BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG
-------

ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
---------------

Số: 44-KL/TW

Hà Nội, ngày 01 tháng 04 năm 2009

KẾT LUẬN

CỦA BỘ CHÍNH TRỊ
VỀ KẾT QUẢ 3 NĂM THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT SỐ 47-NQ/TW, NGÀY 22-3-2005 CỦA BỘ CHÍNH TRỊ(KHÓA IX) VỀ “TIẾP TỤC ĐẨY MẠNH THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN SỐ - KẾ HOẠCH HÓA GIAĐÌNH”

Tại phiên họp ngày 06-3-2009, sau khi nghe BanTuyên giáo Trung ương và Ban cán sự đảng Bộ Y tế báo cáo về kết quả 3 năm thựchiện Nghị quyết số 47-NQ/TW, ngày 22-3-2005 của Bộ Chính trị (khóa IX) về “Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện chínhsách dân số - kế hoạch hóa gia đình” (sauđây gọi là Nghị quyết số 47-NQ/TW), Bộ Chính trị đã thảo luận và kết luận:

Bộ Chính trị cơ bản nhất trí với Báo cáo của BanTuyên giáo Trung ương và Ban cán sự đảng Bộ Y tế về kết quả 3 năm thực hiện Nghịquyết số 47-NQ/TW, đồng thời nhấn mạnh một số điểm sau:

Sau ba năm thực hiện Nghị quyết số 47-NQ/TW, côngtác dân số - kế hoạch hóa gia đình đã đạtđược một số thành tựu quan trọng. Công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình đã trở thành một trong những nội dungquan trọng trong chương trình hoạt động của các cấp ủy đảng và chính quyền, các đoàn thể và tổ chức xã hội; từng bước tạo được sự cam kết của các cấp ủy đảng, chính quyền và sự ủng hộ rộng rãi của xãhội trong việc thực hiện chính sách dân số - kế hoạch hóa gia đình. Đã có sự chuyển biến về hôn nhân và sinh đẻ củangười dân, ngày càng có nhiều người kết hôn, sinh con phù hợp hơn với lứa tuổi,sức khỏe, hoàn cảnh kinh tế và số lầnsinh ít hơn (tổng tỉ suất sinh đã giảm từ 2,11 năm 2005 xuống còn 2,07 năm2007); chất lượng dân số từng bước được nâng lên. Những thành tựu của công tácdân số - kế hoạch hóa gia đình đã gópphần tích cực vào sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, nhất là đóng gópvào công cuộc xóa đói, giảm nghèo, bảo vệ, chăm sóc sức khỏe, giáo dục và đào tạo của nhân dân.

Tuy nhiên, công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình vẫn còn những khuyết điểm và yếu kém:Mức sinh giảm chậm, chưa vững chắc, có sự khác biệt giữa các vùng, miền, còntiềm ẩn nguy cơ tăng trở lại; khu vực nông thôn chưa đạt mức sinh thay thế vàmức giảm sinh rất chậm; tình trạng mất cân bằng giới tính của trẻ sơ sinh đãđến mức báo động. Thứ hạng chỉ số phát triển con người (HDI) tuy có tăng nhưngchưa đáng kể. Mặc dù tuổi thọ bình quân tương đối cao nhưng chất lượng tuổi thọkhá thấp. Tỉ lệ lao động đã qua đào tạo còn thấp, chưa đáp ứng yêu cầu pháttriển nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóađất nước. Sức khỏe bà mẹ, trẻ em và chỉ số suy dinh dưỡng cải thiện chậm. Tỉ lệdân số bị thể lực kém, trí tuệ giảm có xu hướng gia tăng. Nhiều vấn đề trongchăm sóc sức khỏe đang đặt ra những bấtcập và lo ngại. Việc quản lý dân số còn thiếu thống nhất, phân tán, gây khókhăn, phiền phức cho người dân trong các giao dịch dân sự, không đáp ứng nhucầu quản lý xã hội và hoạch định chínhsách, lồng ghép chính sách dân số với kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội.

Nguyên nhân của những khuyết điểm, yếu kém trênlà do:

- Một số cấp ủy đảng và chính quyền chưa nhận thứcđầy đủ tầm quan trọng, ý nghĩa chiến lược củacông tác dân số - kế hoạch hóa gia đình,không quan tâm đúng mức đến công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình, đặc biệt khi có biến động về tổ chức làm công tácdân số - kế hoạch hóa gia đình. Trong chỉ đạo còn có biểu hiện thiếu tập trung, thiếuquyết liệt, thiếu những giải pháp thiết thực, chưa phát huy tốt vai trò của cơquan tham mưu... Một bộ phận cán bộ, đảng viên không gương mẫu nhưng chưa bị xửlý nghiêm các vi phạm.

- Chậm sửa đổi Pháp lệnh Dân số và các chính sách,quy định không còn phù hợp với mục tiêu mỗi cặp vợ chồng chỉ có một đến hai con.

- Hệ thống tổ chức làm công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình thiếu ổn định, nhất là chậm tiếnhành việc sáp nhập ủy ban dân số, gia đìnhvà trẻ em vào ngành y tế, tạo nên nhận thức không đúng của cả cán bộ và nhândân về chủ trương của Đảng và Nhà nước về công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình. Đến nay, sau nhiều nỗ lực, tổchức bộ máy mới bước đầu được củng cố, nhưng vẫn chưa ổn định.

- Nguồn lực đầu tư chưa đáp ứng yêu cầu, cơ chế quản lý kinh phí chưa phù hợp với tính chất đặcthù của công tác dân số - kế hoạch hóagia đình.

- Tâm lý, tập quán của người dân trong xã hội nôngnghiệp, lại chịu ảnh hưởng sâu rộng của tư tưởng phong kiến về việc sinh con,muốn có đông con và phải có con trai để nối dõi tông đường còn rất nặng nề.

Để tiếp tục thực hiện thắng lợi Nghị quyết số47-NQ/TW, Bộ Chính trị yêu cầu các cấp ủy đảng, chính quyền, các ban, ngành,đoàn thể chính trị-xã hội toàn xã hộitiếp tục quán triệt và tổ chức thực hiện đầy đủ các quan điểm, mục tiêu, nhiệmvụ và giải pháp mà Nghị quyết số 47-NQ/TW đã đề ra. Những trọng tâm cần tậptrung chú ý là:

- Kiên trì thực hiện mục tiêu gia đình ít con đểnuôi dạy cho tốt, mỗi cặp vợ chồng chỉ có một hoặc hai con để duy trì vững chắcmức sinh thay thế và quy mô dân số nước ta không quá 100 triệu người vào năm2020, tạo cơ sở vững chắc để ổn định quy mô dân số ở mức 115 - 120 triệu ngườivào giữa thế kỷ XXI. Tiếp tục tổ chức thực hiện có hiệu quả Chương trình mục tiêu quốc gia dân số - kếhoạch hóa gia đình. Tập trung nguồn lực,thực hiện mạnh mẽ các giải pháp, mở rộng chính sách khuyến khích để tiếp tụcgiảm sinh ở vùng nông thôn, vùng nghèo, vùng sâu, vùng xa. Có chính sách vàbiện pháp cụ thể để ổn định mức sinh, bảo đảm sự bền vững của chính sách dân số.

- Xây dựng và tổchức thực hiện chiến lược tổng thể nâng cao toàn diện các thành tố của chấtlượng dân số về thể chất, trí tuệ và tinh thần; từng bước nâng cao chỉ số phát triển con người của nước ta lên mức tươngđương với các nước công nghiệp có trình độ pháttriển trung bình trên thế giới. Tăng cường sức khỏe, giảm tỉ lệ bệnh tật; tăng tuổi thọ và số năm trung bình sốngkhỏe mạnh; tiến hành các giải pháp canthiệp về kỹ thuật và xã hội nhằm giảm thiểucác yếu tố gây ảnh hưởng, làm suy thoái chất lượng giống nòi. Nâng cao trình độdân trí, trình độ nghề nghiệp, chuyên môn. Phát huy tiềm năng, tính năng động vàphát triển toàn diện con người trong môi trường gia đình và cộng đồng an toàn,lành mạnh.

- Chủ động kiểm soát và giải quyết các nguyên nhânsâu xa làm mất cân bằng giới tính của trẻ sơ sinh; xử lý nghiêm các hành vi lựachọn giới tính thai nhi. Phát triển kinh tế - xã hội, chuyển dịch cơ cấu kinhtế, đẩy mạnh chương trình việc làm và đào tạo nghề nhằm tăng tỉ lệ việc làm,tận dụng cơ hội của thời kỳ “cơ cấu dân số vàng” để phát huy nguồn lao động dồidào, tạo công ăn việc làm, xuất khẩu lao động, đào tạo nghề... trong giai đoạn 2007- 2022. Phát triển các dịch vụ xã hội thích ứng với giai đoạn cơ cấu dân số giàở nước ta từ năm 2015; từng bước hoàn thiện chế độ an sinh tuổi già; tăng cườnggiáo dục, truy cứu trách nhiệm người vi phạm chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng ôngbà, cha mẹ theo quy định của pháp luật.

- Cải tiến quản lý dân số theo phương thức quản lýdịch vụ công, ứng dụng công nghệ hiện đại xây dựng hệ cơ sở dữ liệu dân số - kế hoạch hóagia đình thống nhất trong phạm vi toàn quốc, đáp ứng nhu cầu sử dụng chung của cácbộ, ngành và các cơ quan, tổ chức trong toàn xã hội và đảm bảo sự thuận tiệnđối với người dân và yêu cầu cải cách nền hành chính quốc gia.

- Đảng đoàn Quốc hội chỉ đạo sớm xây dựng và banhành Luật Dân số.

- Ban cán sự đảng Chính phủ chỉ đạo tổng kết việc thực hiện Chiến lược dân số, Chiến lược sứckhỏe sinh sản giai đoạn 2001 - 2010, xây dựng Chiến lược Dân số - sức khỏe sinh sản giai đoạn 2011 - 2020 làm cơ sở cho việc hoạch định kế hoạch phát triển kinhtế - xã hội; đầu tư đủ kinh phí, trang thiết bị, cơ sở vật chất và những điềukiện đảm bảo thực hiện tốt các chương trình mục tiêu quốc gia, các đề án, dự ánđã được phê duyệt về công tác dân số - kế hoạch hóagia đình giai đoạn đến năm 2010 và sau năm 2010.

- Cấp ủy đảng và chính quyền các cấp sớm ổn định vàkiện toàn cơ quan chuyên trách làm công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình; thành lập ban chỉ đạo công tácdân số - kế hoạch hóa gia đình cấp tỉnh,huyện; tiếp tục duy trì ban dân số - kế hoạch hóagia đình tuyến xã, nâng cao năng lực hoạt động, vai trò phối hợp liên ngành. Tăngcường tuyên truyền, giáo dục, hướng dẫn thực hiện tốt chính sách dân số.

- Giao Ban Tuyên giáo Trung ương chủ trì, phối hợpvới Ban cán sự đảng Bộ Y tế thường xuyên, chủ động hơn nữa trong việc hướngdẫn, kiểm tra, giám sát việc thực hiện Nghị quyết số 47-NQ/TW của Bộ Chính trịtại các địa phương, ban, ngành, đoàn thể và báo cáo định kỳ cho Ban Bí thư.

Kết luận này được phổ biến đến chi bộ.

Nơi nhận:
- Các tỉnh ủy, thành ủy,
- Các ban đảng, ban cán sự đảng, đảng đoàn, đảng ủy trực thuộc Trung ương,
- Các đồng chí Ủy viên
- Ban Chấp hành Trung ương Đảng,
- Lưu Văn phòng Trung ương Đảng.

T/M BỘ CHÍNH TRỊ




Trương Tấn Sang