1. Khái niệm khám xét trong tố tụng hình sự?

Khám xét là biện pháp điều tra được tiến hành bằng cách tìm tòi, lục soát khi có căn cứ để nhận định trong người, chỗ ở, chỗ làm việc, địa điểm của một người có công cụ, phương tiện phạm tội, thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm nhằm phát hiện, thu giữ công cụ, phương tiện phạm tội, đồ vật, tài sản do phạm tội mà có, đồ vật, tài liệu khác có liên quan đến vụ án cũng như xác chết hay người đang bị truy nã.

2. Chính sách khám xét trong tố tụng hình sự qua các thời kỳ

Trong thời kì 1945 - 1954, có rất ít văn bản pháp luật quy định về thẩm quyền, thủ tục tiến hành khám xét. Các biện pháp thu giữ thư tín, điện tín chưa được quy định. Chỉ có biện pháp khám nhà người phạm pháp quả tang là được quy định trong một số văn bản như Sắc lệnh số 181 ngày 20.7.1946 sau đó bổ sung bằng Sắc lệnh số 88/SL ngày 02.8.1949 ấn định quyền hạn và thủ tục khám nhà của Ban Tư pháp xã. Sau khi hoà bình lập lại, quyền tự do dân chủ của công dân được quan tâm hơn. Luật số 103-SL/L.005 ngày 20.5.1957, Điều 27, Điều 28 Hiến pháp năm 1959 đều quy định về bảo đảm quyền tự do thân thể và quyền: bất khả xâm phạm về nhà ở, đồ vật, thư tín của công dân.

Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 lần đầu tiên quy định cụ thể căn cứ, thẩm quyền và thủ tục khám xét. Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 đã kế thừa và š phát triển quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988, theo đó, chỉ được tiến hành khám người, chỗ ở, địa điểm khi có căn cứ để nhận định trong người, chỗ ở, địa điểm đó có công cụ, phương tiện phạm tội, đồ vật, tài sản do phạm tội mà có hoặc đồ vật, tài liệu khác liên quan đến vụ án hay có người đang bị truy nã ẩn náu. Việc khám thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm chỉ được tiến hành khi cần phải thu thập những tài liệu hoặc đồ vật liên quan đến vụ án có ở trong thư tín, bưu kiện, bưu phẩm đó. Người có thẩm quyền ra lệnh bắt bị can, bị cáo để tạm giam có quyền ra lệnh khám xét. Lệnh khám xét của Trưởng Công an, Phó Trưởng công an cấp huyện; Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra cấp tỉnh trở lên; Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp trong Quân đội nhân dân phải được Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành. Trong trường hợp không thể trì hoãn thì những người có quyền ra lệnh bắt người trong trường hợp khẩn cấp có quyền ra lệnh khám xét. Sau khi khám xong, trong thời hạn 24 giờ, người ra lệnh khám phải báo cáo bằng văn bản cho Viện kiểm sát cùng cấp.

3. Căn cứ tiến hành hoạt động khám xét hiện nay là gì ?

Căn cứ khám xét theo Điều 192, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:

Khám xét là một ưong những biện pháp cưỡng chế của tố tụng hình sự tác động đến các quyền con người, quyền của công dân nên chỉ được khám xét khi có đầy đủ những căn cứ do pháp luật quy định.

Việc khám người, chỗ ở, chỗ làm việc, địa điểm chỉ được tiến hành khi có căn cứ nhận định ưong người, chỗ ở, nơi làm việc, địa điểm, phương tiện của một người có công cụ, phương tiện phạm tội, đồ vật, tài sản do phạm tội mà có hoặc đồ vật, dữ liệu điện tử, tài liệu khác có liên quan đến vụ án. Những căn cứ này có thể xác định bằng những nguồn tin do quần chúng cung cấp, do người thực hiện tội phạm khai hoặc do cơ quan điều tra phát hiện và phải được kiểm ưa kĩ trước khi ra lệnh khám xét. Nếu chỉ là sự nghi ngờ thì không được khám xét.

Việc khám xét chỗ ở, địa điểm, nơi làm việc, phương tiện của một người có thể tiến hành trong trường hợp cần phát hiện người đang bị truy nã ẩn nấp, giải cứu nạn nhân.

Việc khám thư tín, bưu kiện, bưu phẩm, dữ liệu điện tử có thể được tiến hành khi cần phải thu thập công cụ, phương tiện phạm tội hoặc những tài liệu, đồ vật liên quan đến vụ án.

4. Quy định về khám xét chỗ ở, nơi làm việc, địa điểm và phương tiện?

Điều 195, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định:

Điều 195. Khám xét chỗ ở, nơi làm việc, địa điểm, phương tiện

1. Khi khám xét chỗ ở thì phải có mặt người đó hoặc người từ đủ 18 tuổi trở lên cùng chỗ ở, có đại diện chính quyền xã, phường, thị trấn và người chứng kiến; trường hợp người đó, người từ đủ 18 tuổi trở lên cùng chỗ ở cố tình vắng mặt, bỏ trốn hoặc vì lý do khác họ không có mặt mà việc khám xét không thể trì hoãn thì việc khám xét vẫn được tiến hành nhưng phải có đại diện chính quyền xã, phường, thị trấn nơi khám xét và hai người chứng kiến.

Không được bắt đầu việc khám xét chỗ ở vào ban đêm, trừ trường hợp khẩn cấp nhưng phải ghi rõ lý do vào biên bản.

2. Khi khám xét nơi làm việc của một người thì phải có mặt người đó, trừ trường hợp không thể trì hoãn nhưng phải ghi rõ lý do vào biên bản.

Việc khám xét nơi làm việc phải có đại diện của cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc chứng kiến. Trong trường hợp không có đại diện cơ quan, tổ chức thì việc khám xét vẫn được tiến hành nhưng phải có đại diện chính quyền xã, phường, thị trấn nơi khám xét và 02 người chứng kiến.

3. Khi khám xét địa điểm phải có đại diện chính quyền xã, phường, thị trấn nơi khám xét và người chứng kiến.

4. Việc khám xét phương tiện phải có mặt chủ sở hữu hoặc người quản lý phương tiện và người chứng kiến. Trường hợp chủ sở hữu hoặc người quản lý phương tiện vắng mặt, bỏ trốn hoặc vì lý do khác họ không có mặt mà việc khám xét không thể trì hoãn thì việc khám xét vẫn được tiến hành nhưng phải có hai người chứng kiến.

Khi khám xét phương tiện có thể mời người có chuyên môn liên quan đến phương tiện tham gia.

5. Khi tiến hành khám xét chỗ ở, nơi làm việc, địa điểm, phương tiện, những người có mặt không được tự ý rời khỏi nơi đang bị khám, không được liên hệ, trao đổi với nhau hoặc với những người khác cho đến khi khám xét xong.

5. Thẩm quyền ra lệnh khám xét ?

- Thẩm quyền ra lệnh khám xét Điều 193 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:

Đe tránh việc khám xét tràn lan, xâm phạm đến quyền con người, quyền công dân đồng thời để đảm bảo phát hiện kịp thời mọi tội phạm, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định những người có quyền ra lệnh bắt bị can, bị cáo để tạm giam; người được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có quyền ra lệnh khám xét (Xem: Khoản 2 Điều 35 và khoản 1 Điều 113 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015); lệnh khám xét của thủ trưởng, phó thủ trưởng cơ quan điều tra các cấp và của người được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra được quy định tại khoản 2 Điều 35 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 phải được viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành.

Trong trường hợp không thể trì hoãn thì những người có quyền ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp cũng có quyền ra lệnh khám xét (Xem: Khoản 2 Điều 110 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015). Vì những trường hợp không thể trì hoãn được là trường hợp cần phải ngăn chặn ngay việc tiêu huỷ chứng cứ nên lệnh khám xét của những người có thẩm quyền được thi hành ngay mà chưa có sự phê chuẩn của viện kiểm sát. Sau khi khám xong, trong thời hạn 24 giờ, người ra lệnh khám phải thông báo bằng văn bản cho viện kiểm sát cùng cấp hoặc viện kiểm sát có thẩm quyền thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra vụ việc, vụ án.

- Khám xét người (Điều 194 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015):

Khám người là hoạt động điều tra lục soát, tìm tòi trong người, quần áo đang mặc và các đồ vật đem theo của bị can, bị cáo, người bị bắt giữ trong trường hợp phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã, người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp hoặc người có mặt ở nơi khám xét mà có căn cứ để khẳng định người này giấu trong người đồ vật, tài liệu cần thu giữ nhằm mục đích phát hiện và thu giữ những đồ vật, tài liệu liên quan đến vụ án. Điều tra viên phải thông báo cho viện kiểm sát cùng cấp biết để cử người đến kiểm sát việc khám xét trừ trường hợp khám xét khẩn cấp. Kiểm sát viên phải có mặt khi khám xét, nếu vắng mặt phải ghi vào biên bản.

Trước khi tiến hành khám người, điều tra viên phải nghiên cứu kĩ hồ sơ vụ án, nhân thân người cần khám, chuẩn bị những phương tiện khám xét cần thiết, định thời gian, địa điểm khám, mời người chứng kiến cùng giới với người cần khám và lập kế hoạch khám xét.

Khi bắt đầu khám xét phải đọc lệnh khám và đưa cho người bị khám xét đọc lệnh khám xét, giải thích cho đương sự và những người có mặt biết quyền và nghĩa vụ của họ.

Người tiến hành khám xét phải yêu cầu người bị khám đưa ra những đồ vật, tài liệu có liên quan đến vụ án, nếu đương sự từ chối hoặc đưa ra không đủ thì tiến hành khám. Việc khám xét người phải do người cùng giới tiến hành và người cùng giới chứng kiến để đảm bảo tính khách quan của việc khám xét, bảo vệ danh dự, nhân phẩm của người bị khám.

Trong trường hợp bắt người (bắt bị can, bị cáo để tạm giam, bắt người phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã) hoặc khi có căn cứ để khẳng định người có mặt tại nơi khám xét giấu trong người vũ khí, hung khí, chứng cứ, đồ vật, tài liệu cần thu giữ thì có thể tiến hành khám xét người mà không cần phải có lệnh.

- Khám xét chỗ ở, nơi làm việc, địa điểm, phương tiện (Điều 195 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015);

Khám xét chỗ ở, nơi làm làm việc, địa điểm, phương tiện là hoạt động điều tra lục soát, tìm kiếm trong phạm vi chỗ ở, nơi làm việc hoặc địa điểm, phương tiện thuộc quyền quản lí của người bị khám xét nhằm phát hiện và thu giữ những đồ vật, tài liệu liên quan đến vụ án.

Trước khi khám chỗ ở, chỗ làm việc, địa điểm, điều tra viên phải nghiên cứu kĩ hồ sơ vụ án để lập kế hoạch khám xét, xác định những chỗ cần khám, dự kiến cách khám và những tình huống có thể xảy ra, cách giải quyết các tình huống đó.

Về nguyên tắc, không được bắt đầu khám xét chỗ ở vào ban đêm, trừ trường hợp khẩn cấp không thể trì hoãn được như xét thấy cần phải khám ngay để ngăn chặn việc tiêu huỷ chứng cứ thì được khám ban đêm nhưng phải ghi rõ lí do vào biên bản.

Khi khám xét chỗ ở phải có mặt người đó hoặc người đủ 18 tuổi trở lên ở cùng họ, có đại diện chính quyền xã, phường hoặc thị trấn và người chứng kiến. Trong trường hợp người đó và người đủ 18 tuổi ở cùng họ cố tình vắng mặt, bỏ trôn hoặc đi vắng lâu ngày... mà việc khám xét không thể trì hoãn thì phải có đại diện chính quyền và hai người chứng kiến.

Khi khám nơi làm việc của một người thì phải có mặt của người đó trừ trường hợp không thể trì hoãn thì vẫn tiến hành khám nhưng phải ghi rõ lí do vào biên bản. Việc khám nơi làm việc phải có đại diện của cơ quan hoặc tổ chức nơi người bị khám xét làm việc chứng kiến. Trường họp không có đại diện của cơ quan hoặc tổ chức thì việc khám xét vẫn tiến hành nhưng phải có đại diện chính quyền xã, phường hoặc thị trấn và hai người chứng kiến.

Khi khám xét địa điểm phải có có đại diện chính quyền xã, phường, thị trấn nơi khám xét và người chứng kiến.

Khi khám xét phương tiện phải có mặt chủ sở hữu hoặc người quản lí phương tiện và người chứng kiến. Trường hợp chủ sở hữu hoặc người quản lí phương tiện vắng mặt, bỏ trốn hoặc vì lí do khác họ không có mặt mà việc khám xét không thể trì hoãn thì việc khám xét vẫn được tiến hành nhưng phải có hai người chứng kiến. Nếu cần thiết có thể mời người có chuyên môn liên quan đến phương tiện tham gia.

Khi bắt đầu khám phải đọc lệnh khám và đưa cho người bị khám, đương sự đọc lệnh khám đó, phải giải thích cho họ và những người có mặt biết quyền và nghĩa vụ. Sau đó yêu cầu họ đưa ra những đồ vật, tài liệu có liên quan đến vụ án, nếu họ từ chối thì tiến hành khám.

Trong quá trình khám xét chỗ ở, nơi làm việc, địa điểm, phương tiện, những người có mặt không được tự ý rời khỏi nơi bị khám. Nếu có lí do chính đáng cần tạm thời ra ngoài, phải được điều tra viên đồng ý. Trường hợp này phải theo dõi, giám sát chặt chẽ họ. Khi khám xét những người có mặt không được liên hệ, trao đổi vói nhau hoặc với những người khác cho đến khi khám xét xong.

Khi tiến hành khám xét phải lập biên bản ghi rõ địa điểm, giờ, ngày, tháng, năm tiến hành khám xét; thời gian bắt đầu và thời gian kết thúc cuộc khám xét, đồ vật, tài liệu... đã phát hiện và thu giữ, địa điểm và thủ đoạn cất giấu; những tình tiết phức tạp xảy ra trong khi khám xét, thái độ của người bị khám và những người có mặt tại khu vực khám xét; những khiếu nại, yêu cầu hoặc đề nghị của đương sự. Biên bản phải lập tại nơi tiến hành khám xét và đọc lại cho mọi người có mặt cùng nghe; người bị khám xét, chủ nhà, người chứng kiến cùng kí xác nhận vào biên bản.

Mọi vướng mắc pháp lý liên quan đến lĩnh vực tố tụng hình sự về điều tra vụ án hình sự, Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến qua tổng đài. Đội ngũ luật sư giàu kinh nghiệm trong lĩnh vực hình sự luôn sẵn sàng lắng nghe và giải đáp cụ thể.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê