Giặc dốt không chỉ hoành hành nơi thâm sơn cùng cốc mà còn làm mưa làm gió ngay cả ở những thành phố lớn, những học viện và những mảnh bằng tiến sĩ chạy chọt. Hẳn nhiên, chúng ta đều biết, nước có tri thức thấp sẽ nghèo hèn. Đúng lúc này, hàng ngày, hàng tuần chúng ta đang phải đối đầu tìm cách giải quyết vấn đề giáo dục – là thứ chìa khoá tinh thần mà không có nó, chúng ta khó có thể bước đi trên con đường tiến bộ. Vấn đề giáo dục được bàn thảo ở khắp nơi: trong các kỳ họp của Quốc hội, trong nhà trường trước và sau các kỳ tuyển sinh và trên các phương tiện thông tin đại chúng... Người ta nói đến hai giải pháp chiến lược chính: một, phải nâng cao thượng tầng kiến trúc - nghĩa là tầm vóc của các học giả, các nhà giáo, các nhà nghiên cứu; hai, phải đặt nền móng vững chắc cho hạ tầng cơ sở - nghĩa là ngay từ cấp phổ thông, các học trò phải được đào tạo trong nền giáo dục cơ bản thích đáng nhất.

Vấn đề giáo dục hạ tầng là dành cho học trò (xin để dịp khác bàn bạc, nay xin được bàn vào giáo dục thượng tầng). Người Việt có câu: “Đầu xuôi đuôi lọt”. Có nghĩa là, mọi sinh vật trên đời muốn đi qua cái gì đó, thì cái đầu qua trước rồi đuôi mới lọt được. Đầu qua trước, không chỉ là biểu hiện của mô hình cơ thể mà trên đầu còn có mắt để nhìn, có mũi để ngửi, có tai để nghe và có não để dẫn dắt. Tóm lại, đầu là cơ chế của một bộ tham mưu. Nó lọt qua thì cơ thể phía sau mới lọt qua được. Áp dụng vào triết học, các triết gia đều quan niệm, ánh sáng lý tưởng có cao thì đôi chân hiện thực mới có thể toả rộng. Nói đơn giản như chúng ta muốn mở rộng chiếc dù che cho lễ song hỷ, muốn nó xoè rộng thì phải nâng cao đỉnh chóp dù lên. Người Trung Quốc cũng có câu: "Tư duy của người ta thế nào bước chân thế ấy". Người có tầm nhìn xa, tư duy lớn, tự nhiên bước chân sải dài mạch lạc. Người có tư duy luẩn quẩn, tự nhiên bước chân tủn mủn, lặt nhặt. Nói vậy để thấy, những giáo sư, tiến sĩ, học giả, nhà nghiên cứu ... là những ngọn đèn phải tìm cách đặt ở trên cao để toả chiếu cho những thế hệ sau ánh sáng bước đi trên đường tiến bộ. Người đời vẫn nói: "thầy hay thì mới có trò giỏi, trò giỏi thì phải kiếm thầy tài". Cũng có một cách nghĩ tương tự rằng: "thế hệ trước không giỏi thì khó lòng có một thế hệ sau nhảy vọt".

Giới trí thức của chúng ta phải nói, giờ đang đứng trước một vận hội bản lề rất quan trọng của nước nhà cũng như thời đại. Đó là chúng ta đang ở trong cuộc chuyển mình đổi mới giữa những tia nắng ban mai của thiên niên kỷ thứ ba. Vậy thì cũng là lúc chúng ta đáng dành cho mình một cái nhìn định lượng-định phẩm chính mình. Đặc điểm đầu tiên của người trí thức không gì khác hơn là “Học biết chữ sỉ”. Người Trung Quốc nói: “Tri túc bất nhục, tri sỉ bất đãi”. Nghĩa là, có hiểu biết thì không bị nhục, biết đến sự xấu hổ thì không bị ngược đãi. Ngay từ thời cổ đại Hy Lạp, khi môn đạo đức còn manh nha hình thành, các triết gia cũng nói: “Biết xấu hổ là khởi nguồn của mọi đạo hạnh”. Người ta dẫn dụ, ví như một cô gái trẻ mà chẳng hề bẽn lẽn xấu hổ khi thân thể bị lột trần thì khó có thể có ý thức về đạo hạnh. Triết học cũng cho rằng: khi người ta biết tự làm nhục mình trước thì sẽ không bị đời hạ nhục. Chính thế mà chủ nghĩa khắc kỷ, thuật sám hối và nguyên tắc tự phê bình mới xuất hiện. Giờ chúng ta hãy nhìn sơ lược về tầm vóc của giới trí thức nước nhà.

Trước hết với giới sinh viên đại học đã tốt nghiệp, trong vài năm gần đây có hàng vạn cử nhân đã tham gia thi tuyển tay nghề tại các hội chợ chọn việc làm. Tình hình nổi cộm lên là: đa số hoặc gần như hầu hết khô cằn các ý tưởng suy luận, thiếu kiến thức kinh hoàng, có cảm giác như phải “cầm tận tay day tận việc” mà vẫn cứ lớ ngớ. Thứ hai, lâu nay ở nhiều nơi, chúng ta vẫn xì xào thán phục chàng này giỏi lập trình, nàng kia giỏi máy vi tính, đại khái có rất nhiều người Việt có phẩm chất siêu hạnh về vi tính. Vậy mà tại một cuộc hội thảo về viết phần mềm cho vi tính, được phát trên truyền hình, một chuyên gia Nhật Bản là chủ hội thảo đã trịnh trọng nói cách chính thức rằng: trình độ lập trình ở Việt Nam, mới chỉ ở mức lá rung rinh chứ chưa đặt nền móng cho gốc, cho cành.

Giờ xin bàn vào thành tựu đáng kiêu hãnh nhất của chúng ta. Các đoàn học sinh đi thi toán quốc tế giật rất nhiều giải vàng, giải bạc. Thật đáng mở mày mở mặt! Đó là điều chẳng thể nghi ngờ. Nhưng những con đại bàng toán học đó đã bay đến những phương trời nào? Một giáo sư toán học đã thú nhận: chúng ta đi thi toán giật nhiều giải cao, đó mới chỉ là thành tựu của những cuộc khoe khéo, khoe khôn nhưng sau đó những con người ưu tú chỉ nên coi đó là điểm depart (khởi hành) để đi tiếp vào thế giới toán học. Sau các kỳ thi, cho đến tận ngày nay, thật khó kiếm được một học sinh nào theo đuổi con đường toán học lý thuyết, thậm chí ngay với cả các giáo sư. Con em của chúng ta học giỏi, thi giỏi, là những con đại bàng được chắp đôi cánh khoẻ nhưng không thể bay đi, mà để chọn chỗ nào có ghế da hay máy lạnh để đậu xuống. Một con đại bàng không chịu bay khác gì một con bướm nhởn nhơ từ khóm hoa này sang khóm hoa khác! Một tầm vóc còn cao hơn nữa: đó là những sinh viên, cán bộ được cử đi học nước ngoài, rất nhiều người trong số đó đỗ thứ nhất, thứ nhì nhưng khi về nước hỏi còn tìm thấy mấy ai theo đuổi sở học-sở trường của mình, dâng hiến sở trường cũng như kiến thức gặt hái cao nhất cho nước nhà hay hầu hết lại đóng vai quản trị trong hệ thống quản lý trái tay nghề ở một cơ quan nào đó?

Đấy là những hiện tượng bên ngoài. Còn nội dung bên trong, giới trí thức Việt Nam nói riêng và châu Á nói chung yếu điểm nhất là gì? Trong các kỳ hội thảo quốc tế, người ta thường phát cho mỗi đại biểu một phiếu thăm dò ý kiến. Đa số các đại biểu châu Á thường đưa ra những ý kiến lưỡng đôi, đại thể cần phải tiến hành điều hoà tổng thể, trong âm có dương, trong dương có âm. Chính nhà văn Kenzaburo Oe tác giả Nhật Bản đoạt giải Nobel đã nói về nước Nhật như sau: “Chúng ta rất hiếm khi được nghe thấy ý tưởng của một nhà tư tưởng hay một học giả (người Nhật)”(Bài của David Remmick, New Yorker 2/95). Ở Trung Quốc, nhiều nhà nghiên cứu cũng đưa ra ý kiến tương tự. Tại sao có tình trạng đó? Vì ở châu Á nói chung còn mang nặng lối học để làm quan thời phong kiến, các học giả thường đưa ra ý kiến chung chung ba phải, làm sao tiến cũng tiện mà thoái cũng hay.

Sức mạnh của người có học thật phi phàm, như người Trung Quốc ví: “Ngồi trong màn trướng biết việc ở ngoai ngàn dặm.” Tại sao? Vì người có học nắm được nguyên lý của vạn vật, tuy không trông thấy nhưng người ta biết chắc con suối sẽ chảy thành sông, dòng sông sẽ đổ ra biển và nước sẽ bốc hơi hoá mây để mưa về nguồn. Người Trung Quốc nói: “Nhân bất học bất tri lý” là thế! Trở lại thời cổ đại, triết gia Aristote xác nhận rằng: "không thể là lý trí nếu không biết phân biệt". Người ta chỉ có thể sắp đặt mọi vật, cái cao thì ở trên cao, cái thấp thì ở dưới thấp, như cái đèn phải đặt trên cái đế, mũ đội trên đầu, dép đi dưới chân, cái bàn đặt trong nhà, cái chum đặt ngoài sân... sau khi biết phân biệt thì mới có thể đặt mọi vật vào thứ tự. Aristote cho rằng: người nào không có khả năng sắp đặt theo trật tự thì sẽ là kẻ mất trí hay dở điên dở dại. Xét rộng ra tầm vóc một thành bang cũng vậy, ngăn nắp, trật tự, hợp lý chính là tiêu chuẩn tiến bộ của một thành bang. Sau khi biết đến trật tự, tự nhiên người ta biết sắp cái này vào chỗ, cái kia thì loại ra, giống người thợ xây vớ phải một hòn gạch không đúng kích thước xây tường sẽ loại bỏ liền. Như vậy, anh ta đã phán xét và lựa chọn.

Cùng một cách nghĩ như thế, triết gia Kant cho rằng: "cái gì không phải là phán đoán thì không phải là tri thức". Theo ông, có nghĩa, người trí thức không phải đi học để chất hết bồ chữ này đến bồ chữ khác, nếu chữ nghĩa đó không đào luyện cho người ta khả năng phán đoán thì cũng chỉ là những ngăn kéo chất đầy sách mà thôi! Đến lượt triết gia Bergson, ông nói một cách không khoan nhượng: “Ý thức đồng nghĩa với lựa chọn” (conscience est synonyme de choix). Theo đó, cuộc sống của chúng ta luôn luôn sống trong những hình thái lựa chọn, từ việc đi chợ mua chiếc áo này hay chiếc áo kia, đến việc kết bạn với người này mà không phải người kia.

Xin được đưa ra vài dẫn chứng điển hình. Một lần tôi ngồi với một anh chàng, anh khoe mình là người có tư duy khoa học vì đã học khoa chuyên toán của một trường đại học. Khi tranh luận, tôi hỏi anh: "theo anh nếu A=B, thì (tập hợp của A) = (tập hợp của B)? Anh liền nói: "nhưng = là gì kia chứ?". Câu hỏi thật không đúng trình độ. Vì = là gì? Đó là vấn đề được giải quyết ngay khi chúng ta cắp sách đến trường học phép toán đầu tiên thời lớp một. Các chuyên gia xã hội làm thí nghiệm thì thấy: ngay những đứa trẻ nhỏ mới biết đi, nếu người ta chia cho chúng số kẹo không đều nhau, chúng sẽ cãi nhau hoặc không thèm chơi cùng nhau nữa. Như vậy “bằng” hoặc “lớn hơn” hay “nhỏ hơn” là một trực quan bản năng. Nó còn có trước cả khi cắp sách đến trường. Bản năng này còn xuất hiện ngay cả trong các con vật khi giành mồi lẫn nhau. Vậy thì một người khoe mình xuất sắc về toán học lại đặt câu hỏi “bằng là gì?” nghe có buồn cười không?

Một lần khác, ngồi cạch một nhà thơ trẻ, tôi nói: "Truyền thống dân tộc ăn sâu vào mỗi người như máu thịt.” Anh ta liền hỏi: “Máu thịt là gì?” Tôi bèn trả lời: “Máu thịt là trực cảm nguyên thuỷ sờ thấy, nhìn thấy, không nên hỏi, đó là gì!

Một lần khác khi trao đổi với một vị tiến sĩ thời “hậu mậu dịch”, tôi hỏi: “Nếu có một người đem tặng anh một cân sô-cô-la và một cân mắm tôm, anh sẽ lấy cái nào?” Anh ta trả lời: “Tôi sẽ lấy cả hai, vì mắm tôm để ăn cơm, còn sô-cô-la để tráng miệng!”

Triết gia Aristote cho rằng, bản chất của ý thức khác hẳn thân xác ở chỗ, ý thức có quyền chấp nhận cũng như khước từ. Phép thử chỉ số thông minh IQ (Intelligent Questions) của thế giới hiện nay cũng dựa trên đặc tính này của ý thức, đưa ra câu hỏi để chứng nghiệm "Yes or No?" (“Có hay Không”?). Một chiếc máy bay dù hiện đại thế nào không thể cùng lúc bay về hai hướng, mà phải bay tuần tự đến phía Nam rồi mới quay về phương Bắc. Một cuộc đối thoại trí tuệ cũng sẽ không thể vận hành khi cùng lúc người ta chọn tất cả. Chọn tất cả cũng có nghĩa là không lựa chọn gì cả.

Người Việt vẫn nói chọc cách đáng yêu với lối học đòi làm quan, đòi sung sướng rằng: “Học chọc bát cơm, đơm miếng cháy, nháy miếng thịt.” Đó là cái học để đem ứng xử, sao cho mình là cấp dưới không làm mếch lòng cấp trên, vì vậy không dám đưa ra ý tưởng của mình. Thêm nữa, học để làm quan cũng làm cho người ta quên đi niềm hạnh phúc tri thức tự thân, như triết gia Platon nói: “ Trong suy tưởng người ta sống cuộc đời của những thánh thần.”

Một nền giáo dục cũng như một nền tri thức chỉ mạnh khi nó có được hạ tầng và thượng tầng là kiến thức cho chính sự say mê cũng như giá trị của mình. Nó sẽ rất yếu nếu người trí thức chỉ chăm chắm “qui ra thóc”, đòi đổi chữ lấy tiền hay ghế. Giờ đây, thử hỏi có bao nhiêu vị tiến sĩ có khả năng viết nổi một bài tiểu luận? Đó vừa là phép thử vừa là thách thức để mỗi người trí thức tập dượt, việc đầu tiên là biết đưa ra ý tưởng của mình. Kẻo lại trở thành những ngăn kéo mốc đầy chữ.

Nguyễn Hoàng Đức

 

(MKLAW FIRM: Bài viết được đăng tải nhằm mục đích giáo dục, phổ biến, tuyên truyền pháp luật và chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước không nhằm mục đích thương mại. Thông tin nêu trên chỉ có giá trị tham khảo và có thể một số thông tin pháp lý đã hết hiệu lực tại thời điểm  hiện tại vì vậy Quý khách khi đọc thông tin này cần tham khảo ý kiến luật sư, chuyên gia tư vấn trước khi áp dụng vào thực tế.)