Năm 2000, Dì của tôi sau khi ly hôn với người chồng cũ thì sống chung với một người đàn ông tên là Nguyễn Văn A, chỉ tổ chức đám cưới mà không đăng ký kết hôn và có 1 con chung. Nhưng chỉ được một thời gian thì dì và chú A ly thân. Chú A bỏ đi một thời gian được biết là đã lấy vợ khác và có con riêng. Sau khi chú bỏ đi, dì tôi mua một mảnh đất để sinh sống. Gần đây, dì tôi muốn bán mảnh đất này đi thì chú A quay về và có tranh chấp với dì, yêu cầu dì phải chia tài sản đó. Chú A lấy lý do vẫn là chồng của dì nên có quyền được hưởng căn nhà và nói rằng dì phải xem lại giấy khai sinh của con chung có tên của cả dì và chú A trên đó. Cho tôi hỏi, chú A yêu cầu như vậy có được không? Dì tôi có phải chia tài sản cho chú A không?

Tôi xin cảm ơn.

.Không thể đòi tài sản nếu chưa đăng ký kết hôn ?

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi về cho thư mục hỏi đáp của công ty luật Minh Khuê, về câu hỏi của bạn, chúng tôi tư vấn và hỗ trợ như sau:

Theo quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình 2014 thì:

"1. Việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo quy định của Luật này và pháp luật về hộ tịch.

Việc kết hôn không được đăng ký theo quy định tại khoản này thì không có giá trị pháp lý.

2. Vợ chồng đã ly hôn muốn xác lập lại quan hệ vợ chồng thì phải đăng ký kết hôn."

Như vậy, nam, nữ không đăng ký kết hôn mà chung sống với nhau như vợ chồng thì không được pháp luật công nhận là vợ chồng, trừ trường hợp hôn nhân thực tế từ trước ngày 03/01/1987.

Năm 2000, Dì của Quý khách và chú A có tổ chức đám cưới, có thời gian chung sống như vợ chồng và đã có một con chung nhưng quan hệ này không được pháp luật thừa nhận là quan hệ vợ chồng vì không có đăng ký kết hôn và cũng không thuộc trường hợp hôn nhân thực tế.

Bên cạnh đó, mảnh đất mà chú A đòi chia là do dì của Quý khách đã tạo lập được sau khi hai người đã chấm dứt việc sống chung nên việc chú A đòi chia hai mảnh đất của dì bạn là không có cơ sở. Việc định đoạt tài sản chung của hai người chỉ được đặt ra khi chú A là người sở hữu hợp pháp mảnh đất trên cùng với dì của Quý khách. Bởi theo quy định tại Điều 168 Luật đất đai 2013 quy định:

"​Điều 168. Thời điểm được thực hiện các quyền của người sử dụng đất

1. Người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, tặng cho, thế chấp, góp vốn quyền sử dụng đất khi có Giấy chứng nhận. Đối với trường hợp chuyển đổi quyền sử dụng đất nông nghiệp thì người sử dụng đất được thực hiện quyền sau khi có quyết định giao đất, cho thuê đất; trường hợp nhận thừa kế quyền sử dụng đất thì người sử dụng đất được thực hiện quyền khi có Giấy chứng nhận hoặc đủ điều kiện để cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

Trường hợp người sử dụng đất được chậm thực hiện nghĩa vụ tài chính hoặc được ghi nợ nghĩa vụ tài chính thì phải thực hiện xong nghĩa vụ tài chính trước khi thực hiện các quyền."

Việc chú A cho rằng vẫn là chồng của dì nên có quyền được hưởng căn nhà và nói rằng dì phải xem lại giấy khai sinh của con chung có tên của cả dì và chú A trên đó không có căn cứ pháp luật. Bởi theo quy định của Luật hộ tịch: Giấy khai sinh là văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp cho cá nhân khi được đăng ký khai sinh; nội dung Giấy khai sinh bao gồm các thông tin cơ bản về cá nhân gồm:

a) Thông tin của người được đăng ký khai sinh: Họ, chữ đệm và tên; giới tính; ngày, tháng, năm sinh; nơi sinh; quê quán; dân tộc; quốc tịch;

b) Thông tin của cha, mẹ người được đăng ký khai sinh: Họ, chữ đệm và tên; năm sinh; dân tộc; quốc tịch; nơi cư trú;

c) Số định danh cá nhân của người được đăng ký khai sinh.

Đây là quyền của mỗi con người. Thông tin trên giấy khai sinh là cơ sở cho việc xác nhận cha, mẹ cho con, xác định quyền, nghĩa vụ của cha, mẹ đối với con cái và ngược lại,...

Việc cha, mẹ đứng tên trên giấy khai sinh không đồng nghĩa đối với việc xác định quan hệ vợ chồng. Quan hệ vợ chồng chỉ được xác lập khi có đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo luật định.

Trong trường hợp chú A cố tình tranh chấp về tài sản với dì của Quý khách thì dì của Quý khách có thể yêu cầu tòa án giải quyết, xác định mảnh đất đó thuộc sở hữu hợp pháp của mình. Và chú A có nghĩa vụ phải chứng minh có công sức đóng góp để tạo lập khối tài sản đó, ví dụ: có chứng từ về việc gửi tiền để mua nhà...

Trên đây là tư vấn của Luật Minh Khuê về yêu cầu của Quý khách. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác Quý khách vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật Hôn nhân và gia đình trực tuyến, gọi: 1900.6162 để được giải đáp.

Bên cạnh đó, khách hàng cũng có thể gửi yêu cầu tư vấn pháp luật qua email:lienhe@luatminhkhue.vn để được giải đáp vướng mắc, mức phí tư vấn pháp luật qua email là 300.000 VNĐ/ 01 email tư vấn, mức phí có thể thay đổi phụ thuộc vào từng yêu cầu cụ thể của khách hàng.

Ngoài ra, quý khách cũng có thể đến trực tiếp trụ sở chính của công ty luật TNHH Minh Khuê tại địa chỉ: Phòng 2007, Tầng 20, Tòa nhà C2, Vincom Trần Duy Hưng, Đường Trần Duy Hưng, Phường Trung Hòa, Quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội để được gặp trực tiếp luật sư tư vấn pháp lý cho quý khách. Vui lòng đặt lịch hẹn tư vấn trước để chúng tôi có thể sắp xếp luật sư tư vấn pháp luật cho khách hàng, đảm bảo tiết kiệm thời gian và chi phí cho chính quý khách.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hôn nhân - Công ty luật Minh Khuê