NỘI DUNG YÊU CẦU VÀ NỘI DUNG TƯ VẤN:

1. Thủ tục tặng cho quyền sử dụng đất:

Em muốn hỏi khi lập hợp đồng cho tặng đất thì có cần phải có em trai em ký tên không ạ? Vì gia đình em có 1 vài chuyện nên em trai em đã rời khỏi gia đình (chưa lập gia đình). Bố mẹ em chỉ cho em 1 phần đất thôi chứ không phải tất cả ạ, cho tặng lần đầu ạ, Theo em hiểu thì đất đứng tên bố mẹ em, khi bố mẹ em còn sống thì không cần chữ ký của các con có đúng không ạ.

Rất mong nhận được câu trả lời từ các anh chị luật sư ạ.

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mụctư vấn pháp luật dân sự của công ty Luật Minh Khuê.

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến,gọi: 1900.6162

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của chúng tôi nghiên cứu và tư vấn như sau:

1.1 Cơ sở pháp lý:

Bộ luật dân sự năm 2015

Luật đất đai năm 2013

1.2 Hướng dẫn yêu cầu:

Căn cứ theo quy định tại Điều 179 Luật đất đai 2013 quy định:

"Điều 179. Quyền và nghĩa vụ của hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất

1. Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất nông nghiệp được Nhà nước giao trong hạn mức; đất được Nhà nước giao có thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê, được Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất; đất nhận chuyển đổi, nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho, nhận thừa kế thì có các quyền và nghĩa vụ sau đây:

e) Tặng cho quyền sử dụng đất theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 của Luật này; tặng cho quyền sử dụng đất đối với hộ gia đình, cá nhân hoặc người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 186 của Luật này;"

Theo thông tin bạn cung cấp, hiện tại sổ đỏ mảnh đất đứng tên bố mẹ bạn, vì vậy theo quy định trên, việc thực hiện các quyền của người sử dụng đất như chuyển nhượng, tặng cho, để thừa kế, thế chấp vv… một phần hoặc toàn bộ quyền sử dụng thửa đất thuộc quyền của những người đồng sở hữu là bố mẹ bạn. Vì vậy khi mẹ bạn tặng cho bạn một phần mảnh đất đó thì không cần phải có chữ ký của em trai bạn, chữ ký của em bạn chỉ cần thiết trong trường hợp có thừa kế di chúc trong mảnh đất đó có tên của cậu bạn trong hàng thừa kế.

Tại Điều 458, Điều 459 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định:

"Điều 458. Tặng cho động sản

1. Hợp đồng tặng cho động sản có hiệu lực kể từ thời điểm bên được tặng cho nhận tài sản, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

2. Đối với động sản mà luật có quy định đăng ký quyền sở hữu thì hợp đồng tặng cho có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký.

Điều 459. Tặng cho bất động sản

1. Tặng cho bất động sản phải được lập thành văn bản có công chứng, chứng thực hoặc phải đăng ký, nếu bất động sản phải đăng ký quyền sở hữu theo quy định của luật.

2. Hợp đồng tặng cho bất động sản có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký; nếu bất động sản không phải đăng ký quyền sở hữu thì hợp đồng tặng cho có hiệu lực kể từ thời điểm chuyển giao tài sản."

Như vậy, việc tặng cho nhà ở giữa mẹ bạn và bạn phải được lập thành văn bản có công chứng, chứng thực và phải đăng ký quyền sở hữu thì mới được coi là hợp pháp.

2. Sở hữu chung hợp nhất?

Chào công ty Luật Minh Khuê, hiện tại em có một vấn đề thắc mắc gửi đến công ty, mong công ty mình giải đáp giúp em ạ. Vấn đề em đang không rõ ở đây là Tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất là gì? Các quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu chung hợp nhất ra sao. Mong công ty sớm phản hồi. Cảm ơn công ty nhiều. (Vân Hà - Thái Bình)
Khái niệm: Sở hữu chung hợp nhất là sở hữu chung mà trong đó, phần quyền sở hữu của mỗi chủ sở hữu chung không được xác định đối với tài sản chung.
Có hai loại sở hữu chung hợp nhất bao gồm sở hữu chung hợp nhất có thể phân chia và sở hữu chung hợp nhất không phân chia.
Các chủ sở hữu chung hợp nhất có quyền, nghĩa vụ ngang nhau đối với tài sản thuộc sở hữu chung.
- Là hình thức sở hữu của hai hay nhiều chủ thể đối với khối tài sản chung
- Thông thường, sở hữu chung hợp nhất chỉ phát sinh trong quan hệ hôn nhân và gia đình.
+ Đó là khối tài sản vợ chồng làm ra trong thời kỳ hôn nhân
+ Do vợ chồng được cho chung, thừa kế chung ….
- Tài sản chung chỉ được phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng và vợ, chồng có quyền ngang nhau đối với khối tài sản chung. Thỏa thuận, bàn bạc đối với việc thực hiện các quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt.
- Tài sản trước hôn nhân, vợ, chồng được tự nguyện nhập vào khối tài sản chung của gia đình.
- Con cái có thu nhập theo nghề nghiệp, được tặng cho, thừa kế mà có đóng góp vào khối tài sản chung thì cũng có quyền sở hữu đối với khối tài sản chung của gia đình.
- Chia tài sản chung của vợ chồng được xác định theo thỏa thuận hoặc quyết định của tòa án.

3. Nhận xét bản án:

Nguyên đơn: Ông Nguyễn Tuấn sinh năm 1950;

Bị đơn: Anh Nguyễn Văn Quang sinh năm 1960;

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Triệu Quang Minh sinh năm 1935;

Tại đơn khởi kiện đề ngày 22-6-2004 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là ông Nguyễn Tuấn trình bày: Khoảng 20h 50’ ngày 07-6-2004 nhà của ông Quang bị cháy, do nhà của ông liền kề với nhà của gia đình ông Quang nên đã bị cháy toàn bộ lầu 1 (tầng 2). Tuy nhà của ông và nhà của ông Quang cách từ 7 đến 8m, nhưng do gác lửng của nhà ông Quang giáp với cửa sổ lầu 1 nhà ông nên nhà ông mới bị cháy tầng 2.

Do sợ nhà không đảm bảo an toàn nên ngày 15-6-2004, ông đã xin phép Ủy ban nhân dân phường để sửa chữa lại toàn bộ ngôi nhà và đã được chấp nhận nên ông đã tiến hành sửa chữa lại và theo bảng chiết tính của Công ty tư vấn 3D lập là 350.000.000 đồng nên yêu cầu ông Quang bồi thường toàn bộ thiệt hại cho gia đình ông là 350.000.000 đồng.

Bị đơn là anh Nguyễn Văn Quang trình bày: Xảy ra vụ cháy anh không có ở nhà, khi cháy khoảng 30 đến 60 phút thì anh mới về đến nơi, nhà của anh được nhân dân xung quanh chữa cháy giúp và anh nghe những người chữa cháy giúp nói lại, họ đã phá cửa nhà anh để vào, lấy được một số vật dụng trong nhà ra ngoài (nhà của anh bị cháy toàn bộ gác lửng) và nguyên nhân gây cháy là do nhà ông Tuấn (nguyên đơn) cháy lan sang nhà của anh; vì nhà ông Tuấn kinh doanh bình ắc quy, phía sau nhà ông Tuấn là 03 cái kho chứa axit, cao su, bình ắc quy đều là những vật gây cháy nổ.

Sau khi xảy ra cháy nhà, ông Tuấn đã nhanh chóng xây lại nhà (xây mới 100%) nhằm xóa hết dấu vết trong khi Ủy ban nhân dân phường chỉ đồng ý cho phép khắc phục thiệt hại do cháy nhà; gia đình ông vẫn giữ nguyên hiện trường căn nhà để cơ quan chức năng giám định tìm nguyên nhân gây cháy. Theo kết luận số 3423/C21 (C/III) ngày 27-8-2004 của Phân viện khoa học hình sự Bộ Công an kết luận không tìm thấy nguyên nhân gây cháy do chập điện. Do đó, nguyên nhân gây cháy là do nhà ông Tuấn; ông yêu cầu ông Tuấn bồi thường thiệt hại cho ông chi phí sửa chữa nhà 80 triệu đồng; thiệt hại vật dụng trong nhà trị giá 48 triệu đồng, 30 triệu đồng và 500 đô la để trong tủ bị cháy (theo bảng kê; tiền mặt và đô la để trong tủ bị cháy căn cứ vào những tấm ảnh mà cơ quan điều tra đã chụp hiện trường vụ cháy).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Triệu Quang Minh trình bày: Nhà của ông được cất bằng vật liệu gỗ liền kề với nhà của ông Quang. Thời điểm xảy ra hỏa hoạn ông đang ở trong nhà của mình và phát hiện có mùi khét và mùi khói trước, sau đó ông nghe thấy tiếng nổ lớn và ngọn lửa xanh nổi lên từ nhà ông Tuấn. Do ông Quang không có ở nhà, khóa cửa nên ông và những người hàng xóm đã leo lên nóc nhà của ông qua nóc nhà của ông Quang để chữa cháy; Sau đó ông thấy ông Tuấn yêu cầu xe chở các bình ắc quy có chứa axit đi nơi khác.

Vụ cháy làm thiệt hại cho gia đình ông khoảng 1 triệu đồng nên ông yêu cầu Tòa án xác định nguyên nhân gây cháy và buộc hộ gây cháy bồi thường thiệt hại cho ông.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 130/2006/DS-ST ngày 12-9-2006, Tòa án sơ thẩm quyết định:

Bác yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại tài sản của ông Nguyễn Văn Quang.

Buộc ông Nguyễn Văn Quang bồi thường 57.000.000 đồng cho ông Nguyễn Tuấn; Buộc ông Nguyễn Văn Quang bồi thường 150.000 đồng cho ông Triệu Quang Minh.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí, quyền kháng cáo và lãi nghĩa vụ phải chịu do chậm thi hành án.

Ngày 18-9-2006, ông Quang kháng cáo không đồng ý với bản án sơ thẩm.

Tại Quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án dân sự số 191/2007/QĐ-PT ngày 29-3-2007, Tòa án phúc thẩm quyết định:

1. Đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án dân sự thụ lý số 544/2006/TLPT-DS ngày 11-12-2006 về việc “Tranh chấp dân sự về bồi thường thiệt hại về tài sản” giữa nguyên đơn là ông Nguyễn Tuấn với bị đơn là anh Nguyễn Văn Quang.

2. Bản án dân sự sơ thẩm số 130/2006/DS-ST ngày 12-9 -2006 của Tòa án nhân dân thị xã X có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định này.

Ngoài ra, Tòa án cấp phúc thẩm còn quyết định về án phí, chi phí định giá tài sản và chi phí giám định.

Yêu cầu: Nhận xét về quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm?

Trong tình huống này cần phải xác định áp dụng quy định của Bộ luật dân sự năm 2005 hay Bộ luật dân sự năm 1995, bởi vì theo đơn kiện ngày 22-6-2004 của ông Nguyễn Tuấn thì tại thời điểm này Bộ luật dân sự năm 2005 chưa có hiệu lực, do đó sẽ áp dụng Bộ luật dân sự năm 1995 cùng các văn bản hướng dẫn thi hành.

Quyết định của tòa án cấp sơ thẩm như sau:

- Bác yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại tài sản của ông Nguyễn Văn Quang.

- Buộc ông Nguyễn Văn Quang bồi thường 57.000.000 đồng cho ông Nguyễn Tuấn; Buộc ông Nguyễn Văn Quang bồi thường 150.000 đồng cho ông Triệu Quang Minh.

- Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí, quyền kháng cáo và lãi nghĩa vụ phải chịu do chậm thi hành án.

Trước hết cần khẳng định quyết định này của Tòa án là sai, không đúng với nội dung tình tiết vụ án.

Tòa án sơ thẩm đã không căn cứ vào hồ sơ vụ án chỉ căn cứ vào lời khai của nguyên đơn là ông Tuấn khi cho rằng ông bị thiệt hại về tài sản do nhà ông Quang cháy lan sang và yêu cầu ông Quang bồi thường thiệt hại. Điều 612 BLDS 1995 quy định: “Trong trường hợp tài sản bị xâm phạm, thì thiệt hại được bồi thường bao gồm tài sản bị mất, bị huỷ hoại hoặc bị hư hỏng, lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác tài sản, chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế và khắc phục thiệt hại” . Nếu chỉ căn cứ như vậy thì có thể thấy yêu cầu bồi thường của ông Tuấn là phù hợp với quy định của pháp luật vì đã có thiệt hại xảy ra. Nhưng trong trường hợp này không có lỗi do ông Quang và không có hành vi trái pháp luật xảy ra.

Tuy nhiên, khi cháy, ông Quang không có nhà và ông Quang cho rằng nguyên nhân cháy là từ nhà ông Tuấn vì nhà ông Tuấn là kho chứa các vật dễ gây cháy nổ, hơn nữa theo kết luận số 3423/C21 (C/III) ngày 27-8-2004 của Phân viện khoa học hình sự Bộ Công an sau khi khám nghiệm hiện trường, cơ quan giám định không tìm thấy nguyên nhân gây cháy do chập điện tại nhà ông Quang. Như vậy nguồn gây cháy không phải là tại nhà ông Quang vì vậy ông Quang không có lỗi trong vụ cháy này.

Cũng theo quy định tại điểm a, khoản 5, mục I nghị quyết 01/2004/NQ-HĐTP quy định về nghĩa vụ chứng minh của đương sự: “Người bị hại yêu cầu bồi thường thiệt hại phải nêu rõ từng khoản thiệt hại thực tế xảy ra, mức yêu cầu bồi thường và phải có chứng từ hoặc giấy biên nhận hợp lệ về các khoản chi phí hợp lý, về thu nhập của người bị thiệt hại”. Sau khi cháy xảy ra ông Tuấn đã nhanh chóng xây lại nhà mới mà không chờ cơ quan giám định đến khám nghiệm để tìm nguyên nhân cháy và không hề sửa chữa phần bị hư hỏng, ông Tuấn cũng chỉ căn cứ theo bảng chiết tính của Công ty tư vấn 3D lập là 350.000.000 đồng ( không có giấy biên nhận của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền), như vậy là không phù hợp với quy định tại nghị quyết 01 hướng dẫn.

Theo những chứng cứ ông Quang đưa ra thì nguyên nhân gây cháy do bên nhà ông Tuấn do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra theo điều 627, phù hợp với quy định tại điều 627 BLDS 1995 và điểm 2 mục II nghị quyết 01/2004. Vì vậy ông Quang không phải bồi thường thiệt hại cho ông Tuấn theo quy định tại Điều 627 BLDS 1995.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số:1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình miễn phí qua Emailđể nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Tư vấn Luật Đất đai.