ không phải do ý thức chủ quan của anh. Có những giao dịch nào được xác lập? Đặt tên gọi cho những giao dịch này.

 Theo quy định tại Điều 121 Bộ luật dân sự năm 2005 thì:

Điều 121. Giao dịch dân sự

Giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự."

>> Xem thêm:  Quy định của pháp luật về kháng cáo, kháng nghị bản án, quyết định sơ thẩm ?

Trong trường hợp trên, giao dịch dân sự phát sinh là việc xác lập hợp đồng dân sự giữa chị N và công ty bất động sản B.

Cho em hỏi bạn em bị tội không khai báo tội phạm ma túy thì bị giam khoảng bao nhiêu năm tù và đến khoảng bao giờ thì xét xử ạ?

Tội không tố giác tội phạm được quy định như sau:

" Điều 314. Tội không tố giác tội phạm

1. Người nào biết rõ một trong các tội phạm được quy định tại Điều 313 của Bộ luật này đang được chuẩn bị, đang hoặc đã được thực hiện mà không tố giác, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm.

2. Người không tố giác là ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị e m ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự về việc không tố giác các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc các tội khác là tội đặc biệt nghiêm trọng theo quy định tại khoản 1 Điều này.

3. Người không tố giác nếu đã có hành động can ngăn người phạm tội hoặc hạn chế tác hại của tội phạm, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn hình phạt."

Thời hạn tạm giam được quy định như sau:

Điều 120. Thời hạn tạm giam để điều tra

1. Thời hạn tạm giam bị can để điều tra không quá hai tháng đối với tội phạm ít nghiêm trọng, không quá ba tháng đối với tội phạm nghiêm trọng, không quá bốn tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

2. Trong trường hợp vụ án có nhiều tình tiết phức tạp, xét cần phải có thời gian dài hơn cho việc điều tra và không có căn cứ để thay đổi hoặc huỷ bỏ biện pháp tạm giam thì chậm nhất là mười ngày trước khi hết hạn tạm giam, Cơ quan điều tra phải có văn bản đề nghị Viện kiểm sát gia hạn tạm giam.

>> Xem thêm:  Thủ tục giải quyết vụ án dân sự và việc giải quyết vấn đề bồi thường thiệt hại trong vụ án hành chính ?

Việc gia hạn tạm giam được quy định nh­ư sau:

a) Đối với tội phạm ít nghiêm trọng có thể được gia hạn tạm giam một lần không quá một tháng;

b) Đối với tội phạm nghiêm trọng có thể được gia hạn tạm giam hai lần, lần thứ nhất không quá hai tháng và lần thứ hai không quá một tháng;

c) Đối với tội phạm rất nghiêm trọng có thể được gia hạn tạm giam hai lần, lần thứ nhất không quá ba tháng, lần thứ hai không quá hai tháng;

d) Đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng có thể được gia hạn tạm giam ba lần, mỗi lần không quá bốn tháng."

Thời hạn chuẩn bị xét xử quy định như sau:

Điều 176. Thời hạn chuẩn bị xét xử

1. Sau khi nhận hồ sơ vụ án, Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa có nhiệm vụ nghiên cứu hồ sơ; giải quyết các khiếu nại và yêu cầu của những người tham gia tố tụng và tiến hành những việc khác cần thiết cho việc mở phiên tòa.

2. Trong thời hạn ba mươi ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng, bốn mươi lăm ngày đối với tội phạm nghiêm trọng, hai tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng, ba tháng đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, kể từ ngày nhận hồ sơ vụ án, Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa phải ra một trong những quyết định sau đây:

a) Đưa vụ án ra xét xử ;

>> Xem thêm:  Tư vấn thời hạn kháng nghị bản án hành chính ?

b) Trả hồ sơ để điều tra bổ sung;

c) Đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án.

Đối với những vụ án phức tạp, Chánh án Tòa án có thể quyết định gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử, nhưng không quá mười lăm ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng và tội phạm nghiêm trọng, không quá ba mươi ngày đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Việc gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử phải được thông báo ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp.

Trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử, Toà án phải mở phiên toà; trong trường hợp có lý do chính đáng thì Toà án có thể mở phiên toà trong thời hạn ba mươi ngày.

Đối với vụ án được trả lại để điều tra bổ sung thì trong thời hạn mười lăm ngày sau khi nhận lại hồ sơ, Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa phải ra quyết định đưa vụ án ra xét xử."

Kính chào Luật Minh Khuê, tôi có một vấn đề mong các luật sư giải đáp, liên quan đến việc đã cho con cho người khác, bây giờ muốn đòi lại con. Năm 1985, anh A và chị B sống chung như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn (dù đủ điều kiện kết hôn). Hai người sống chung với nhau hơn 10 năm thì chị B có thai. Đầu năm 1996, khi anh A bặt tin sau một chuyến ra khơi đánh cá thì chị B sinh một bé gái. Do không có tài sản, không người chăm sóc nên chị B đã nhờ tìm người để cho con. Vài ngày sau, bà C đến xin cháu bé về nuôi. Chị B đồng ý. Hai bên giao nhận trẻ với sự chứng kiến của chị D (là bạn chị B). Cuối năm 1996, anh A trở về và ngỡ ngàng khi chị B cho biết con của họ đã bị bắt cóc chỉ vài ngày sau khi cháu được sinh ra. Đến năm 2003, anh A tình cờ biết con đẻ mình đang được bà C nuôi dưỡng. Sau khi thương lượng không thành, anh A khởi kiện yêu cầu toàn án buộc bà C giao trả con để anh và chị B chăm sóc, dưỡng dục. Trong thời hạn chuẩn bị xét xử vụ án, bà C thừa nhận cháu bé mình đang nuôi là con của chị B song bà không đồng ý giao trả cháu với lý do: Cháu bé đã được mẹ đẻ của nó cho bà từ khi cháu hơn 1 tuần tuổi và hiện cháu bé đang được bà nuôi dưỡng, chăm sóc và đang phát triển bình thường cả về thể chất lẫn tinh thần. Đồng thời, bà con yêu cầu anh A, chị B không được lui tới thăm nom cháu bé cho đến khi cháu đủ 18 tuổi. Vậy theo quy định của pháp luật hiện hành, tranh chấp trên sẽ được giải quyết như thế nào?

 Những tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án được quy định tại Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 như sau:

" Điều 28. Những tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án

...

4. Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc xác định con cho cha, mẹ."

Theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì:

>> Xem thêm:  Tư vấn có quyền khởi kiện lại hay không?

Điều 69. Nghĩa vụ và quyền của cha mẹ

1. Thương yêu con, tôn trọng ý kiến của con; chăm lo việc học tập, giáo dục để con phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ, đạo đức, trở thành người con hiếu thảo của gia đình, công dân có ích cho xã hội.

2. Trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

3. Giám hộ hoặc đại diện theo quy định của Bộ luật dân sự cho con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự.

4. Không được phân biệt đối xử với con trên cơ sở giới hoặc theo tình trạng hôn nhân của cha mẹ; không được lạm dụng sức lao động của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động; không được xúi giục, ép buộc con làm việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội."

Như vậy, cha mẹ là người giám hộ đương nhiên của con chưa thành niên. Tòa án sẽ quyết định ai là cha mẹ đẻ của bé và cha mẹ bé có quyền chăm sóc, nuôi dưỡng con. Cha mẹ chỉ bị hạn chế quyền khi có những hành vi như sau:

Điều 85. Hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên

1. Cha, mẹ bị hạn chế quyền đối với con chưa thành niên trong các trường hợp sau đây:

a) Bị kết án về một trong các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con với lỗi cố ý hoặc có hành vi vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con;

b) Phá tán tài sản của con;

>> Xem thêm:  Mẫu quyết định giải quyết việc kháng cáo (Kháng nghị) đối với quyết định tạm đình chỉ (đình chỉ) giải quyết vụ án (Mẫu 19)

c) Có lối sống đồi trụy;

d) Xúi giục, ép buộc con làm những việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội.

2. Căn cứ vào từng trường hợp cụ thể, Tòa án có thể tự mình hoặc theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức quy định tại Điều 86 của Luật này ra quyết định không cho cha, mẹ trông nom, chăm sóc, giáo dục con, quản lý tài sản riêng của con hoặc đại diện theo pháp luật cho con trong thời hạn từ 01 năm đến 05 năm. Tòa án có thể xem xét việc rút ngắn thời hạn này."

Cha mẹ có quyền yêu cầu người đang nuôi dưỡng bé trao quyền nuôi con trực tiếp cho mình và thực hiện thỏa thuận về nghĩa vụ bồi thường, chi trả về những chi phí mà người đó bỏ ra để chăm sóc và nuôi dưỡng con.

Chào luật sư! E có vấn đề mong được giải đáp từ luật sư. Tháng 4/2014 bố mẹ e có kí gửi cà phê ở đại lí. Nhưng không lâu sau thì đại lí đó bị phá sản. Nhà e không lấy lại được từ đại lí đó nữa. Số cà phê là 3tấn. Sau đó ba mẹ e có biết được là nhà ông bà Thập Vĩ có nợ đại lí 3 tấn cà phê thì ba mẹ e có qua để làm việc chuyển đơn để lấy lại 3 tấn từ đại lí. Ông bà bên đó chấp nhận. Đã ghi đơn và có chữ kí đầy đủ từ 3 bên. Nhưng nay đã hơn 2 năm mà không lấy lại được số cà phê trên đó nên ba mẹ e gửi đơn ra tòa án để lấy lại. Tòa án đã gọi triệu tập 2 lần nhưng đều xét xử vắng mặt. Bên nhà ông bà Thập Vĩ cũng đã bán hết rẫy. Còn lại 1 căn nhà cũng đang hô bán đi. Vậy cho e hỏi bây giờ ba mẹ e nên làm gì để lấy lại đc số cà phê đó đc ạ. E cảm ơn

Việc xét xử khi bị đơn vắng mặt được quy định như sau:

" Điều 227. Sự có mặt của đương sự, người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự 

....

2. Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, đương sự hoặc người đại diện của họ, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự phải có mặt tại phiên tòa, trừ trường hợp họ có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; nếu vắng mặt vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan thì Tòa án có thể hoãn phiên tòa, nếu không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan thì xử lý như sau:

a) Nguyên đơn vắng mặt mà không có người đại diện tham gia phiên tòa thì bị coi là từ bỏ việc khởi kiện và Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án đối với yêu cầu khởi kiện của người đó, trừ trường hợp người đó có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Nguyên đơn có quyền khởi kiện lại theo quy định của pháp luật;

b) Bị đơn không có yêu cầu phản tố, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập vắng mặt mà không có người đại diện tham gia phiên tòa thì Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt họ;

>> Xem thêm:  Mẫu thông báo về việc rút kháng cáo, kháng nghị (Mẫu số 11)

c) Bị đơn có yêu cầu phản tố vắng mặt mà không có người đại diện tham gia phiên tòa thì bị coi là từ bỏ yêu cầu phản tố và Tòa án quyết định đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu phản tố, trừ trường hợp bị đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn có quyền khởi kiện lại đối với yêu cầu phản tố đó theo quy định của pháp luật;"

Như vậy, bị đơn vắng mặt sau khi đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc liên hệ văn phòng để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Tư vấn Pháp luật hình sự

>> Xem thêm:  Mẫu thông báo về việc sửa đổi, bổ sung kháng cáo (kháng nghị) (mẫu số 10)