1. Không thực hiện cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn phải giải quyết như thế nào?

Kính chào luật sư, Tôi và chồng cũ của tôi đã ly hôn được 2 năm, và Tòa án giao quyền nuôi con cho tôi và chồng cũ của tôi phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng là 1.200.000/tháng nhưng từ đó đến nay anh không thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng, vậy tôi có thể làm gì?
mong luật sư tư vấn, tôi xin cảm ơn!

Luật sư tư vấn pháp luật Hôn nhân về ly hôn và quyền nuôi con, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Trường hợp người có nghĩa vụ cấp dưỡng không thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng theo Quyết định ly hôn của Tòa án thì có thể giải quyết theo các hướng như sau:

Thứ nhất, Theo hướng dân sự Yêu cầu Tòa án buộc người không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng phải thực hiện nghĩa vụ đó.

* Những người có thẩm quyền yêu cầu Tòa án buộc người không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng bao gồm:

1/ Người được cấp dưỡng

2/Cha, mẹ hoặc người giám hộ

3/ Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình

4/ Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em

5/ Hội liên hiệp phụ nữ

Điều 119. Người có quyền yêu cầu thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng (Luật Hôn nhân và gia đình 2014)
1. Người được cấp dưỡng, cha, mẹ hoặc người giám hộ của người đó, theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, có quyền yêu cầu Tòa án buộc người không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng phải thực hiện nghĩa vụ đó.
2. Cá nhân, cơ quan, tổ chức sau đây, theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, có quyền yêu cầu Tòa án buộc người không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng phải thực hiện nghĩa vụ đó:
a) Người thân thích;
b) Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình;
c) Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em;
d) Hội liên hiệp phụ nữ.
3. Cá nhân, cơ quan, tổ chức khác khi phát hiện hành vi trốn tránh thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng có quyền đề nghị cơ quan, tổ chức quy định tại các điểm b, c và d khoản 2 Điều này yêu cầu Tòa án buộc người không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng phải thực hiện nghĩa vụ đó.

Thứ hai, Theo hướng Hình sự

Việc trốn tránh nghĩa vụ không những bị xử lý về dân sự mà có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự cụ thể được quy định tại Điều 186 Bộ luật Hình sự 2015, cụ thể là việc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng làm cho người được cấp dưỡng lâm vào tình trạng nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm

- Phạt cảnh cáo,

- Phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm

- Phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

Điều 186. Tội từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng (Bộ luật Hình sự 2015)
Người nào có nghĩa vụ cấp dưỡng và có khả năng thực tế để thực hiện việc cấp dưỡng đối với người mà mình có nghĩa vụ cấp dưỡng theo quyết định của Tòa án mà từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng, làm cho người được cấp dưỡng lâm tình trạng nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

>> Xem ngay: Tiền cấp dưỡng nuôi con khi bố mẹ ly hôn ?

>> Xem thêm:  Chia tài sản sau ly hôn theo quy định mới nhất năm 2020

2. Nghĩa vụ cấp dưỡng cho con sau ly hôn ?

"Nghĩa vụ cấp dưỡng theo thỏa thuận" khi ly hôn được quy định trọng luật dẫn đến việc thực hiện trên thực tế gặp nhiều khó khăn và vướng mắc. Luật Minh Khuê giải đáp cụ thể về những vướng mắc về nghĩa vụ cấp dưỡng cho con sau khi ly hôn:

Luật sư tư vấn về nghĩa vụ cấp dưỡng cho con sau khi ly hôn:

Căn cứ Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn như sau:

“1. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.

2. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.

3. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.”

Căn cứ khoản 1 Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ trực tiếp nuôi con đối với người không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn như sau:

“1. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện các nghĩa vụ theo quy định tại Điều 82 của Luật này; yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình.”

Như vậy, căn cứ vào quy định nêu trên, đối với trường hợp của bạn, bạn là người đang trực tiếp nuôi con, vì vậy bạn hoàn toàn có quyền yêu cầu chồng của mình thực hiện các nghĩa vụ theo quy định tại Điều 82 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, trong đó có nghĩa vụ “cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con”.

Tuy nhiên, theo như thông tin mà bạn đã cung cấp cho chúng tôi, chồng bạn hàng tháng phải cấp dưỡng 1 triệu rưỡi cho con, nhưng kể từ sau khi chồng bạn lập gia đình mới thì anh ấy đã không cấp dưỡng cho con nữa, bạn cũng đã nhiều lần yêu cầu chồng thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng và cuối cùng hơn 03 tháng bạn vẫn chưa nhận được tiền cấp dưỡng này. Xét theo trường hợp của bạn, căn cứ theo quy định tại điều 119, Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, bạn có quyền yêu cầu thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng, cụ thể như sau:

“1. Người được cấp dưỡng, cha, mẹ hoặc người giám hộ của người đó, theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, có quyền yêu cầu Tòa án buộc người không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng phải thực hiện nghĩa vụ đó.

2. Cá nhân, cơ quan, tổ chức sau đây, theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, có quyền yêu cầu Tòa án buộc người không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng phải thực hiện nghĩa vụ đó:

a) Người thân thích;

b) Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình;

c) Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em;

d) Hội liên hiệp phụ nữ.

3. Cá nhân, cơ quan, tổ chức khác khi phát hiện hành vi trốn tránh thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng có quyền đề nghị cơ quan, tổ chức quy định tại các điểm b, c và d khoản 2 Điều này yêu cầu Tòa án buộc người không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng phải thực hiện nghĩa vụ đó.”

Theo như quy định trên, đối với trường hợp của bạn thì bạn hoàn toàn có quyền yêu cầu Tòa án buộc chồng của mình phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ cấp dưỡng cho con là 1 triệu rưỡi mỗi tháng. Hoặc nếu như chồng của bạn không có khả năng để thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng, 2 người có thể thỏa thuận với nhau về việc thay đổi mức cấp dưỡng theo quy định tại khoản 2 Điều 116 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định Mức cấp dưỡng, nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

>> Xem ngay: Tư vấn ly hôn, giành quyền nuôi con và mức cấp dưỡng ?

>> Xem thêm:  Mẫu đơn thuận tình ly hôn tại tòa án cập nhật mới năm 2020

3. Trách nhiệm cấp dưỡng của người cha với con cái sau ly hôn ?

Trách nhiệm cấp dưỡng của người cha với con cái sau ly hôn

Căn cứ theo Điều 82 của luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn như sau:“1. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.

2. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.

3. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.”

Ngoài ra, điều 83 của luật hôn nhân và gia đình năm 2014 cũng có quy định về Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ trực tiếp nuôi con đối với người không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn như sau:

“1. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện các nghĩa vụ theo quy định tại Điều 82 của Luật này; yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình.

2. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.”

Như vậy, nếu tình cảm gia đình bạn đã rạn nứt và không thể hàn gắn được nữa, bạn có thể gửi đơn yêu cầu tòa án nhân dân giải quyết vụ việc ly hôn của bạn theo trình tự pháp luật. Hiện tại con của bạn đang dưới 36 tháng tuổi nên tòa sẽ xử theo nguyên tắc giao trực tiếp cho mẹ nuôi. Đối với người cha không trực tiếp nuôi con thì phải có nghĩa vụ cấp dưỡng khi chưa thành niên, con đã thành niên không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

Về mức cấp dưỡng được quy định là do người có nghĩa vụ cấp dưỡng và người được cấp dưỡng hoặc người giám hộ của người đó thỏa thuận căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, bạn có thể thỏa thuận với chồng về mức cấp dưỡng cho con, nếu như không thỏa thuận được thì bạn có thể yêu cầu tòa án giải quyết.

Sau khi đã có biên bản thỏa thuận về mức cấp dưỡng hoặc quyết định của tòa án về việc cấp dưỡng thì bạn có thể yêu cầu bên phía người cha cấp dưỡng theo quy định. Nếu như người cha không thực thi thì bạn có thể làm đơn yêu cầu thi hành án gửi tới chi cục thi hành án dân sự giải quyết cho bạn. Ngoài ra, hành vi không chấp hành bản án, quyết định của tòa án có thể bị xử lý hành chính theo khoản 3 Điều 52 của nghị định số 110/2013/NĐ-CP về Hành vi vi phạm quy định trong hoạt động thi hành án dân sự như sau:

“3. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

a) Không thực hiện công việc phải làm, không chấm dứt thực hiện công việc không được làm theo bản án, quyết định;

b) Trì hoãn thực hiện nghĩa vụ thi hành án trong trường hợp có điều kiện thi hành án;

c) Không thực hiện đúng cam kết đã thỏa thuận theo quyết định công nhận sự thỏa thuận của Tòa án nhân dân;

d) Cung cấp chứng cứ giả cho cơ quan Thi hành án dân sự.”

>> Xem ngay: Hỏi về việc ly hôn có phải bồi thường tuổi thanh xuân cho người vợ là bao nhiều tiền ?

>> Xem thêm:  Năm 2020, Hồ sơ xin ly hôn tại tòa án bao gồm những tài liệu, giấy tờ gì ?

4. Nghĩa vụ cấp dưỡng sau ly hôn đối với con được thụ tinh nhân tạo ?

Nghĩa vụ cấp dưỡng sau ly hôn đối với con được thụ tinh nhân tạo

Theo quy định tại khoản 21 Điều 3 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014:

Sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản là việc sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh nhân tạo hoặc thụ tinh trong ống nghiệm

Đối chiếu với quy định trên, việc sinh con của vợ chồng bạn thuộc trường hợp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản. Vấn đề xác định cha, mẹ trong trường hợp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản được quy định cụ thể tại Điều 93 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 như sau:

1. Trong trường hợp người vợ sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản thì việc xác định cha, mẹ được áp dụng theo quy định tại Điều 88 của Luật này.

2. Trong trường hợp người phụ nữ sống độc thân sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản thì người phụ nữ đó là mẹ của con được sinh ra.…”.

Bên cạnh đó, Điều 88 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định:

“1. Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân là con chung của vợ chồng…

2. Trong trường hợp cha, mẹ không thừa nhận con thì phải có chứng cứ và phải được tòa án xác định.

Như vậy, theo các quy định vừa trích dẫn ở trên, dù vợ chồng bạn sinh con bằng phương pháp thụ tinh nhân tạo nhưng con được sinh ra trong thời kỳ hôn nhân do đó cháu bé vẫn được xác định là con chung của vợ và chồng. Nếu chồng bạn không thừa nhận cháu bé là con thì phải có chứng cứ và phải được tòa án xác định.

Trong trường hợp việc ly hôn của vợ chồng bạn được tòa án chấp nhận và tòa tuyên cháu bé là con chung của hai vợ chồng thì khi chồng bạn không trực tiếp nuôi con vẫn phải có nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định tại khoản 2 Điều 82 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 như sau:

1. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.

2. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.

3. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.”

>> Xem ngay: Quy định mới về mức tiền trợ cấp nuôi con khi bố mẹ ly hôn?

>> Xem thêm:  Cần giấy tờ và thủ tục gì để ly hôn đơn phương mới nhất năm 2020 ?

5. Vấn đề cấp dưỡng của Vợ/Chồng cho các con khi ly hôn ?

Tiền cấp dưỡng của cha/Mẹ được xác định như thế nào theo quy định của pháp luật. Luật Minh Khuê tư vấn và làm rõ các quy định của pháp luật hiện hành về vấn đề này:

Vấn đề cấp dưỡng của Vợ/Chồng cho các con khi ly hôn ?

Trả lời:

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi tới thư mục tư vấn của chúng tôi, chúng tôi xin giải đáp thắc mắc của bạn như sau:

Vấn đề 1: Thủ tục ly hôn

Điều 51.Quyền yêu cầu giải quyết ly hôn (Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014)

"1. Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.

2. Cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ cgiủa họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ.

3. Chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi"

Điều 56 Ly hôn theo yêu cầu của một bên ( Luật hôn nhân gia đình năm 2014)

1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.

3. Trong trường hợp có yêu cầu ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Luật này thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc chồng, vợ có hành vi bạo lực gia đình làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của người kia.

Căn cứ vào quy định trên cùng với thông tin mà bạn cung cấp thì bạn hoàn toàn có thể làm đơn xin ly hôn .

Hồ sơ xin ly hôn bao gồm:

+ Đơn xin ly hôn đơn phương

+ Bản chính Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn;

+ Bản sao Hộ khẩu thường trú, tạm trú của vợ và chồng

+ Bản sao Chứng minh thư nhân dân hoặc bản sao hộ chiếu của vợ và chồng

+ Các giấy tờ chứng minh về tài sản: Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, sở hữu nhà ở (nếu có)…

+ Bản sao giấy khai sinh của con.

Nơi nộp hồ sơ: Tòa án nhân dân cấp quận/huyện nơi vợ hoặc chồng cư trú ( nếu ly hôn thuận tình)

Tòa án nhân dân cấp quận/huyện nơi chồng cư trú ( bị đơn) nếu ly hôn đơn phương

Tòa án nhân dân cấp tỉnh nếu ly hôn có yếu tố nước ngoài

Lưu ý: Đối với trường hợp đăng ký kết hôn tại UBND xã phường, mọi thủ tục chấm dứt quan hệ hôn nhân sẽ tiến hành ly hôn tại Tòa án thông qua quyết định ly hôn. Trường hợp xe giấy đăng ký kết hôn sẽ không làm chấm dứt quan hệ hôn nhân.

Vấn đề 2: Bạo lực gia đình

“Điều 49. Hành vi xâm hại sức khỏe thành viên gia đình (Nghị định 167/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh ,trật tự,an toàn xã hội;phòng cháy và chữa cháy;phòng chống bạo lực gia đình)

1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 1.500.000 đồng đối với hành vi đánh đập gây thương tích cho thành viên gia đình.

2. Phạt tiền từ 1.500.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

a) Sử dụng các công cụ, phương tiện hoặc các vật dụng khác gây thương tích cho thành viên gia đình;

b) Không kịp thời đưa nạn nhân đi cấp cứu điều trị trong trường hợp nạn nhân cần được cấp cứu kịp thời hoặc không chăm sóc nạn nhân trong thời gian nạn nhân điều trị chấn thương do hành vi bạo lực gia đình, trừ trường hợp nạn nhân từ chối.

3. Biện pháp khắc phục hậu quả:

Buộc xin lỗi công khai khi nạn nhân có yêu cầu đối với các hành vi quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều này”

Điều 51. Hành vi xúc phạm danh dự, nhân phẩm của thành viên gia đình

1. Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với hành vi lăng mạ, chì chiết, xúc phạm danh dự, nhân phẩm thành viên gia đình.

2. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 1.500.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

a) Tiết lộ hoặc phát tán tư liệu, tài liệu thuộc bí mật đời tư của thành viên gia đình nhằm xúc phạm danh dự, nhân phẩm;

b) Sử dụng các phương tiện thông tin nhằm xúc phạm danh dự, nhân phẩm thành viên gia đình;

c) Phổ biến, phát tán tờ rơi, bài viết, hình ảnh, âm thanh nhằm xúc phạm danh dự, nhân phẩm của nạn nhân.

3. Biện pháp khắc phục hậu quả:

a) Buộc xin lỗi công khai khi nạn nhân có yêu cầu đối với hành vi quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều này;

b) Buộc thu hồi tư liệu, tài liệu, tờ rơi, bài viết, hình ảnh, âm thanh đối với hành vi quy định tại Điểm a, c Khoản 2 Điều này

Vấn đề 3: Thay đổi họ tên cho con sau ly hôn

Khoản 1, 2 điều 27 Bộ luật Dân sự năm 2005 (Bộ luật Dân sự năm 2015) quy định:

"Điều 27. Quyền thay đổi họ, tên

1. Cá nhân có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận việc thay đổi họ, tên trong các trường hợp sau đây:

a) Theo yêu cầu của người có họ, tên mà việc sử dụng họ, tên đó gây nhầm lẫn, ảnh hưởng đến tình cảm gia đình, đến danh dự, quyền, lợi ích hợp pháp của người đó;

b) Theo yêu cầu của cha nuôi, mẹ nuôi về việc thay đổi họ, tên cho con nuôi hoặc khi người con nuôi thôi không làm con nuôi và người này hoặc cha đẻ, mẹ đẻ yêu cầu lấy lại họ, tên mà cha đẻ, mẹ đẻ đã đặt;

c) Theo yêu cầu của cha đẻ, mẹ đẻ hoặc người con khi xác định cha, mẹ cho con;

d) Thay đổi họ cho con từ họ của cha sang họ của mẹ hoặc ngược lại;

đ) Thay đổi họ, tên của người bị lưu lạc đã tìm ra nguồn gốc huyết thống của mình;

e) Thay đổi họ, tên của người được xác định lại giới tính;

g) Các trường hợp khác do pháp luật về hộ tịch quy định.

2. Việc thay đổi họ, tên cho người từ đủ chín tuổi trở lên phải có sự đồng ý của người đó."

Khoản 10 Điều 1 Nghị định 06/2012/NĐ-CP quy định về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định về hộ tịch, hôn nhân và gia đình, chứng thực quy định chi tiết như sau:

Việc thay đổi, cải chính hộ tịch, xác định lại dân tộc, xác định lại giới tính, bổ sung hộ tịch cho người chưa thành niên hoặc người mất năng lực hành vi dân sự được thực hiện theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc người giám hộ .

Đối với việc thay đổi họ, tên, cho người từ đủ 9 tuổi trở lên và xác định lại dân tộc cho người chưa thành niên từ đủ 15 tuổi trở lên, thì phải có ý kiến đồng ý của người đó thể hiện trong Tờ khai; trường hợp xác định lại dân tộc cho con dưới 15 tuổi phải nộp văn bản thỏa thuận của cha mẹ về việc xác định lại dân tộc cho con.

Người yêu cầu thay đổi, cải chính hộ tịch, xác định lại dân tộc, xác định lại giới tính, bổ sung hộ tịch, điều chỉnh hộ tịch có thể trực tiếp hoặc nộp hồ sơ qua hệ thống bưu chính. Trong trường hợp gửi qua hệ thống bưu chính, thì các giấy tờ có trong thành phần hồ sơ phải là bản sao có chứng thực; trường hợp trực tiếp thì nộp bản sao kèm bản chính để đối chiếu hoặc bản sao có chứng thực. Riêng đối với việc thay đổi, cải chính hộ tịch, xác định lại dân tộc, xác định lại giới tính, bổ sung hộ tịch, điều chỉnh hộ tịch cho công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài; hoặc việc cải chính hộ tịch, xác định lại giới tính, bổ sung hộ tịch, điều chỉnh hộ tịch cho người nước ngoài trước đây đã đăng ký khai sinh trước cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam, thì phải trực tiếp nộp hồ sơ tại Sở Tư pháp, nơi có thẩm quyền giải quyết các việc hộ tịch nêu trên.

2. Trong thời hạn 3 ngày, kể từ ngày nhận đủ giấy tờ hợp lệ, nếu việc thay đổi, cải chính hộ tịch, xác định lại dân tộc, xác định lại giới tính có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật, thì cán bộ Tư pháp hộ tịch hoặc cán bộ Tư pháp của Phòng Tư pháp ghi vào Sổ đã đăng ký khai sinh trước đây và Quyết định về việc thay đổi, cải chính hộ tịch, xác định lại dân tộc, xác định lại giới tính. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện ký và cấp cho đương sự một bản chính Quyết định về việc thay đổi, cải chính hộ tịch, xác định lại dân tộc, xác định lại giới tính. Bản sao Quyết định được cấp theo yêu cầu của đương sự.

Trường hợp cần phải xác minh, thì thời hạn nói trên được kéo dài thêm không quá 05 ngày.

Nội dung và căn cứ thay đổi, cải chính hộ tịch, xác định lại dân tộc, xác định lại giới tính phải được ghi chú vào cột ghi những thay đổi sau này của Sổ đăng ký khai sinh và mặt sau của bản chính Giấy khai sinh.”

Như vậy, đối với trường hợp sau ly hôn, người mẹ muốn đối họ cho con, cần có sự đồng ý của người cha về thực hiện đổi họ cho con vì con là con chung của vợ chồng trong thời ký hôn nhân, hai người có quyền và nghĩa vụ ngang nhau.

>> Xem ngay: Thủ tục ly hôn và đòi tiền cấp dưỡng nuôi con ?

>> Xem thêm:  Vợ có giành lại được quyền nuôi con khi chồng cũ lấy vợ mới ?

6. Tư vấn thủ tục ly hôn và vấn đề cấp dưỡng tiền nuôi con sau ly hôn ?

Luật Minh Khuê tư vấn thủ tục ly hôn và vấn đề cấp dưỡng tiền nuôi con sau ly hôn và các vấn đề pháp lý phát sinh đối với hoạt động trên:

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gứi thắc mắc đến công ty Luật Minh Khuê, căn cứ vào thông tin bạn cung cấp xin tư vấn cho bạn như sau:

Thứ nhất về thủ tục ly hôn

Về hồ sơ bao gồm:

- Đơn yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn hoặc đơn xin ly hôn đơn phương

- Bản chính Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn;

- Sổ hộ khẩu của vợ, chồng (bản sao có chứng thực)

- Chứng minh thư nhân dân của vợ và chồng (bản sao có chứng thực)

- Các giấy tờ chứng minh về tài sản: Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, sở hữu nhà ở (nếu có)…

- Giấy khai sinh của con (bản sao có chứng thực, nếu có).

Tòa án có thẩm quyền giải quyết việc ly hôn của là tòa án nhân dân cấp huyện nơi một trong hai người cư trú.

Sau khi đã có đủ các giấy tờ trên chị nộp lên toà án và nộp án phí (khi toà án đã thụ lý). Án phí với các vụ án ly hôn không phân chia tài sản là 200.000 đồng.

Về thời gian giải quyết thuận tình ly hôn:

+ Trong thời hạn 5 ngày kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, Tòa án phải thụ lý vụ án, thông báo để đương sự nộp tiền tạm ứng án phí. Sau khi nộp án phí, người khởi kiện nộp cho tòa biên lai nộp tiền tạm ứng án phí để Tòa thụ lý vụ án.

+ Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, nếu Tòa án hòa giải không thành, xét thấy hai bên thật sự tự nguyện ly hôn và đã thoả thuận về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con thì Toà án công nhận thuận tình ly hôn và sự thoả thuận về tài sản và con trên cơ sở bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con; nếu không thoả thuận được hoặc tuy có thoả thuận nhưng không bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Toà án quyết định.

+ Đối với trường hợp thuận tình ly hôn thì trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày hòa giải không thành, nếu hai bên đương sự không thay đổi nội dung yêu cầu Công nhận thuận tình ly hôn thì Tòa án ra Quyết định công nhận thuận tình ly hôn. Đối với trường hợp ly hôn đơn phương thì trong thời hạn 1 tháng kể từ ngày ra quyết định hòa giải không thành tòa sẽ tiến hành mở phiên tòa xét xử

Thứ hai về quyền nuôi con sau khi ly hôn được quy định trong Luật hôn nhân và gia đình 2014 như sau:

" Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con."

Theo đó trước hết sẽ do hai vợ chồng tự thỏa thuận với nhau trường hợp không thỏa thuận được thì tòa án sẽ giao con cho một người trực tiếp nuôi dưỡng dựa trên quy định tại điều luật trên.

Thứ ba là về phân chia tài sản sau khi ly hôn được quy định như sau:

" Điều 59. Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn

1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.

Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.

2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng."

Theo đó tài sản chung của vợ chồng được chia đôi cho cho hai người có tính đến yếu tố đóng góp và hoàn cảnh của hai bên, yếu tố lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền và nghĩa vụ của vợ chồng.

Chào công ty luật MInh Khuê, gia đình tôi gặp một số rắc rối nhỏ về luật mong được quý công ty giúp đỡ. Tôi có 1 chị gái sinh năm 1988, lấy chồng năm 2010, có 2 con và đã ly hôn tháng 5/2016. Sau đó chị tôi có nhu cầu cắt khẩu tại nhà chồng chồng cũ để nhập lại về nhà mẹ đẻ, tuy nhiên trong quá trình cắt khẩu, nhà chồng cũ không chịu giao sổ hộ khẩu và gây khó dễ cho chị tôi. Vậy tôi xin quí công ty tư vấn giúp cách làm thế nào để chị tôi có thể được chuyển khẩu về nhà cũ. Tôi xin cảm ơn! Regards, Xuân Thành

Điều kiện tách khẩu được quy định trong Luật cư trú 2006 như sau:

" Điều 27. Tách sổ hộ khẩu

1. Trường hợp có cùng một chỗ ở hợp pháp được tách sổ hộ khẩu bao gồm:

a) Người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ và có nhu cầu tách sổ hộ khẩu;

b) Người đã nhập vào sổ hộ khẩu quy định tại khoản 3 Điều 25 và khoản 2 Điều 26 của Luật này mà được chủ hộ đồng ý cho tách sổ hộ khẩu bằng văn bản.

2. Khi tách sổ hộ khẩu, người đến làm thủ tục phải xuất trình sổ hộ khẩu; phiếu báo thay đổi hộ khẩu, nhân khẩu; ý kiến đồng ý bằng văn bản của chủ hộ nếu thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều này.

3. Trong thời hạn bảy ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ, cơ quan có thẩm quyền phải trả kết quả giải quyết việc tách sổ hộ khẩu; trường hợp không giải quyết việc tách sổ hộ khẩu thì phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do."

Theo đó trong trường hợp này vợ bạn phải có sự đồng ý của chủ hộ khẩu thì mới được quyền tách khẩu. Nếu chồng bạn không đồng ý thì bạn có thể nhờ đến sự giúp đỡ của công an xã.

Em chào vp luật Minh Khuê. Anh chị cho em hỏi về thủ tục ly hôn đơn phương ạ. Bên đối phương không chịu đưa giấy tờ cho em làm thủ tục có biện pháp nào giải quyết không ạ? Em cảm ơn anh chị! Đã gửi từ iPhone của tôi

khi bạn thiếu những giấy tờ trong hồ sơ ly hôn, bạn có thể thực hiện những cách sau:

- Về sổ hộ khẩu: Liên hệ với công an cấp phường, xã nơi anh thường trú nhờ nơi đây xác nhận rằng anh là nhân khẩu thường trú tại địa phương. Việc xác nhận này anh có thể làm một đơn riêng, cũng có thể nhờ công an xác nhận ngay vào đơn xin ly hôn.

- Về giấy đăng ký kết hôn: Liên hệ với cơ quan hộ tịch nơi anh đăng ký kết hôn trước đây để xin cấp bản sao.

- Về khai sinh: Liên hệ với cơ quan hộ tịch nơi anh đăng ký khai sinh cho con trước đây để xin cấp bản sao.

Chào luật sư, Trường hợp của tôi như sau: Vợ chồng tôi kết hôn năm 2008, tháng 02/2016 Ba chồng tôi có di chúc lại cho chồng tôi một căn nhà, Giờ giấy tờ nhà đã chuyển tên cho chồng tôi, Vậy giờ tôi muốn thêm tên mình vào thì thủ tục như thế nào? Nếu không thêm tên tôi vào thì khi ly hôn tôi có được quyền lợi gì trong căn nhà đó không? Cám ơn luật sư đã xem thư tôi, mong luật sư phản hồi dể hiểu dùm tôi vì tôi đọc nhiều điều khoản này điều khoản nọ tôi rối, không hiểu. Tôi cám ơn luật sư. Tôi cám ơn và chúc luật sư có cuộc sống vui vẻ, thoải mái, thành công. Trân trọng,

Ba chồng bạn để di chúc lại cho riêng chồng bạn thì trong trường hợp này mảnh đất được xác định là tài sản riêng của chồng bạn, sau khi ly hôn bạn sẽ không được chia. Nếu bạn muốn có tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì phải có sự đồng ý của chồng xác nhập tài sản chung vào tài sản riêng theo quy định sau:

" Điều 46. Nhập tài sản riêng của vợ, chồng vào tài sản chung

1. Việc nhập tài sản riêng của vợ, chồng vào tài sản chung được thực hiện theo thỏa thuận của vợ chồng.

2. Tài sản được nhập vào tài sản chung mà theo quy định của pháp luật, giao dịch liên quan đến tài sản đó phải tuân theo hình thức nhất định thì thỏa thuận phải bảo đảm hình thức đó.

3. Nghĩa vụ liên quan đến tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung được thực hiện bằng tài sản chung, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác."

Theo đó nếu chồng chị đồng ý thì mình sẽ viết một văn bản thỏa thuận xác lập mảnh đất đó vào tài sản chung của hai vợ chồng và tiền hành làm thủ tục đính chính lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên chị nữa.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc liên hệ văn phòng để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hôn nhân - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Tư vấn khởi kiện giành lại quyền nuôi con khi đã ly hôn ?