Thưa luật sư, tôi có ý định ly hôn và sẽ nhận nuôi con, còn chồng tôi do nơi làm việc không ổn định nên không nhận nuôi con. Luật sư cho tôi hỏi, nếu tôi nhận nuôi con thì chồng tôi có phải thực hiện việc cấp dưỡng hay không? Mức cấp dưỡng cho con được xác định là bao nhiêu?

Người gửi: Hoàng Vân - Thái Nguyên

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật Hôn nhân của Công ty luật Minh Khuê

>> Luật sư tư vấn pháp luật Hôn nhân, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

- Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014

- Bộ luật dân sự năm 2015

2. Nghĩa vụ cấp dưỡng cho con khi ly hôn là gì?

>> Xem thêm:  Ly hôn khi không có giấy khai sinh của con, không có giấy kết hôn bản gốc ?

Nghĩa vụ cấp dưỡng cho con khi cha mẹ ly hôn là một nghĩa vụ pháp lý mà cha hoặc mẹ bắt buộc phải làm đối với con, nếu con là người chưa thành niên hoặc đã thành niên mà không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình, khi không là người trực tiếp nuôi dưỡng con sau khi đã chấm dứt quan hệ hôn nhân bằng việc đóng góp tiền hoặc hiện vật tương ứng với nhu cầu thiết yếu của con đồng thời phù hợp với khả năng thực tế của mình để bù đắp những tổn thất về mặt vất chất cho con khi con không được chung sống đồng thời với cha và mẹ.

3. Đối tượng được cấp dưỡng khi cha mẹ ly hôn là gì?

Xác định đối tượng được cấp dưỡng khi ly hôn là điều cần thiết bởi lẽ không phải mọi người con đều cần được cấp dưỡng khi cha mẹ ly hôn. Điều này là hoàn toàn phù hợp với mục đích xây dựng xã hội, phù hợp với thực tế và là tôn trọng chính đối tượng được cấp dưỡng.

Đối tượng được cấp dưỡng được quy định tại Điều 110 Luật HN&GĐ năm 2014 như sau: “Cha, mẹ có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con chưa thành niên, con đã thành niên không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình trong trường hợp không sống chung với con hoặc sống chung với con nhưng vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng con”.

Theo đó, đối tượng được cấp dưỡng gồm: Con chưa thành niên và con đã thành niên không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

3.1. Con chưa thành niên

Theo Bộ Luật dân sự (BLDS) năm 2015 người chưa thành niên là người chưa đủ mười tám tuổi. Đối với con chưa thành niên, Luật HN&GĐ năm 2014 quy định đây là đối tượng luôn luôn được cấp dưỡng khi cha mẹ ly hôn mà không cần xét thêm bất cứ điều kiện nào khác.

Dưới góc độ pháp lý, quy định này hoàn toàn phù hợp với quy định pháp luật quốc tế về quyền của trẻ em. Ngay tại lời mở đầu Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em đã khẳng định: “Trẻ em cần chuẩn bị đầy đủ để sống cuộc sống cá nhân trong xã hội và cần được nuôi nấng, giáo dục” và “có quyền được chăm sóc và giúp đỡ đặc biệt” . Theo đó, có thể thấy người chưa thành niên là đối tượng yếu thế trong xã hội cần được quan tâm và cần có chính sách đặc biệt để đảm bảo quyền lợi toàn diện.

Hiến pháp năm 2013 cũng đã ghi nhận: “Trẻ em được Nhà nước, gia đình và xã hội bảo vệ, chăm sóc và giáo dục; được tham gia vào các vấn đề về trẻ em. Nghiêm cấm xâm hại, hành hạ, ngược đãi, bỏ mặc, lạm dụng, bóc lột sức lao động và những hành vi khác vi phạm quyền trẻ em” (Điều 37). Trên cơ sở quy định của Hiến pháp, Luật HN&GĐ năm 2014 cũng đã tiếp tục kế thừa và dành nhiều điều luật ghi nhận quyền lợi cũng như bảo đảm được hưởng các quyền cho các em, quyền được cấp dưỡng khi cha mẹ ly hôn là một trong những nội dung đó.

Về mặt tâm sinh lý, đối tượng con chưa thành niên là các trẻ còn chưa hoàn thiện về mặt thể chất cũng như trí tuệ, chưa có khả năng lao động nên chưa thể tự lo cho bản thân mình, do đó các con có quyền nhận được sự chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục của cả cha mẹ mình. Nhưng một khi cha mẹ ly hôn thì sẽ có một trong hai người sẽ không thể tiếp tục trực tiếp thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng con, điều đó ảnh hưởng rất nhiều đến không chỉ tinh thần mà còn cả những thiếu hụt về vật chất cho con, bởi vậy con chưa thành niên cần thiết phải được cấp dưỡng từ cha hoặc mẹ.

3.2. Con đã thành niên không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình

Người đã thành niên là người từ đủ 18 tuổi trở lên. Về độ tuổi họ là những người đã thỏa mãn quy định pháp luật là một công dân độc lập, có khả năng tự chịu trách nhiệm với cuộc sống của riêng mình. Tuy nhiên, chỉ riêng độ tuổi không đánh giá toàn diện được một người đã thành niên có đầy đủ năng lực hành vi dân sự hay không.

>> Xem thêm:  Nuôi dưỡng là gì ? Quy định pháp luật về nuôi dưỡng

Xét về điều kiện “không có khả năng lao động”:

Tác giả đồng ý với quan điểm của Tiến sỹ Nguyễn Ngọc Điện khi lý giải cho nội dung này. Khả năng lao động ở đây được hiểu là khả năng về sức vóc, cơ bắp và kỹ năng cho phép người ta thực hiện một công việc nào đó với tư cách là một người lao động cá thể riêng lẻ hoặc với tư cách là người lao động làm thuê nhằm tạo ra thu nhập hợp pháp để nuôi sống mình. Không thể nói một người khoẻ mạnh nhưng trình độ hạn chế là người không có khả năng lao động, trong khi họ hoàn toàn có khả năng làm những công việc lao động chân tay để kiếm sống nhưng chỉ mơ tưởng đến các công việc đòi hỏi trình độ chuyên môn kỹ thuật cao với thu nhập cao nên không ai tuyển dụng họ vì thế nên họ trở thành người thất nghiệp.

Như vậy, xác định một người có khả năng lao động là khi người đó đáp ứng các điều kiện về sức khỏe, trí tuệ và thời gian. Do đó, người có khả năng lao động trước hết phải là người có sức khỏe, có khả năng nhận thức và có thời gian làm những công việc trong khả năng thấp nhất của mình tạo ra thu nhập đủ nuôi sống bản thân. Từ đó suy ra, con đã thành niên không có khả năng lao động là những người dù đã đủ từ 18 tuổi nhưng không có đủ sức khỏe (bị khuyết tật, bệnh tật, đau ốm thường xuyên), bị mất năng lực hành vi dân sự (bị điên, tâm thần, mất trí), hoặc người đang theo học trong các trường phổ thông, trung học, đại học và dạy nghề… phải dành toàn bộ thời gian để học tập.

Theo cách hiểu trên, cụm từ “không có khả năng lao động” đã bao gồm người bị tàn tật và người mất năng lực hành vi dân sự. Tuy nhiên, thực tế không phải mọi người tàn tật đều không có khả năng lao động. Quy định tại Luật HN&GĐ năm 2000 về đối tượng cấp dưỡng vô hình chung đã đánh đồng tất cả những người có khiếm khuyết về thể chất đều không có khả năng lao động đó là điều không chính xác. Do đó, quy định tại Điều 110 Luật HN&GĐ năm 2014 đã lược bỏ cụm từ “bị tàn tật” là sửa đổi phù hợp. Bởi trên thực tế rất nhiều trường hợp người con đã thành niên bị tàn tật nhưng vẫn có khả năng lao động và tạo ra tài sản để tự lo cho cuộc sống của mình thậm chí còn rất tốt và có mức sống cao.

Xét về điều kiện “không có tài sản để tự nuôi mình”:

Theo quy định tại BLDS năm 2015 thì “tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản khác” Hoặc “Tài sản bao gồm bất động sản và động sản” (Khoản 2 Điều 105). Theo đó, có thể hiểu người không có tài sản để tự nuôi mình là người không có tiền, không có nhà đất, hay tài sản khác trị giá được bằng tiền hoặc tuy người đó có tài sản và có thu nhập nhưng tài sản và thu nhập đó không đủ để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của người đó.

Về vấn đề này tác giả đồng ý với quan điểm của tiến sỹ Nguyễn Ngọc Điện cho rằng: “Người yêu cầu cấp dưỡng không nhất thiết phải là người hoàn toàn không có tài sản mà họ có thể có tài sản gốc nhưng tài sản đó không sinh lợi hoặc có sinh lợi và đã khai thác theo khả năng của chủ sở hữu nhưng vẫn không đủ để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của của gia đình”. Như vậy, con đã thành niên được xác định là không có tài sản để tự nuôi mình là khi thực tế con không có tài sản hoặc có tài sản nhưng tài sản đó không sinh lợi hoặc có sinh lợi và đã khai thác theo khả năng của chủ sở hữu nhưng vẫn không đủ để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của mình.

Như vậy, con đã thành niên khi không thể tham gia lao động tạo ra thu nhập vì lý do sức khỏe, nhận thức, thời gian đồng thời lại không có tài sản riêng hoặc có nhưng không đủ để đáp ứng cho nhu cầu thiết yếu của bản thân nếu không còn nhận được sự chăm sóc, nuôi dưỡng từ cha mẹ sẽ không đảm bảo cho cuộc sống về mọi mặt. Ngay cả khi hôn nhân chưa chấm dứt cha mẹ vẫn phải có nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng các em. Do đó, khi ly hôn, để đảm bảo nhu cầu sống tối thiểu của đối tượng này, đồng thời san sẻ gánh nặng cho người trực tiếp nuôi dưỡng, nghĩa vụ cấp dưỡng cho con của người không trực tiếp nuôi dưỡng được đặt ra. Bởi vậy, pháp luật ghi nhận người chưa thành niên, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình là một trong những đối tượng được cấp dưỡng khi ly hôn là phù hợp với truyền thống đạo lý cũng như nguyên tắc nhân đạo trong xây dựng pháp luật của nước ta.

4. Mức cấp dưỡng cho con khi ly hôn là bao nhiêu?

Nghĩa vụ cấp dưỡng được xác định trên cơ sở nhằm đảm bảo lợi ích vật chất cho con khi cha mẹ ly hôn. Và nghĩa vụ này chỉ có giá trị khi xác định một mức cấp dưỡng phù hợp với nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng.

>> Xem thêm:  Ly hôn là gì ? Quy định pháp luật về li hôn

Mức cấp dưỡng được hiểu là một khoản tiền hay hiện vật khác mà người được cấp dưỡng nhận từ người có nghĩa vụ cấp dưỡng để phục vụ cho sinh hoạt của mình. Đối với những đứa trẻ có cha mẹ ly hôn thì mức cấp dưỡng phù hợp sẽ giúp bù đắp phần nào những tổn thất về vật chất mà đáng lẽ ra chúng sẽ được nhận nhiều hơn khi được sống chung với cả cha và mẹ.

Mức cấp dưỡng được quy định tại Điều 116 Luật HN&GĐ năm 2014 như sau:

“1. Mức cấp dưỡng do người có nghĩa vụ cấp dưỡng và người được cấp dưỡng hoặc người giám hộ của người đó thỏa thuận căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.”

Căn cứ theo quy định trên về mức cấp dưỡng có ba vấn đề cần được làm sáng tỏ: Một là căn cứ xác định mức cấp dưỡng; hai là phương thức xác lập mức cấp dưỡng; ba là việc thay đổi mức cấp dưỡng.

4.1. Căn cứ xác định mức cấp dưỡng

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 116 mức cấp dưỡng được xác định dựa trên hai căn cứ đó là: thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng.

- Xét căn cứ thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng:

Trước đây, theo quy định tại khoản 1 Điều 16 Nghị định số 70/2001/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 thì: “Người có khả năng thực tế thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng quy định tại Điều 51, 52 và 53 của Luật hôn nhân và gia đình là người có thu nhập thường xuyên hoặc tuy không có thu nhập thường xuyên nhưng còn tài sản khi đã trừ đi chi phí thông thường cần thiết cho cuộc sống của người đó”.

Theo đó, đánh giá khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng dựa trên hai yếu tố là thu nhập và tài sản hiện có. Một người có thu nhập thường xuyên ổn định có thể đáp ứng những nhu cầu hợp lý của bản thân và còn dư thì được coi là có khả năng thực tế để thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng. Hoặc một người tuy không có thu nhập thường xuyên nhưng lại còn tài sản sau khi đã trừ đi chi phí cần thiết cho bản thân thì cũng được coi là có khả năng để thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng.

- Xét căn cứ nhu cầu thiết yếu của con:

Mục đích của việc cấp dưỡng chính là nhằm đảm bảm phần nào sự đủ đầy về vật chất cho con khi không được sống chung với cả cha và mẹ. Do đó, xác định mức cấp dưỡng làm sao cho phù hợp không thể không dựa trên nhu cầu thiết yếu của con. Theo khoản 20 Điều 3 Luật HN&GĐ năm 2014: “Nhu cầu thiết yếu là nhu cầu sinh hoạt thông thường về ăn, mặc, ở, học tập, khám bệnh, chữa bệnh và nhu cầu sinh hoạt thông thường khác không thể thiếu cho cuộc sống của mỗi người, mỗi gia đình.”

Như vậy, theo quy định trên một khoản cấp dưỡng phù hợp sẽ là khoản cấp dưỡng đủ để chi cho nhu cầu về ăn, mặc, ở, học tập, khám bệnh, chữa bệnh và nhu cầu sinh hoạt thông thường khác của người con tại thời điểm giải quyết vụ việc và phù hợp với mức sống chung của địa phương nơi con sinh sống.

>> Xem thêm:  Tư vấn giành quyền nuôi con dưới 03 tuổi cho người chồng khi ly hôn?

Việc xác định mức cấp dưỡng căn cứ trên nhu cầu thiết yếu của con không chỉ phù hợp về mặt lý luận mà còn đáp ứng được vấn đề của thực tiễn. Bởi lẽ mức sống ở mỗi địa phương, mỗi khu vực là khác nhau, hoàn cảnh của mỗi con trong mỗi vụ việc cũng khác nhau do đó không thể cào bằng và quy định một mức cụ thể cho mọi đối tượng được cấp dưỡng. Như chúng ta thấy, một đứa trẻ ở thành thị thì chi phí cho việc học hành, ăn, mặc,… bao giờ cũng cao hơn một đứa trẻ ở nông thôn. Một đứa trẻ bị bệnh cần điều trị dài ngày thì chi phí khám chữa bệnh bao giờ cũng lớn hơn rất nhiều so với một đứa trẻ khỏe mạnh, bình thường. Vì vậy, việc pháp luật quy định xác định mức cấp dưỡng trên cơ sở tính toán các chi phí đó quyền lợi của người con sẽ được đảm bảo ít nhất là ở mức trung bình.

Pháp luật quy định xác định mức cấp dưỡng dựa trên hai căn cứ như trên là hoàn toàn phù hợp. Với tư cách là người có nghĩa vụ, mức cấp dưỡng có phù hợp với khả năng thực tế của họ thì mới đảm bảo việc cấp dưỡng được thực hiện mà không tác động xấu đến điều kiện sống của người này. Với tư cách là người được hưởng quyền, mức cấp dưỡng ít nhất phải đáp ứng được nhu cầu thiết yếu thì việc cấp dưỡng mới đạt được ý nghĩa thực sự của nó.

4.2. Về phương thức xác lập mức cấp dưỡng:

Theo quy định pháp luật, mức cấp dưỡng trước hết do các bên tự thỏa thuận chỉ khi không thể thống nhất được và có yêu cầu Tòa án mới xem xét giải quyết.

Quy định này trước hết là phù hợp với nguyên tắc cơ bản mà pháp luật dân sự ghi nhận đó là “tự do, tự nguyện cam kết, thoả thuận”. Mặt khác, họ là người biết rõ nhu cầu thiết yếu về ăn, mặc, ở, học tập, chữa bệnh của con cũng như khả năng thực tế của nhau, do vậy để họ tự thỏa thuận khả năng cao sẽ đưa ra được mức cấp dưỡng phù hợp với khả năng của người có nghĩa vụ và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng. Hơn nữa khi tự thỏa thuận phù hợp với ý chí, nguyện vọng thì việc thi hành án cấp dưỡng cũng sẽ được thực hiện một cách tự giác và thuận tiện hơn.

Bên cạnh việc ghi nhận ưu tiên các bên tự thỏa thuận pháp luật ghi nhận các bên có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết khi không thể thống nhất ý chí. Điều này xuất phát từ tồn tại trong thực tế. Nhiều trường hợp khi cho các bên tự thỏa thuận thì người trực tiếp nuôi con thường đưa ra mức cấp dưỡng là quá cao, không phù hợp với khả năng thực tế của người có nghĩa vụ và nhu cầu thiết yếu của con, có trường hợp người có nghĩa vụ muốn cấp dưỡng một mức quá thấp so vó nhu cầu thiết yếu của con trong khi có khả năng chu cấp ở mức cao hơn dẫn đến các bên không thống nhất được quan điểm. Do đó, việc quy định cho các bên yêu cầu Tòa án giải quyết là cần thiết. Khi đó, trên cơ sở xem xét, điều tra Tòa án sẽ đánh giá được đúng về khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cũng như nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng mà ấn định một mức cấp dưỡng phù hợp, thống nhất được sự mâu thuẫn giữa các bên.

4.3. Về việc thay đổi mức cấp dưỡng:

Dễ thấy đặc thù cấp dưỡng cho con khi ly hôn là nghĩa vụ thực hiện trong một thời gian khá dài. Chưa kể thời gian gần đây, tình trạng ly hôn của những cặp vợ chồng trẻ ngày càng gia tăng, nhiều vụ ly hôn khi con chung mới 2,3 tuổi. Đối với con chưa thành niên thời gian thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng là hiệu số của tuổi thành niên và số tuổi hiện tại của con thì thời gian thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cũng được tính trên năm. Đối với con đã thành niên thì thời hạn thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng là không thể xác định, bởi không thể biết chính xác được khi nào thì con không còn ở trong tình trạng không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình nữa. Trong khi đó, xã hội luôn luôn thay đổi theo sự vận động chung, cuộc sống của mỗi người cũng vì thế mà có những thay đổi. Nhu cầu thiết yếu của con khi 3 tuổi cũng sẽ khác nhu cầu thiết yếu của con khi lên 9, lên 10…; khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cũng thay đổi cùng với sự vận động của thị trường, của nền kinh tế; hoặc những tai nạn, ốm đau xảy đến với người được cấp dưỡng, người có nghĩa vụ cấp dưỡng là điều không thể xác định trước được tại thời điểm quyết định mức cấp dưỡng…. Dự liệu được điều đó, pháp luật hôn nhân gia đình đã ghi nhận cho các bên thỏa thuận hoặc yêu cầu Tòa án về việc thay đổi mức cấp dưỡng khi có lý do chính đáng (khoản 2 Điều 116). Việc thay đổi này có thể là tăng hoặc giảm phụ thuộc vào lý do chính đáng mà người yêu cầu đưa ra và chắc chắn rằng lý do ấy sẽ được xác minh về tính chính xác trước khi Tòa án đưa ra quyết định cuối cùng.

Như vậy, Luật HN&GĐ năm 2014 đã có quy định khá chặt chẽ về việc xác định mức cấp dưỡng cho con khi ly hôn. Đồng thời cũng đã có những dự liệu phù hợp với quy luật của cuộc sống nhằm đảm bảo tốt nhất cho quyền lợi không chỉ của người được cấp dưỡng mà còn còn cả quyền lợi chính đáng của người có nghĩa vụ. Mức cấp dưỡng là một phần quan trọng trong chi phí sinh hoạt, học tập của người con. Việc xác định đúng mức cấp dưỡng giúp cuộc sống của người con không bị thay đổi, xáo trộn nhiều sau khi cha mẹ ly hôn. Do đó, để vừa đảm bảo quyền lợi cho con, vừa đảm bảo tính khả thi của việc cấp dưỡng, khi xác xác định mức cấp dưỡng (tự thỏa thuận hay yêu cầu Tòa án giải quyết) cần tuân thủ nghiêm ngặt việc xem xét cả hai điều kiện: nhu cầu thiết yếu của con và khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng. Thiết nghĩ, để đảm bảo hơn nữa cho quyền lợi của người con, ngay cả khi để các đương sự tự thỏa thuận thì Tòa án cũng cần giám sát và đánh giá lại sự phù hợp của thỏa thuận đó trước khi ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các bên về việc xác định mức cấp dưỡng cho con.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Thủ tục ly hôn thuận tình, ly hôn đơn phương như thế nào ?

Luật Minh Khuê - Sưu tầm & biên tập

>> Xem thêm:  Tư vấn tranh chấp quyền nuôi con sau ly hôn ? Thủ tục giải quyết tranh chấp tài sản khi ly hôn ?

Câu hỏi thường gặp về cấp dưỡng

Câu hỏi: Có thể chờ con lớn đi học đại học mới thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng được không?

Trả lời:

Cấp dưỡng với mục đích nhằm cung cấp chi phí để trang trải nhu cầu sinh hoạt thiết yếu của người con chưa thành niên và đã thành niên nhưng không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi sống bản thân. Bởi vậy, việc chờ con vào học đại học mới thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng sẽ không phù hợp với mục đích của cấp dưỡng.

Câu hỏi: Có thể lấy việc không yêu cầu cấp dưỡng để thỏa thuận dành quyền nuôi con khi ly hôn không?

Trả lời:

Việc xem xét bố hoặc mẹ đủ điều kiện nuôi con sau ly hôn phụ thuộc vào điều kiện về mặt tài chính, đạo đức, mội trường sống, thời gian chăm sóc con. Khi quyết định việc giao con cho ai trực tiếp nuôi dưỡng sẽ phải xem xét đủ yếu tố đó. Nếu chỉ vì không cần cấp dưỡng mà 2 bên thỏa thuận giao con cho người không đủ tư cách đạo đức hay không có đủ thời gian chăm sóc con sẽ làm ảnh hưởng rất nhiều đến quyền và lợi ích hợp pháp của con.

Câu hỏi: Có thể yêu cầu tăng tiền cấp dưỡng cho con không?

Trả lời:

Khoản 2 Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 cho phép các bên thỏa thuận về việc thay đổi mức cấp dưỡng. Do đó, tùy thuộc vào nhu cầu thiết yếu của con, nếu chi phí tăng lên thì có thể đề nghị tăng mức cấp dưỡng cho con với mức hợp lý.