Trong phạm vi bài viết, nhìn từ thực tiễn hoạt động giám sát tư pháp của Quốc hội, y ban thường vụ Quốc hội, y ban tư pháp của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội, có những kinh nghiệm được rút ra và có những kiến nghị thiết thực để hoàn thiện hơn nữa công tác này.

1. Những ưu điểm và hạn chế

1.1 Những ưu điểm

Mặc dù trong điều kiện phải đầu tư rất nhiều thời gian, công sức cho hoạt động lập pháp, Quốc hội, ủy ban thường vụ Quốc hội (UBTVQH), ủy ban Tư pháp (UBTP) của Quốc hội, các Đoàn đại biểu Quốc hội (ĐBQH), các ĐBQH đã cố gắng với tinh thần trách nhiệm cao để thực hiện các nội dung giám sát tư pháp theo quy định của Hiến pháp, Luật tổ chức Quốc hội, Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội, Luật Phòng, chống tham nhũng… và các nội dung giám sát tư pháp được Quốc hội, UBTVQH giao. Trong thời gian qua, Quốc hội, UBTVQH, UBTP của Quốc hội, Đoàn ĐBQH, ĐBQH đã tiến hành giám sát hoạt động của các cơ quan tư pháp như thẩm tra, xem xét các báo cáo công tác của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao (TANDTC), Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao (VKSNDTC), các báo cáo của Chính phủ về tình hình tội phạm, vi phạm pháp luật và công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật, về công tác thi hành án, công tác phòng, chống tham nhũng; chất vấn những người đứng đầu các cơ quan tư pháp; giám sát việc giải quyết đơn, thư khiếu nại, tố cáo của công dân trong lĩnh vực tư pháp; thành lập đoàn giám sát của UBTVQH, của UBTP, của Đoàn ĐBQH để giám sát hoạt động của các cơ quan tư pháp tại các địa phương trong cả nước; UBTP tiến hành giám sát việc giải quyết một số vụ án cụ thể…

Thẩm tra các báo cáo của Chính phủ về công tác thi hành án, về tình hình tội phạm, vi phạm pháp luật, về công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật, công tác phòng, chống tham nhũng; báo cáo công tác của Chánh án TANDTC, Viện trưởng VKSNDTC là một trong những nhiệm vụ chủ yếu, là hình thức giám sát quan trọng của UBTP. Thực chất, đó là việc xem xét, đánh giá từ phía cơ quan của Quốc hội đối với hoạt động của các cơ quan tư pháp. Báo cáo thẩm tra của UBTP là một kênh thông tin quan trọng giúp Quốc hội nắm được thực chất hơn và có cơ sở để đánh giá chính xác hơn về hoạt động của các cơ quan điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án và tình hình tội phạm, vi phạm pháp luật. Đối với các ĐBQH, đây cũng là một trong những căn cứ để đại biểu tham khảo, thảo luận.

>> Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi:   1900 6162

 

Hằng năm, trước kỳ họp cuối năm của Quốc hội, UBTP đều tổ chức phiên họp toàn thể thẩm tra các báo cáo của Chính phủ, Chánh án TANDTC, Viện trưởng VKSNDTC. Để có cơ sở thực tiễn trong việc xem xét, đánh giá các báo cáo, trước khi tổ chức phiên họp thẩm tra, UBTP thường tổ chức các đoàn giám sát hoặc đoàn khảo sát nắm tình hình hoạt động của các cơ quan tư pháp địa phương. Nội dung của các cuộc giám sát, khảo sát là các hoạt động chung về điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án, bổ trợ tư pháp hoặc được tiến hành theo các chuyên đề, tùy theo tính bức xúc của từng vấn đề.

Từ những đánh giá, nhận định của UBTP về hoạt động của các cơ quan tư pháp thông qua việc thẩm tra các báo cáo của những cơ quan này, điều quan trọng thể hiện hoạt động giám sát có hiệu quả ở mức độ nào là những kiến nghị, đề xuất của ủy ban. Những kiến nghị, đề xuất đó, một mặt góp phần trực tiếp vào việc hoàn thiện các báo cáo trình Quốc hội, UBTVQH; mặt khác là những tư liệu, thông tin quan trọng giúp Quốc hội, UBTVQH, ĐBQH thảo luận, đánh giá khách quan, chính xác về hoạt động của mỗi cơ quan tư pháp.

Qua công tác giám sát việc giải quyết đơn, thư khiếu nại, tố cáo cho thấy, tình hình khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực tư pháp vẫn diễn biến phức tạp; số lượng đơn, thư khiếu nại, tố cáo ngày càng tăng; nhiều đơn, thư khiếu nại gay gắt, kéo dài, gửi vượt cấp, gửi đến các cơ quan không có thẩm quyền giải quyết và gửi đến nhiều đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước. Phần lớn những đơn này khiếu nại đối với các bản án đã có hiệu lực; nhưng vì những lý do khác nhau, các cơ quan tư pháp trung ương đã không kịp thời xem xét giải quyết dẫn đến tình trạng một số bản án hết thời hạn kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm. Vì vậy, UBTP kiến nghị với VKSNDTC, TANDTC tăng cường hoạt động xem xét đơn khiếu nại của công dân về các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, cần phân loại những khiếu nại để có biện pháp ưu tiên, xem xét những vụ án sắp hết thời hạn kháng nghị tránh xảy ra tình trạng như đã nêu trên.

UBTP tổ chức giám sát việc giải quyết một số vụ án cụ thể thuộc các lĩnh vực hình sự, dân sự, thương mại, hành chính, lao động; qua đó phát hiện những vi phạm pháp luật của các cơ quan tiến hành tố tụng, yêu cầu các cơ quan này làm rõ, sửa chữa sai lầm, thiếu sót, kịp thời khắc phục hậu quả nhằm bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân. Tuy nhiên, do điều kiện hạn chế về thời gian nên số lượng các vụ việc được UBTP tiến hành giám sát không nhiều.

Tại nhiệm kỳ này, UBTP đã cải tiến phương thức giám sát các vụ án cụ thể bước đầu đạt được những kết quả khả quan. Trong quá trình xử lý đơn thư khiếu nại về lĩnh vực tư pháp khi phát hiện những vụ án cần được làm rõ hoặc phải xem xét lại, Thường trực UBTP yêu cầu TANDTC, VKSNDTC, Bộ Công an, Bộ Tư pháp, các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến việc giải quyết vụ án báo cáo kết quả giải quyết khiếu nại, tố cáo, thảo luận những vấn đề mà Thường trực ủy ban quan tâm. Sau khi thảo luận, phần lớn những vụ án đưa ra xem xét đã được Viện trưởng VKSNDTC, Chánh án TANDTC kháng nghị để xét xử theo trình tự giám đốc thẩm, UBTP không phải thành lập đoàn giám sát, tiết kiệm được thời gian, công sức, đề cao trách nhiệm của các cơ quan chịu sự giám sát trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân.

Qua giám sát có thể thấy rằng, hằng năm, ngành Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân đã nghiên cứu kiến nghị để kháng nghị giải quyết lại nhiều vụ án hình sự, dân sự, thương mại, hành chính, lao động, hôn nhân và gia đình theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm bảo đảm việc áp dụng pháp luật được nghiêm minh và thống nhất, những sai sót nghiệp vụ được rút kinh nghiệm, một số vướng mắc về áp dụng pháp luật trong công tác xét xử được nghiên cứu, tháo gỡ. Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng còn không ít đơn thư khiếu nại các vụ án đã có hiệu lực pháp luật đã được TANDTC, VKSNDTC xem xét trả lời việc giải quyết của tòa án là đúng, không có căn cứ để kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm nhưng đương sự vẫn tiếp tục khiếu nại gay gắt. Thực tế dù chưa làm được nhiều, nhưng qua giám sát một số vụ án cụ thể, UBTP thấy rằng việc khiếu nại của công dân đối với việc giải quyết những vụ án đó về cơ bản là đúng nhưng các cơ quan tư pháp có thẩm quyền đã không xem xét việc giải quyết vụ án một cách toàn diện, khách quan để kịp thời phát hiện những thiếu sót, sai lầm mà khắc phục, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.

1.2. Một số hạn chế

Mặc dù đạt được những kết quả nhất định, song do phải tập trung nhiều vào công tác xây dựng pháp luật nên công tác giám sát hoạt động của các cơ quan tư pháp trong thời gian qua vẫn còn có những hạn chế nhất định như:

Quốc hội, UBTVQH giám sát hoạt động của các cơ quan tư pháp chủ yếu mới thông qua các hình thức nghe các báo cáo công tác của những người đứng đầu các cơ quan này, xem xét việc chất vấn và trả lời chất vấn đối với những chức danh do Quốc hội bầu tại kỳ họp của Quốc hội hoặc tại phiên họp của UBTVQH; chưa chủ động tìm kiếm, khai thác trên nhiều kênh thông tin mà vẫn chủ yếu dựa vào thông tin do chính các cơ quan chịu sự giám sát cung cấp. Việc tổ chức đoàn giám sát của UBTVQH về tình hình thi hành pháp luật ở các địa phương cũng chưa được tiến hành thường xuyên; giám sát việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan tư pháp còn hạn chế.

Tâm lý nể nang, né tránh, ngại va chạm vẫn còn là trở ngại lớn trong việc nâng cao hiệu quả giám sát. Hoạt động chất vấn, trả lời chất vấn được nghiên cứu cải tiến đã có sự tiến bộ nhất định từ cả hai phía chất vấn và trả lời chất vấn nhưng chưa phát huy nhiều tính đối thoại, tranh luận trực tiếp vào vấn đề cần chất vấn.

Các cơ quan chịu sự giám sát chưa thực hiện kịp thời, nghiêm túc các kiến nghị của chủ thể giám sát. Bên cạnh đó, các cơ quan giám sát cũng chưa tích cực theo dõi, đôn đốc đến cùng việc giải quyết các kiến nghị một cách triệt để.

Hoạt động giám sát của các Đoàn ĐBQH và ĐBQH tuy đã được tích cực triển khai nhưng còn nhiều khó khăn, phần lớn là hoạt động gắn liền với đoàn giám sát của các cơ quan của Quốc hội tại địa phương hoặc giám sát theo chuyên đề của UBTVQH. Kỹ năng về hoạt động giám sát của một số ĐBQH còn hạn chế nên còn lúng túng trong việc triển khai thực hiện, lựa chọn hình thức và phương pháp giám sát; kết quả giám sát chưa rõ nét, còn thiên về khảo sát nắm tình hình là chính. Có trường hợp chưa xác định đúng đối tượng giám sát nên đã trực tiếp giải quyết các vụ việc cụ thể không đúng chức năng, nhiệm vụ của mình.

Công cụ, phương tiện giám sát và công tác tổ chức phục vụ hoạt động giám sát vẫn còn gặp khó khăn, đặc biệt là về đội ngũ cán bộ, chuyên viên giúp việc.

2. Một số kinh nghiệm từ thực tiễn giám sát tư pháp

Từ thực tiễn hoạt động giám sát nói chung và giám sát hoạt động của các cơ quan tư pháp nói riêng cho thấy, để Quốc hội, UBTVQH, UBTP của Quốc hội, Đoàn ĐBQH, ĐBQH giám sát tư pháp có hiệu quả, trước hết phải thực hiện nghiêm chỉnh các quy định của Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và hoạt động giám sát phải có đủ điều kiện cần thiết sau:

a) Lập chương trình giám sát hàng năm;

b) Có nhận thức đúng đắn về hoạt động giám sát tư pháp như: thẩm quyền, trách nhiệm, nguyên tắc giám sát theo quy định pháp luật; coi trọng các thủ tục giám sát;

c) Chọn trúng vấn đề trọng tâm;

d) Có kế hoạch giám sát cụ thể (công tác chuẩn bị, lập đoàn giám sát, các bước tiến hành giám sát…);

đ) Nắm chắc và đầy đủ các tài liệu thông tin cần thiết (các quy định của pháp luật nội dung, pháp luật tố tụng, các văn bản có liên quan và các thông tin tài liệu khác chính xác, khách quan);

e) Có lực lượng giám sát đủ năng lực, trình độ và có sự phối hợp với các cơ quan hữu quan để tiến hành giám sát;

g) Được trang bị các phương tiện, công cụ cần thiết phục vụ yêu cầu giám sát, có bộ phận giúp việc có kinh nghiệm chuyên sâu;

h) Đưa ra kết luận giám sát rõ ràng, các kiến nghị cụ thể, đề xuất giải pháp thực hiện kiến nghị;

i) Tổ chức tốt việc kiểm tra, đôn đốc thực hiện kiến nghị giám sát;

k) Tăng cường yêu cầu các cơ quan tư pháp báo cáo những vấn đề cơ quan giám sát quan tâm, nhất là việc giải quyết các vụ án cụ thể.

Riêng trong hoạt động giám sát của UBTP đối với việc giải quyết vụ án cụ thể, cần phải:

a) Lựa chọn đúng những vụ án cần tiến hành giám sát phù hợp với chức năng, nhiệm vụ và yêu cầu bức xúc từ thực tiễn. Đó là những vụ án đã có hiệu lực pháp luật nhưng có đơn thư khiếu nại bức xúc, kéo dài, có nhiều ý kiến, kiến nghị của các cơ quan, tổ chức, TANDTC, VKSNDTC đã xem xét giải quyết và trả lời là đã giải quyết đúng pháp luật nhưng công dân vẫn khiếu nại gay gắt hoặc có ý kiến chất vấn của ĐBQH hoặc có yêu cầu của các cơ quan, cá nhân có thẩm quyền hoặc được UBTVQH giao;

b) Phương pháp tiến hành giám sát phải bảo đảm quy trình chặt chẽ, đúng chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền theo quy định của pháp luật;

c) Xây dựng kế hoạch chi tiết, xác định mục đích, yêu cầu, nội dung phương pháp và các bước cần thực hiện trong quá trình giám sát;

d) Tổ chức việc nghiên cứu hồ sơ vụ án một cách toàn diện, khách quan và phải thực sự công tâm;

đ) Xác định căn cứ pháp luật để giải quyết vụ án và những tài liệu, chứng cứ cần phải thu thập bổ sung;

e) Tiến hành gặp gỡ trao đổi, làm việc trực tiếp với người khiếu nại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, đại diện cơ quan tổ chức nơi xảy ra vụ án để xác minh, thu thập tài liệu, thông tin cần thiết phục vụ hoạt động giám sát;

g) Tiến hành làm việc với các cơ quan tư pháp trực tiếp giải quyết vụ án, lãnh đạo TANDTC, VKSNDTC và các cơ quan có liên quan đến việc giải quyết vụ án;

h) Đoàn giám sát báo cáo kết quả giám sát vụ án tại phiên họp toàn thể của UBTP có sự tham gia của lãnh đạo TANDTC, VKSNDTC, các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến việc giải quyết vụ án và các đối tượng khác tùy theo yêu cầu của việc giám sát. UBTP xem xét, thảo luận về báo cáo của đoàn giám sát về những nội dung cụ thể, những thiếu sót, vi phạm pháp luật được phát hiện từ hoạt động giám sát;

i) Xác định đúng, chính xác vi phạm pháp luật và bảo đảm tính khách quan, khả thi của những kiến nghị qua hoạt động giám sát;

k) Báo cáo kết quả giám sát và kiến nghị giám sát để UBTVQH xem xét, kết luận;

l) Theo dõi, đôn đốc thực hiện kiến nghị qua hoạt động giám sát đã được UBTVQH kết luận;

m) Giám sát vụ án cụ thể phải được lập thành hồ sơ giám sát.

Giám sát giải quyết vụ án cụ thể là một việc hết sức khó khăn và phức tạp, bởi vì những vụ án UBTP đã tiến hành giám sát đều là những vụ việc đã qua nhiều lần xét xử ở các cấp tòa án; thậm chí, có vụ đã có quyết định giám đốc thẩm, nhưng có khiếu nại bức xúc, kéo dài và đã được TANDTC, VKSNDTC xem xét trong quá trình giải quyết khiếu nại đã trả lời án xử đúng. Trước hết, cần phải xác định bản án, quyết định của tòa án là văn bản cá biệt, không phải là văn bản quy phạm pháp luật và thường các vụ án được lựa chọn giám sát là các vụ án phức tạp, khó khăn nên chỉ do UBTVQH, UBTP của Quốc hội tiến hành giám sát mới đủ tầm và có hiệu quả còn Đoàn ĐBQH không nên tiến hành giám sát các vụ án cụ thể. Bởi lẽ, Luật hoạt động giám sát của Quốc hội không quy định Đoàn ĐBQH thành lập đoàn giám sát vụ án cụ thể. Hơn nữa, kỹ năng nghiên cứu hồ sơ, đánh giá chứng cứ tổng hợp và thực hiện các bước tiến hành giám sát một vụ án cụ thể nêu trên sẽ hạn chế và khó có thể thực hiện được đối với Đoàn ĐBQH. Do vậy, trong trường hợp phát hiện bản án có hiệu lực pháp luật có vi phạm pháp luật, Đoàn ĐBQH cần kiến nghị TANDTC, VKSNDTC, UBTP của Quốc hội xem xét, xử lý.

Giám sát các vụ án cụ thể cần xác định rõ đúng, sai; xác định chính xác vi phạm, bảo đảm khách quan, đưa ra các kiến nghị cụ thể, rõ ràng. Cơ quan giám sát không có chức năng giải quyết nên không nên đưa ra những kết luận mang tính giải quyết, áp đặt hoặc can thiệp để đình chỉ thi hành án. Không nên tiến hành giám sát khi chưa có sự chuẩn bị kỹ, chưa nắm rõ được các quy định của pháp luật có liên quan, chưa làm rõ mục đích, yêu cầu của cuộc giám sát vì nếu tiến hành giám sát không đúng sẽ không có hiệu quả, lãng phí trong việc chi phí cho giám sát, đồng thời ảnh hưởng đến uy tín của cơ quan tư pháp.

3. Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giám sát tư pháp

Nhằm tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, thống nhất và đồng bộ cho hoạt động của các cơ quan tư pháp, đồng thời góp phần nâng cao chất lượng hoạt động giám sát của Quốc hội thì, việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật có vai trò rất quan trọng. Trong thời gian tới, đáp ứng những yêu cầu của công cuộc cải cách tư pháp mà các nghị quyết của Đảng và Quốc hội đã đề ra, cần nghiên cứu tiếp tục đổi mới quy trình lập pháp, hướng vào mục tiêu đẩy nhanh tiến độ công tác xây dựng pháp luật, bảo đảm về số lượng và chất lượng các văn bản quy phạm pháp luật. Đối với hoạt động giám sát cần sửa đổi, bổ sung các văn bản sau đây: Luật Tổ chức Quốc hội, Luật Hoạt động giám của Quốc hội, Luật Tổ chức HĐND và UBND, các nghị quyết của Quốc hội về Quy chế hoạt động của UBTVQH, Quy chế hoạt động của Hội đồng Dân tộc, các ủy ban của Quốc hội, Quy chế hoạt động của Đoàn ĐBQH và ĐBQH, Nội quy kỳ họp Quốc hội;

Để hoạt động giám sát đạt kết quả tốt, UBTVQH cần chỉ đạo tăng cường công tác nghiên cứu tham mưu tổng hợp, tổ chức phục vụ hoạt động giám sát của các cơ quan của Quốc hội; thực hiện tốt việc điều hòa, phối hợp trong hoạt động giám sát, tránh trùng lắp về địa điểm, đơn vị chịu sự giám sát và thời gian tiến hành giám sát. UBTVQH cũng cần hướng dẫn để tăng cường phát huy vai trò của các Đoàn ĐBQH, các ĐBQH trong việc giám sát hoạt động của các cơ quan tư pháp tại địa phương và tiếp tục thực hiện quyền chất vấn trong thời gian giữa hai kỳ họp theo quy định của Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Quy chế hoạt động của Đoàn ĐBQH và ĐBQH; tiếp tục nâng cao chất lượng và cải tiến phương thức tiến hành giám sát để nâng cao hiệu lực, hiệu quả việc thực hiện chức năng giám sát tối cao của Quốc hội đối với toàn bộ hoạt động của bộ máy nhà nước, trong đó có công tác giám sát tư pháp.

Tăng cường hướng dẫn, nâng cao kỹ năng tổ chức hoạt động giám sát và cung cấp thông tin phục vụ giám sát cho các Đoàn ĐBQH. Cơ quan tiến hành giám sát cần thường xuyên đánh giá rút kinh nghiệm để cải tiến phương thức tổ chức giám sát nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát, trong đó có việc chuẩn bị thật kỹ trước khi tiến hành giám sát, nắm được vấn đề và đưa ra kết luận chính xác;

Cơ quan tiến hành giám sát cần đưa ra những kiến nghị khách quan, xác đáng, có giá trị và nội dung rõ ràng, đồng thời cần giám sát, đôn đốc việc xem xét giải quyết kiến nghị. Cơ quan chịu sự giám sát phải chủ động, nghiêm túc và khẩn trương trong việc xem xét, giải quyết và trả lời những kiến nghị của cơ quan giám sát; cần có chế tài đối với việc không thực hiện nghiêm chỉnh kết luận giám sát;

Cần thực hiện cách thức giám sát lại vấn đề đã giám sát, có như vậy mới kiểm chứng được hiệu quả, hiệu lực của hoạt động giám sát trong việc thực hiện kiến nghị của cơ quan giám sát;

Tăng cường công tác giám sát việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật của TANDTC, VKSNDTC và các cơ quan tư pháp ở trung ương;

Tăng cường bộ máy giúp việc cho UBTP, Đoàn ĐBQH để bộ phận giúp việc không những phải nắm vững quy định của pháp luật mà còn phải có kinh nghiệm thực tiễn nhất định trong lĩnh vực giám sát tư pháp;

Tăng cường hơn nữa sự phối hợp giữa các cơ quan của Quốc hội, các Đoàn ĐBQH, HĐND trong giám sát hoạt động của các cơ quan tư pháp.

TS. Dương Ngọc Ngưu

Tạp chí nghiên cứu lập pháp

 

(MKLAW FIRM: Bài viết được đăng tải nhằm mục đích giáo dục, phổ biến, tuyên truyền pháp luật và chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước không nhằm mục đích thương mại. Thông tin nêu trên chỉ có giá trị tham khảo và có thể một số thông tin pháp lý đã hết hiệu lực tại thời điểm  hiện tại vì vậy Quý khách khi đọc thông tin này cần tham khảo ý kiến luật sư, chuyên gia tư vấn trước khi áp dụng vào thực tế.)