1. Khái quát về trách nhiệm hình sự của pháp nhân

Trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại là một dạng trách nhiệm pháp lý, là hậu quả pháp lý bất lợi mà pháp nhân thương mại phải gánh chịu trước nhà nước, do pháp nhân đó thực hiện hành vi gây nguy hiểm cho xã hội mà những hành vi này được quy định là tội phạm trong pháp luật hình sự.

Pháp sử dụng hệ thống tư pháp dân luật, theo đó luật bắt nguồn chủ yếu từ các đạo luật thành văn; các thẩm phán không tạo ra luật mà đơn thuần là diễn giải nó (song mức độ diễn giải tư pháp trong một số lĩnh vực nhất định khiến nó tương đương với luật phán lệ). Các nguyên tắc cơ bản của pháp quyền dựa theo bộ luật Napoléon (bộ luật này lại dựa phần lớn vào luật hoàng gia được soạn dưới thời Louis XIV). Phù hợp với các nguyên tắc trong Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền, luật sẽ chỉ cấm các hành động có hại cho xã hội. Như Guy Canivet, chủ toạ đầu tiên của Toà chống án, viết về quản lý các nhà tù: Tự do là nguyên tắc, và hạn chế nó là ngoại lệ; bất kỳ hạn chế tự do nào đều cần phải quy định theo luật và cần phải theo các nguyên tắc về tính cần thiết và tính cân xứng.

Nguyên tắc TNHS của pháp nhân ở Cộng hòa Pháp được được bổ sung bởi nhiều quy định của Quyển I Bộ luật hình sự xác định những vấn đề liên quan đến bản chất, chế tài áp dụng đối với pháp nhân và của Quyển II đến Quyển VI Bộ luật hình sự chứa đựng những quy định áp dụng nguyên tắc mới này đối với những tội phạm được quy định trong Bộ luật hình sự và trong các đạo luật chuyên ngành. Nguyên tắc TNHS của pháp nhân được coi là hợp hiến. Những quy định của BLHS về TNHS của pháp nhân không bị đưa ra kiểm tra hay bác bỏ trước Hội đồng bảo hiến, mặc dù có quan điểm cho rằng chế định này gây tổn hại cho nguyên tắc cá thể hóa hình phạt.

Bộ luật tố tụng hình sự của Cộng hòa Pháp cũng chứa đựng nhiều quy định về thủ tục đặc biệt về điều tra, truy tố, xét xử cũng như các quy định khác áp dụng đối với pháp nhân phạm tội như hồ sơ lý lịch tư pháp, thời hiệu thi hành án, xóa án… 

2. Khái niệm về pháp nhân theo luật tư của CH Pháp

Về nguyên tắc, tất cả các pháp nhân theo luật tư có mục đích sinh lợi đều có đủ tư cách chịu TNHS như: các pháp nhân dân sự, các pháp nhân thương mại bao gồm cả các pháp nhân có điều lệ hợp tác hoặc nông nghiệp, các pháp nhân một thành viên cũng như các nhóm có lợi ích kinh tế…

Đối với các pháp nhân không có mục đích sinh lợi có nghĩa là khi hoạt động không vì mục đích thu lợi nhuận, TNHS cũng được đặt ra đối với các pháp nhân này - đó là các hiệp hội đã đăng kí hợp lệ, các giáo đoàn, các công đoàn, các đảng phái và các nhóm chính trị…. (Điều 121-2 BLHS Cộng hòa Pháp)

3. Khái niệm về pháp nhân theo luật công của CH Pháp

BLHS Cộng hòa Pháp quy định một số ngoại lệ, đó là: 

(1) Nhà nước không phải chịu TNHS vì Nhà nước bảo vệ lợi ích chung, có chủ quyền, đặc quyền về pháp luật hình sự và do vậy, Nhà nước không thể tự mình trừng trị mình.

(2) Các tập thể lãnh thổ và các tổ chức của nó như: các công xã, các tỉnh và các vùng lãnh thổ cũng như các tổ chức của nó (ví dụ các công đoàn của các công xã) chỉ có thể bị buộc phải chịu TNHS đối với những tội phạm được thực hiện trong khi tiến hành những hoạt động có thể là đối tượng của sự thỏa thuận ủy quyền công vụ (khoản 2 Điều 121-2 BLHS). Ví dụ: các hoạt động quản lý, khai thác dịch vụ vận chuyển trong công xã, phục vụ ăn uống trong các trường học, phân phối nước… TNHS của pháp nhân có thể được áp dụng đối với những tội phạm xảy ra trong khi tiến hành các hoạt động này. Ngược lại, đối với các tội phạm được thực hiện bởi tập thể lãnh thổ trong khi tiến hành một hoạt động thuộc phạm vi đặc quyền của mình (phạm vi đặc quyền của cơ quan quyền lực công) thì tập thể lãnh thổ đó sẽ không bị truy cứu TNHS.

(3) Ngoài hai ngoại lệ trên, tất cả các loại PN theo luật công đều có tư cách chủ thể chịu TNHS, không phân biệt các lĩnh vực hoạt động như: các cơ quan công cộng, các tập đoàn vì lợi ích chung, các tổ chức kinh tế hỗn hợp, các xí nghiệp, các nhà máy được quốc hữu hóa, các đoàn, hội nghề nghiệp.

Tuy nhiên, cần lưu ý là hình phạt giải thể và giám sát tư pháp không được áp dụng đối với các pháp nhân công (Điều 131-39) vì lý do trật tự hiến định.

4. Khái niệm về pháp nhân nước ngoài theo pháp luật của CH Pháp

Điều 121-2 Bộ luật hình sự không phân biệt TNHS giữa pháp nhân nước Pháp và pháp nhân nước ngoài và pháp nhân nước ngoài vẫn phải chịu TNHS đối với tội phạm thực hiện chiểu theo những quy định tại Điều 113-1 và các điều tiếp theo của BLHS về hiệu lực áp dụng của đạo luật hình sự về không gian. Pháp nhân nước ngoài có thể bị truy cứu TNHS trước tòa án của nước Pháp trong trường hợp phạm tội trên lãnh thổ hoặc ngoài lãnh thổ Cộng hòa Pháp trong những trường hợp và những điều kiện được quy định tại những điều luật nêu trên. Quốc tịch của pháp nhân cần được xác định trên cơ sở các quy định của Luật dân sự hoặc Luật thương mại.

5. Trách nhiệm hình sự của pháp nhân đối với các tội phạm cụ thể

Điều 121-2 Bộ luật hình sự mới của Cộng hòa Pháp xác định các pháp nhân chỉ phải chịu TNHS trong những trường hợp luật hoặc nghị định quy định. Quy định này đòi hỏi khi quy kết TNHS đối với pháp nhân nào đó, Tòa án cần phải nghiên cứu luật hoặc nghị định quy định. Quy định này đòi hỏi khi quy kết TNHS đối với một pháp nhân nào đó, Tòa án cần phải nghiên cứu luật hoặc nghị định chuyên biệt có quy định TNHS đối với tội phạm đó hay không. Phần lớn các tội phạm mà đối với nó, TNHS của pháp nhân có thể được đặt ra được thể hiện các các quyển từ Quyển I đến Quyển VI BLHS Cộng hòa Pháp. Tuy nhiên, loại trách nhiệm này còn được mở rộng áp dụng đối với các tội phạm quy định trong các đạo luật hoặc nghị định chuyên biệt bên ngoài BLHS.

5.1. Các tội xâm phạm tới con người (Quyển II BLHS Cộng hòa Pháp)

Quyển II Bộ luật hình sự Cộng hòa Pháp quy định các trọng tội và khinh tội xâm phạm tới con người; trong đó TNHS của pháp nhân được quy định đối với 32/88 tội danh khác nhau như: tội chống loài người (Điều 213-3); tội dùng bạo lực không cố ý (Điều 222-21); tội buôn bán ma túy và tẩy rửa tiền (Điều 222-42); tội làm thí nghiệm y học trái phép (Điều 223-9); tội phân biệt chủng tộc (Điều 225-4); tội dẫn dắt gái mại dâm (Điều 225-12); tội xâm phạm bí mật đời tư (Điều 226-7); tội tố cáo vu khống (Điều 226-12)…

Đối với tội cố ý giết người và các tội phạm bao lực do cố ý, TNHS của pháp nhân được loại trừ, những pháp nhân cũng có thể bị truy cứu TNHS đối với trường hợp giết người hoặc ám sát với điều kiện nó là một trong những hành vi khủng bố hoặc chống lại loài người.

5.2. Các tội xâm phạm tài sản (Quyển III BLHS Cộng hòa Pháp)

TNHS của pháp nhân được áp dụng đối với tuyệt đại đa số các tội xâm phạm tài sản quy định trong Quyển III BLHS Cộng hòa Pháp (19/22 tội danh khác nhau), ví dụ: tội trộm cắp tài sản (Điều 311-16); tội cưỡng đoạt tài sản (Điều 312-15); tội lừa đảo (Điều 313-9); tội lạm dụng tín nhiệm, tội chiếm đoạt vật chứng, đối tượng bị tịch biên; tội tổ chức gian lận liên quan tới phá sản (Điều 314-12 và Điều 314-13); tội hủy hoại tài sản; tội làm hư hỏng tài sản (Điều 322-17); tội xâm  phạm hệ thống thông tin (Điều 323-6)…

5.3. Các tội phạm chống dân tộc, Nhà nước và hòa bình công cộng (Quyển IV BLHS Cộng hòa Pháp)

Quyển IV BLHS Cộng hòa Pháp quy định TNHS của pháp nhân đối với tất cả các tội xâm phạm các lợi ích cơ bản của dân tộc, các hành vi khủng bố và một số tội phạm khác gây hại tới uy tín của Nhà nước. TNHS của pháp nhân cũng được áp dụng đối với các tội gây hại tới lòng tin của công chúng như: làm tiền giả, làm giả giấy tờ, tài liệu của nhà cầm quyền…

5.4. Các tội phạm khác quy định trong Quyển V BLHS Cộng hòa Pháp

Quyển V quy định các trọng tội và khinh tội liên quan tới các hành động đối xử tàn nhẫn hoặc dã man với động vật. TNHS của pháp nhân không đặt ra đối với các tội phạm này. Nhưng sau khi có Luật ngày 29-7-1994 liên quan tới việc tôn trọng thân thể con người thì có 30 tội danh khác nhau liên quan tới việc buôn bán các cơ quan trong cơ thể con người, các giao tử, các phôi được đưa vào Quyển V Bộ luật hình sự Cộng hòa Pháp. Pháp nhân phải chịu TNHS nếu thực hiện một trong những loại tội phạm này (Điều 511-1 và các điều tiếp theo Bộ luật hình sự Cộng hòa Pháp).

5.5. Các tội phạm vi cảnh (Quyển VI BLHS Cộng hòa Pháp)

TNHS của pháp nhân được áp dụng đối với một số tội vi cảnh quy định trong Quyển VI BLHS Cộng hòa Pháp như: các tội xâm phạm đến con người (tít 2); các tội xâm phạm tài sản (tít 3); các tội xâm hại tới dân tộc, lợi ích cơ bản của Nhà nước và hòa bình công cộng (tít 4).

5.6- Các tội phạm được quy định trong các văn bản pháp luật khác

Ngoài BLHS năm 1994, TNHS của pháp nhân còn được áp dụng đối với một số tội phạm được quy định trong các bộ luật khác hoặc trong các đạo luật chuyên biệt, nhất là trên lĩnh vực môi trường, luật kinh doanh, luật lao động. Ví dụ: Bộ luật lao động quy định TNHS của pháp nhân với tội sử dụng lao động gian lận, lao động trái phép của người nước ngoài tại Cộng hòa Pháp; Bộ luật về sức khỏe cộng đồng quy định TNHS của pháp nhân về tội phạm trong nghiên cứu sinh học; Bộ luật về sở hữu trí tuệ; Bộ luật về bưu chính - viễn thông; Luật về phá sản; Luật về môi trường… đều có quy định những tội phạm có thể do pháp nhân thực hiện.

Quy định tại Điều 121-2 Bộ luật hình sự Cộng hòa Pháp đã hạn chế phạm vi áp dụng TNHS đối với pháp nhân và thực tế xét xử của các tòa án sau 10 năm áp dụng Điều luật này đã chỉ ra sự bất hợp lý của nó. Vì vậy, quy định “pháp nhân chỉ chịu TNHS trong những trường hợp luật hoặc nghị định quy định” đã bị xóa bỏ theo Luật số 2004-204 ngày 09-3-2004 và kể từ khi có luật này thì TNHS của pháp nhân được đặt ra đối với mọi tội phạm được quy định trong BLHS và các luật chuyên ngành.

Tài liệu tham khảo:

1: Tìm hiểu pháp luật hình sự của Cộng hòa Pháp; Phạm Thị thảo (Học viện An ninh nhân dân);

2: Trách nhiệm hình sự của pháp nhân theo quy định của Luật Hình sự Cộng hòa Pháp; Vũ Hằng (Nhà xuất bản chính trị quốc gia Hồ Chí Minh) – Trang thông tin điện tử tổng hợp Ban Nội Chính Trung ương;

3: Sách chuyên khảo - TNHS của Pháp nhân trong Pháp luật hình sự - TS. Trịnh Quốc Toản