Nhấn mạnh hơn tới ý nghĩa pháp lý của hợp đồng, có tác giả định nghĩa hợp đồng là sự thống nhất ý chí nhằm xác lập các nghĩa vụ hay chuyển giao các quyền sản nghiệp (như các quyền đối vật, quyền đối nhân hay quyền sở hữu trí tuệ hay các quyền vô hình khác) từ người này sang người khác2. Có lẽ vì thế, các luật gia trước hết phải có những tri thức căn bản và hệ thống về luật hợp đồng. Các thương nhân, cũng như các nhà kinh tế học cũng cần phải có tri thức về hợp đồng ở mức độ nhất định, bởi “hợp đồng là một bộ phận cấu thành của nền kinh tế thị trường”3. Nhưng trước hết cần phải hiểu hạt nhân quan trọng nhất của hợp đồng là sự ưng thuận.

1. Khái niệm về yếu tố ưng thuận của hợp đồng

Bởi hợp đồng từ thời La Mã cổ đại đã được xem là sự đồng thuận hay hiệp ý (consensus)4, cho nên sự ưng thuận của các bên kết ước bao giờ cũng được cho là điều kiện hay thành tố đầu tiên của hợp đồng. Reinhard Zimmermann xác nhận rằng, trong luật hợp đồng hiện đại, ưng thuận là khái niệm hạt nhân5. Khác hơn, Bộ luật Dân sự 2005 của Việt Nam coi năng lực giao kết hợp đồng là yếu tố đầu tiên để áp đặt điều kiện có hiệu lực của hợp đồng, còn yếu tố tự nguyện được xếp ở hàng thứ ba. Trong một chừng mực nhất định có thể nói, năng lực giao kết hợp đồng là một bộ phận hay một phần không thể không xem xét đến của thành tố ưng thuận. Có lẽ vì thế mà Bộ luật Dân sự Tây Ban Nha không đề cập tới năng lực giao kết hợp đồng trong khi nói tới các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng, mà chỉ nói tới nó khi phân tích điều kiện ưng thuận – một điều kiện có hiệu lực đầu tiên của hợp đồng theo Bộ luật này.

>> Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi:  1900 6162

Học thuyết tự do ý chí – cơ sở triết học của hợp đồng, có một hạt nhân lý luận hợp lẽ là con người chỉ bị ràng buộc bởi ý chí của chính mình. Hợp đồng tạo ra sự ràng buộc. Nên ý chí ràng buộc hay sự ưng thuận ràng buộc phải là yếu tố khởi đầu có tính chất nền tảng cho việc xem xét tới hợp đồng. Ngày nay dường như bất kỳ nước nào xuất phát từ truyền thống pháp luật nào cũng nhìn nhận một cách thích đáng tới yếu tố ưng thuận của hợp đồng. Chẳng hạn Bộ luật Dân sự của Cộng hoà Hồi giáo Iran tuyên bố tại Điều 191 rằng: “Hợp đồng chỉ trở nên toàn vẹn bởi ý chí thực của người kết ước, và ý chí thật này nhất thiết phải được gắn liền với một số yếu tố chứng minh có ý chí như vậy”. Tuyên bố này đã kéo theo một quy chế pháp lý tương ứng cho hợp đồng.

Ưng thuận và tự nguyện là các khái niệm sát nghĩa nhau hay hai khái niệm chị em diễn đạt sự hiểu biết và sự tự do6. Ưng thuận có bản chất là một trạng thái tâm lý hay sự mong ước bên trong của chủ thể. Nhưng luật hợp đồng thường quan tâm tới sự phù hợp giữa ưng thuận và sự biểu lộ ra bên ngoài của nó. Các luật gia Việt Nam luôn có ý tưởng thống nhất giữa ý chí và sự thể hiện. Họ cho rằng, mong muốn chủ quan của con người có nội dung được xác định bởi các nhu cầu về sản xuất, tiêu dùng của bản thân, và phải được thể hiện ra bên ngoài dưới một hình thức nhất định để người khác biết. Theo họ, giao dịch phải là sự thống nhất giữa ý chí và sự thể hiện, và nếu thiếu đi sự thống nhất này thì có thể vô hiệu7.

Brian H. Bix phân tích, trong lĩnh vực hợp đồng, ưng thuận có hai thành tố chủ yếu. Đó là sự hiểu biết và sự lựa chọn hợp lý8. Hai thành tố này cần được đánh giá khi xem xét sự ưng thuận về một hậu quả pháp lý nhất định. Một số luật gia Nhật Bản xuất phát từ khoa học tâm lý đi tới nhận định, ý chí được biểu lộ ra bên ngoài cần phải được xem xét ở ba thành tố: thứ nhất, mong muốn tạo lập một hậu quả nhất định; thứ hai, mong muốn biểu lộ liên quan tới hậu quả đó; vàthứ ba, quá trình biểu lộ sự mong muốn đó9. Các phân tích này cho chúng ta một gợi ý về cách thức tìm ra sự hữu hiệu của việc biểu lộ ý chí. Muốn xem xét đến việc biểu lộ ý chí hữu hiệu cần phải trả lời ba câu hỏi: Đương sự có mong muốn tạo lập ra một hậu quả pháp lý cụ thể không? Mong muốn đó được biểu lộ ra bên ngoài như thế nào? Và quy trình biểu lộ sự mong muốn đó ra làm sao? Việc trả lời được ba câu hỏi này cùng với sự đối chiếu với các quy định pháp luật kiểm soát yếu tố ưng thuận là tiền đề cho việc nhận định sự biểu lộ ý chí đó có đem lại hậu quả pháp lý hay không trong thực tế.

Người ưng thuận trước hết phải có sự hiểu biết hay các thông tin về bản chất và đối tượng của hợp đồng, có thể cùng với các điều kiện khác, và có quyền lựa chọn ít nhất là có hay không giao kết hợp đồng. Hơn nữa, sự ưng thuận có những điều kiện riêng để trở nên hữu hiệu. Ưng thuận phải thực sự muốn hướng tới một hậu quả pháp lý nhất định và không có tì ố hay khiếm khuyết. Tuy nhiên, việc xác định các tì ố hay khiếm khuyết này cũng có sự khác biệt nhất định trong các nền tài phán khác nhau.

Về nguyên tắc, ưng thuận có tì ố hay khiếm khuyết coi như chưa có ưng thuận và phải gánh chịu chế tài huỷ bỏ hợp đồng xuất phát từ nguyên tắc tự do ý chí. Đối với nguyên tắc này, Bộ luật Dân sự Pháp đã có một quy định có tính cách tổng quát là “Sự thoả thuận không có giá trị nếu đạt được do bị nhầm lẫn, bị bạo lực, bị lừa dối” (Điều 1109). Tuy nhiên, vì không muốn cho thẩm phán những quyền quá rộng rãi trong việc huỷ bỏ hợp đồng gây ảnh hưởng tới sự ổn định của các hợp ước giữa các tư nhân, nên nhà làm luật có thể đã điều giảm việc sử dụng chế tài như vậy trong các trường hợp này10. Ở đây ta lại thấy việc giới hạn tự do ý chí cho mục đích làm bình ổn các quan hệ xã hội. Sự xung đột của hai tư tưởng này có lẽ khiến luật hợp đồng tìm ra giải pháp trung dung cho phép toà án trong một thời hiệu nhất định tuyên hợp đồng vô hiệu bởi sự ưng thuận có tì ố khi được đương sự yêu cầu, vì xét cho cùng các tì ố hay khiếm khuyết đó có thể được khắc phục bởi sự xác nhận lại hoặc không đếm xỉa tới bởi các bên.

2. Các tì ố hay khiếm khuyết của sự ưng thuận

2.1. Nhầm lẫn

Sự nhận thức hay đánh giá sai của đương sự về thực tế liên quan tới các yếu tố của hợp đồng có thể là nguyên nhân dẫn tới việc huỷ bỏ hợp đồng. Các luật gia thuộc Common Law coi nhầm lẫn là sự nhận thức không đúng của một hoặc nhiều bên của hợp đồng và có thể được sử dụng làm căn cứ để vô hiệu hoá hợp đồng11. Dân luật Pháp có quan niệm không quá phức tạp về nhầm lẫn. Chẳng hạn nhầm lẫn được xem là trường hợp chủ thể đánh giá sai về thực tế khách quan trong giao kết hợp đồng, tuy nhiên không phải tình huống nào cũng dẫn tới việc huỷ bỏ hợp đồng12. Trong khi đó ở Việt Nam hiện nay có nhận thức khác đôi chút về nhầm lẫn. Giáo trình của Trường Đại học Luật Hà Nội cho rằng:

“Nhầm lẫn là việc các bên hình dung sai về nội dung của giao dịch mà tham gia vào giao dịch gây thiệt hại cho mình hoặc cho bên kia. Sự nhầm lẫn xuất phát từ nhận thức của các bên hoặc phán đoán sai lầm về đối tượng sự việc, sự nhầm lẫn phải được thể hiện rõ ràng mà căn cứ vào nội dung của giao dịch phải xác định được. Nếu bên bị nhầm lẫn chứng minh được sự nhầm lẫn của mình thì giao dịch có thể bị tuyên bố vô hiệu”13.

Đoạn văn này thể hiện phạm vi của nhầm lẫn (đó là nội dung của giao dịch, và thêm vào đối tượng sự việc), thể hiện điều kiện của nhầm lẫn (đó là phải gây thiệt hại cho một trong các bên, phải được thể hiện rõ ràng, và phải xác định được căn cứ vào nội dung của giao dịch), thể hiện nghĩa vụ chứng minh nhầm lẫn thuộc về bên bị nhầm lẫn, và thể hiện hiệu lực của nhầm lẫn là hợp đồng bị vô hiệu. Quan niệm như thế có lẽ xuất phát từ cách hiểu một số quy định của Bộ luật Dân sự 2005 có nội dung như sau:

“Điều 131. Giao dịch dân sự vô hiệu do bị nhầm lẫn

Khi một bên có lỗi vô ý làm cho bên kia bị nhầm lẫn về nội dung của giao dịch dân sự mà xác lập giao dịch thì bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu bên kia thay đổi nội dung của giao dịch đó, nếu bên kia không chấp nhận thì bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch vô hiệu.

Trong trường hợp một bên do lỗi cố ý làm cho bên kia nhầm lẫn về nội dung của giao dịch thì được giải quyết theo quy định tại Điều 132 của Bộ luật này”.

(Lưu ý: Điều 132, Bộ luật Dân sự 2005 nói về giao dịch dân sự vô hiệu do bị lừa dối, đe doạ).

Nếu xuất phát từ điều luật này mà Trường Đại học Luật Hà Nội đã đưa ra các thông tin như đã nói ở trên thì quả thật không thích hợp vì cần phải hiểu, Bộ luật Dân sự 2005 đã không định nghĩa yếu tố nhầm lẫn, không phân loại yếu tố này, mà có lẽ chỉ xác định một trường hợp nhầm lẫn dẫn tới huỷ bỏ hợp đồng – đó là trường hợp một bên nhầm lẫn về nội dung của giao dịch do lỗi vô ý của bên kia. Tuy nhiên, trường hợp vô hiệu hoá này có hoàn toàn thoả đáng hay không thì còn phải nghiên cứu. Và trước hết cần làm rõ: (1) nhầm lẫn về nội dung của giao dịch có nghĩa là gì, được hiểu trong phạm vi nào bởi bản thân thuật ngữ nội dung của giao dịch có nhiều nghĩa rộng hẹp khác nhau; và (2) điều kiện của sự nhầm lẫn đó. Nhưng cần phải nói ở đây là các quan điểm trên của Trường Đại học Luật Hà Nội và Bộ luật Dân sự 2005 có dáng dấp của một số thông tin được đưa ra trong cuốn sách “Bình luận khoa học Bộ luật Dân sự Nhật Bản”. Những người viết cuốn sách này cho rằng khoa học pháp lý đưa ra các loại nhầm lẫn là nhầm lẫn trong sự thể hiện, nhầm lẫn về nội dung, và nhầm lẫn về động cơ. Và họ nói: “Nhầm lẫn về các nội dung chủ yếu của giao dịch pháp lý dẫn đến tính vô hiệu của sự thể hiện ý chí”14.

Hiểu rằng không phải bất kể sự nhầm lẫn nào cũng dẫn tới việc huỷ bỏ hợp đồng. Common Law có một quy tắc chung liên quan tới nhầm lẫn là một người bị ràng buộc bởi hợp đồng mà trong đó có yếu tố nhầm lẫn, trừ khi người đó có thể chứng minh được rằng sự nhầm lẫn đó thuộc một trong các loại nhầm lẫn mà hợp đồng có thể bị tiêu huỷ15. Bộ luật Dân sự 1972 (của miền Nam trước kia) xuất phát từ việc phân loại nhầm lẫn để xác định các hậu quả pháp lý đối với chúng trong các quy định sau:

“Sự lầm lẫn chỉ là một nguyên nhân làm cho khế ước vô hiệu, nếu là lầm lẫn về thực chất của sở vật hay về một đặc tính cốt yếu cho sự cam kết.

Sự lầm lẫn về cá nhân người cộng ước không làm cho khế ước vô hiệu, trừ phi cá nhân của người ấy là yếu tố chính cho sự cam kết” (Điều thứ 662).

Bởi vậy, phân loại nhầm lẫn là việc phải làm trước tiên trong việc nghiên cứu về nhầm lẫn.

Luật La Mã thường nhắc tới năm loại nhầm lẫn là: Nhầm lẫn về đối tượng (error in corpore); nhầm lẫn về giá cả (error in pretio), nhầm lẫn về bản chất pháp lý của hợp đồng (error in negotio), nhầm lẫn về người (error in persona), và nhầm lẫn về bản chất của đồ vật (error in substantia)16. Nhầm lẫn về bản chất pháp lý của hợp đồng là nhầm lẫn giữa hai loại hợp đồng có bản chất pháp lý khác nhau (chẳng hạn hợp đồng tặng cho và hợp đồng gửi giữ). Đây là tình huống mà các bên không có sự thoả thuận về bản chất của hợp đồng17. Nhầm lẫn về đối tượng của hợp đồng là nhầm lẫn sự vật làm đối tượng của hợp đồng. Nhầm lẫn về bản chất của đồ vật là nhầm lẫn về thực chất của đồ vật (chẳng hạn như tưởng đồ vật được làm bằng bạc, nhưng thực tế bằng kẽm). Trong dân luật Pháp, thông thường người ta nhắc tới nhầm lẫn về bản chất của đồ vật, nhầm lẫn về chủ thể, nhầm lẫn về bản chất của hợp đồng, và nhầm lẫn về đối tượng của hợp đồng18. Các nhầm lẫn được phân loại này cũng ảnh hưởng tới dân luật Việt Nam dưới các chế độ cũ. Nhưng khi tái cơ cấu lại cách thức phân loại để kiểm soát các hợp đồng, Bộ luật Dân sự Bắc Kỳ 1931 và Bộ luật Dân sự Trung Kỳ 1936 đã chia nhầm lẫn thành hai loại là: (1) nhầm lẫn cản trở (bao gồm nhầm lẫn về bản chất của hợp đồng, nhầm lẫn về đối tượng của hợp đồng, nhầm lẫn về người đối ước, và nhầm lẫn về nguyên nhân của hợp đồng), có nghĩa là nhầm lẫn ngăn cản sự thoả thuận của những người kết ước; và (2) nhầm lẫn hà tì, có nghĩa là nhầm lẫn không ngăn cản sự thoả thuận, nhưng cho phép người kết ước xin tiêu huỷ hợp đồng, tuy nhiên không phải trong mọi trường hợp19. Ở đây cần lưu ý, các nhầm lẫn về đối tượng, về người, về bản chất của hợp đồng và về bản chất của đồ vật được xem là các nhầm lẫn liên quan tới nội dung của hợp đồng, còn nhầm lẫn về nguyên nhân (error in motive) ngược lại và, theo một cách thức tiếp cận, trong chừng mực nào đó không được xem là liên quan tới nội dung của hợp đồng20.

Common Law luôn nhấn mạnh tới sự phân biệt ba loại nhầm lẫn là nhầm lẫn đơn phương (unilateral mistake), nhầm lẫn đối với nhau (mutual mistake), và nhầm lẫn chung (common mistake)21.

Nhầm lẫn là một loại tì ố phức tạp thường gặp và gây khó khăn trong việc xác định và áp dụng chế tài. Do đó, người ta thường xác định phạm vi, điều kiện và hiệu lực của nhầm lẫn.

Trong đời sống thực tiễn có sự nại ra nhầm lẫn về pháp luật, nhất là trong giao lưu quốc tế. Ở cả common lawequity theo truyền thống pháp luật Anh khi phân loại nhầm lẫn thành nhầm lẫn về sự kiện (mistake of fact) và nhầm lẫn về luật (mistake of law), thì chỉ có nhầm lẫn về sự kiện là có hiệu lực, còn nhầm lẫn về luật không có hiệu lực bởi thi hành nguyên tắc ignorantia juris haud excusat22 (không ai được xem là không biết luật), trừ hai trường hợp được xem như các sự kiện mà phải chứng minh trước toà án là: (1) khi một bên không được cho là biết pháp luật nước ngoài; và (2) khi một bên không được cho là biết các quyền tư thậm chí chúng là các quyền có tính pháp lý23. Các nguyên tắc của Unidroit về hợp đồng thương mại quốc tế 2004 cho rằng: “Nhầm lẫn là một nhận thức nhầm liên quan tới các sự kiện hoặc pháp luật đang tồn tại khi hợp đồng được giao kết” (Điều 3.4). Đối với hai loại nhầm lẫn như định nghĩa tại điều này, Unidroit chủ trương đưa ra một giải pháp pháp lý giống nhau cho chúng bởi xuất phát từ suy tính rằng: các hệ thống pháp luật hiện đại ngày càng phức tạp gây khó khăn lớn cho thương mại quốc tế, nên định hướng là: sự nhầm lẫn về tình tiết của hợp đồng hoặc về pháp luật dẫn tới việc hình dung sai về tương lai của hợp đồng thì các quy định về nhầm lẫn được áp dụng24.

Nhầm lẫn về người là một tì ố của sự ưng thuận theo quan niệm của Luật La Mã có nghĩa giao kết hợp đồng với người này lại tưởng giao kết với người khác, và được xem là một nguyên nhân làm cho hợp đồng vô hiệu, vì thiếu sự ưng thuận25. Trong đời sống hiện đại, những người giao kết hợp đồng không phải là đều quan tâm tới việc họ giao kết hợp đồng với ai, và có thể họ vì lợi ích của mình không yêu cầu tuyên vô hiệu hợp đồng khi nhầm lẫn về người. Vì thế đã có những cố gắng giới hạn bớt phạm vi hiệu lực của nhầm lẫn về người trong ngay cả các trường hợp đặc điểm cá nhân của người đối ước là một yếu tố chủ yếu để bên nhầm lẫn giao kết hợp đồng hay sự cân nhắc về người là một thành tố của sự thoả thuận bằng cách buộc người nại ra sự nhầm lẫn về người phải chứng minh rằng mình không mong muốn giao kết hợp đồng với bất kỳ ai khác với cùng các điều kiện như vậy26. Bộ luật Dân sự Pháp tại Điều 1110, đoạn 2 có các giới hạn đối với hiệu lực của nhầm lẫn rằng: “Sự nhầm lẫn không thể là căn cứ làm cho hợp đồng vô hiệu nếu là nhầm lẫn về người mà mình có ý định giao kết, trừ phi việc xem xét nhân thân người đó là căn cứ chính của việc giao kết hợp đồng”. Các giải thích về điều luật này và án lệ của Pháp cho thấy có những loại hợp đồng có thể bị vô hiệu bởi nhầm lẫn về người như: hợp đồng không có đền bù, và hợp đồng uỷ quyền có thù lao, hợp đồng lao động, hợp đồng bán hàng trả chậm27… Các Bộ luật Dân sự cũ của Việt Nam cũng theo khuynh hướng này. Nhầm lẫn về người cũng có những liên quan tới thành lập công ty hợp danh. Trong dạng công ty đối nhân này, cá nhân thành viên là yếu tố quan trọng, cho nên sự ưng thuận bị tì ố bởi nhầm lẫn về người sẽ làm cho công ty vô hiệu28.

Nhầm lẫn về bản chất của đồ vật đã được án lệ của Pháp và dân luật của Việt Nam trước kia quan niệm khá rộng rãi, không nhất thiết liên quan tới thực chất của đồ vật. Vũ Văn Mẫu tóm tắt ba phạm vi của nhầm lẫn đưa ra xem xét huỷ bỏ hợp đồng được quy định trong Bộ luật Dân sự Bắc Kỳ và Bộ luật Dân sự Trung Kỳ như sau: (1) Các nhầm lẫn về thực chất của đồ vật hiểu theo nghĩa hẹp hay nghĩa cụ thể của danh từ này; (2) Những nhầm lẫn không liên hệ tới thực chất của đồ vật nhưng được các đương sự ghi rõ là chủ yếu trong hợp đồng; và (3) Các nhầm lẫn có tính cách chủ yếu vì hiển nhiên như vậy, có nghĩa là một tính chất mà thường lệ một đồ vật phải có theo xét đoán chung hoặc lợi ích mà các bên của hợp đồng mong đợi ở đồ vật 29. Bộ luật Dân sự Bắc Kỳ có nội dung liên quan tới các lý giải này như sau:

“Nếu nhận lầm về vật mà lầm về tính cốt – yếu của vật ấy, người lập – ước tưởng rằng có thật mà vì tưởng thế mới quyết – định hoặc là đoan hay hứa, hoặc là bán hay mua vật đó, thời hiệp ước chỉ có thể bác và xin thủ – tiêu được mà thôi.

Nếu không có chứng – cớ nào trái lại, thời những tính thuộc về bản – thể vật coi như trong ý người lập – ước đã cho là tính cốt – yếu.

Trái lại, những tính không thuộc về bản – thể vật, thì khi nào ý người lập – ước đã định lấy làm cốt – yếu hay là khi có một tình – trạng hiển – nhiên như thế, thì mới cho là tính cốt – yếu mà thôi” (Điều thứ 658).

Nội dung của điều luật này cũng được nhắc lại nguyên văn tại Điều thứ 694 của Bộ luật Dân sự Trung Kỳ. Như vậy, phạm vi của nhầm lẫn đã được các Bộ luật Dân sự cũ của Việt Nam xác định tương đối cụ thể trong một chừng mực nhất định.

Điều kiện và hiệu lực của nhầm lẫn được Các nguyên tắc của Unidroit về hợp đồng thương mại quốc tế 1994 và 2004 đều xác định:

“(1) Một bên có thể chỉ huỷ bỏ hợp đồng bởi nhầm lẫn, nếu, khi hợp đồng được giao kết, sự nhầm lẫn quan trọng tới mức mà một người bình thường trong hoàn cảnh tương tự như bên nhầm lẫn nhẽ ra chỉ giao kết hợp đồng với những điều kiện khác cơ bản hoặc nhẽ ra không giao kết hợp đồng nếu biết tình trạng thật của vấn đề, và

(a) bên kia đã có nhầm lẫn tương tự, hoặc đã gây ra nhầm lẫn, hoặc đã biết hoặc nhẽ ra phải biết về nhầm lẫn và đi ngược lại với các chuẩn mực thương mại hợp lý về sự ngay thẳng để mặc cho bên nhầm lẫn mắc phải sai lầm; hoặc

(b) bên kia tại thời điểm huỷ bỏ hợp đồng đã không hành động một cách hợp lý dựa trên hợp đồng.

(2) Tuy nhiên, một bên không thể huỷ bỏ hợp đồng nếu:

(a) có lỗi vô ý nghiêm trọng trong việc mắc phải nhầm lẫn; hoặc

(b) nhầm lẫn liên quan tới một sự kin mà với nó rủi ro nhầm lẫn do bên nhầm lẫn gánh chịu, hoặc liên hệ tới hoàn cảnh, bên nhầm lẫn nên gánh chịu” (Điều 3.5).

Điều luật này đã xây dựng các điều kiện của nhầm lẫn dẫn tới hậu quả huỷ hợp đồng dựa trên tính chất và mức độ của sự nhầm lẫn, và các yếu tố liên quan tới các bên trong sự thoả thuận.

Nhầm lẫn là một sự kiện pháp lý nên có thể chứng minh bằng mọi phương cách, kể cả sự suy đoán30. Nghĩa vụ chứng minh thuộc về bên nại ra sự nhầm lẫn.

Liên quan tới phạm vi, điều kiện và hiệu lực của nhầm lẫn cần lưu ý tới cách phân loại nhầm lẫn dựa trên tiêu chí một hay nhiều bên tham dự vào sự nhầm lẫn:

(1) Nhầm lẫn đơn phương (unilateral mistake) là khi một bên bị nhầm lẫn, và bên khác biết sự nhầm lẫn đó (chẳng hạn khi A bán cho B một bức tranh mà B tin tưởng một cách nhầm lẫn rằng bức tranh đó là tranh Bùi Xuân Phái; A biết bức tranh đó không phải là tranh Bùi Xuân Phái, và cũng biết B nhầm lẫn).

(2) Nhầm lẫn đối với nhau (mutual mistake) là khi các bên đều hiểu lầm (chẳng hạn A có hai chiếc xe Ford và Fiat, A giao kèo bán cho B một chiếc, mà A muốn bán Fiat, còn B nghĩ mua Ford).

(3) Nhầm lẫn chung (common mistake) là khi cả hai bên của hợp đồng có cùng một nhầm lẫn (chẳng hạn A bán cho B một bức tranh mà cả hai bên đều tin tưởng nhầm rằng đó là tranh của Bùi Xuân Phái). Cần lưu ý: Trong dạng nhầm lẫn này các bên đã đạt được sự thoả thuận, nhưng trên căn bản nhầm lẫn; ngược lại, trong nhầm lẫn đơn phương và nhầm lẫn đối với nhau, không có sự thoả thuận nào cả31.

Qua các khảo sát trên, có thể Bộ luật Dân sự 2005 và các đạo luật khác của Việt Nam hiện nay không chuyển tải đầy đủ các vấn đề liên quan tới nhầm lẫn. Điều 131 của Bộ luật Dân sự 2005 dường như chỉ quan tâm tới nguyên tắc thiện chí, trung thực trong khi nói về nhầm lẫn nhằm tới sự bình ổn của các quan hệ hợp đồng, mà không chú ý thích đáng tới tự do ý chí. Cần thấy rằng, văn bản pháp luật không nên bó cứng việc xem xét tì ố nhầm lẫn, mà nên dành một khoảng nhất định cho việc giải thích tư pháp đối với từng trường hợp cụ thể, và nên cân nhắc thận trọng giữa quyền của tư nhân trong tự do ý chí và lợi ích cộng đồng trong việc bình ổn các quan hệ hợp đồng.

2. 2. Lừa dối

Trong giao kết hợp đồng, lừa dối nhiều khi được xem như nhầm lẫn của một bên do bị bên kia hoặc người thứ ba cố ý gây nên. Vậy nên Bộ luật Dân sự 2005 quy định: “Lừa dối trong giao dịch là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch dân sự nên đã xác lập giao dịch đó” (Điều 132, đoạn 2). Quy định này cho thấy, trong sự đối chiếu với Điều 131 của Bộ luật Dân sự 2005, phạm vi được xác định rộng hơn bao gồm cả sự nhầm lẫn của một bên về chủ thể, đối tượng và nội dung của hợp đồng do bên kia cố ý gây nên. Giải thích cho vấn đề này, từ trước kia Vũ Văn Mẫu giải thích: đối với lừa dối vì là một sự nhầm lẫn do đối phương gây nên, do đó nhà làm luật chấp nhận tì ố này một cách không hạn chế bởi cần bảo vệ ý chí của người bị người khác lừa hơn là ý chí của người tự làm mình nhầm lẫn1. Các quy định vừa dẫn tại Điều 132, Bộ luật Dân sự 2005 có sự khác biệt về quan niệm lừa dối so với các quy định của Bộ luật Dân sự Pháp và của các Bộ luật Dân sự Việt Nam ở các chế độ cũ. Bộ luật Dân sự Pháp quy định:

“Sự lừa dối là căn cứ làm cho hợp đồng vô hiệu khi các thủ đoạn do một bên đã thực hiện mà nếu không có các thủ đoạn đó thì bên kia đã không ký kết hợp đồng.

Sự lừa dối không được suy đoán mà phải được chứng minh” (Điều 1116).

Quan niệm như vậy, Bộ luật Dân sự Bắc Kỳ qui định: “Khi nào có một bên lập mưu đánh lừa bên kia, đến nỗi giá không có mưu đó bên kia không giao – ước, thì sự đánh lừa đó là một duyên – cớ làm cho hiệp – ước vô – hiệu” (Điều thứ 659). Các quy định này được nhắc lại nguyên văn tại Điều thứ 695, Bộ luật Dân sự Trung Kỳ. Nhưng Bộ luật Dân sự 1972 được diễn giải lại với nội dung tương tự như sau: “Sự gian trá chỉ là một nguyên nhân là cho khế ước vô hiệu nếu những mưu gian, chước dối của một bên là nguyên nhân chính đã thúc đẩy bên khi kết ước” (Điều thứ 668).

 

Như vậy có thể thấy, khác với các quy định của Bộ luật Dân sự 2005, các quy định của Bộ luật Dân sự Pháp và của các Bộ luật Dân sự Việt Nam dưới các chế độ cũ đã không xác định phạm vi của lừa dối và thu hẹp điều kiện liên quan tới người trong việc xác định lừa dối. Lý do của việc mở rộng phạm vi của lừa dối đã được diễn giải ở trên. Nhưng nguyên nhân của việc thu hẹp các điều kiện của lừa dối có thể tìm thấy trong gợi ý của Vũ Tam Tư. Ông cho rằng, Luật La Mã coi tố quyền về sự lừa dối là một tố quyền phụ, chỉ có thể hành xử khi sự lừa dối xuất phát từ người đối ước, chứ không do một người thứ ba, và các quan niệm này đã được Bộ luật Dân sự Pháp kế thừa2.

Common Law có khái niệm “biểu lộ sai sự thật” (misrepresentation) được hiểu là một khái niệm của luật hợp đồng diễn đạt sự tuyên bố sai về thực tế được một bên đưa tới bên kia mà khiến bên kia giao kết hợp đồng3. Biểu lộ sai sự thật có tố quyền được chia thành ba loại là: (1) Biểu lộ sai sự thật không gian trá (innocent misrepresentation or nonfraudulent misrepresentation); (2) biểu lộ sai sự thật do vô ý nghiêm trọng (negligent misrepresentation); và (3) biểu lộ sai sự thật do gian trá (fraudulent misrepresentation)4.

Các điều kiện của lừa dối đã được Bộ luật Dân sự Pháp, và các Bộ luật Dân sự Việt Nam dưới các chế độ cũ, cũng như Bộ luật Dân sự 2005 xác định liên quan đến người lừa dối, người bị lừa dối và tính chất của sự lừa dối. Bộ luật Dân sự Pháp và các Bộ luật Dân sự Việt Nam dưới các chế độ cũ dường như không xem xét tới việc lừa dối được thực hiện bởi người thứ ba. Có thể nhà làm luật cho rằng việc lừa dối do người thứ ba thực hiện không phải là căn cứ làm hợp đồng vô hiệu, mà chỉ là căn cứ yêu cầu người thứ ba bồi thường thiệt hại5. Trong khi đó, Bộ luật Dân sự 2005 quy định cả trường hợp người thứ ba thực hiện hành vi lừa dối và xem đó cũng là căn cứ vô hiệu hoá hợp đồng. Có lẽ các qui định tại Điều 132, Bộ luật Dân sự 2005 đã đi theo khuynh hướng của Bộ luật Dân sự Đức và Bộ luật Dân sự Nhật Bản, có nghĩa là xuất phát từ phương diện chủ quan để xác định việc biểu lộ ý chí có thể không có giá trị ràng buộc người biểu lộ, nếu sự biểu lộ ý chí đó được lập ra do bị lừa dối từ bất kỳ ai. Bộ luật Dân sự Đức quy định:

“(1) Bất kỳ ai đã bị lôi cuốn lập ra một sự biểu lộ ý chí bởi lừa dối hoặc bởi đe doạ bất hợp pháp có thể huỷ bỏ sự biểu lộ ý chí đó.

(2) Nếu một người thứ ba có lỗi lừa dối, thì sự biểu lộ ý chí mà đã được yêu cầu lập ra đối với người khác có thể bị huỷ bỏ chỉ khi người nói tới sau đã biết hoặc nhẽ ra phải biết về sự lừa dối. Trong chừng mực một người, khác hơn người mà sự biểu lộ ý chí đã được yêu cầu lập ra, đã thủ đắc trực tiếp một quyền thông qua sự biểu lộ ý chí đó, thì sự biểu lộ ý chí đó có thể bị huỷ bỏ khi chống lại người này nếu người này đã biết hoặc nhẽ ra phải biết về sự lừa dối đó” (Điều 123).

Theo cách thức và nội dung của các quy định này, Bộ luật Dân sự Nhật Bản diễn giải có đôi chút khác biệt như sau:

Điều 96.

Sự biểu lộ ý chí bị lôi cuốn bởi lừa dối hoặc đe doạ có thể bị huỷ bỏ.

2. Nếu một người thứ ba đã có lỗi lừa dối đối với sự biểu lộ ý chí được lập tới một người, thì sự biểu lộ ý chí đó có thể bị huỷ bỏ chỉ trong các trường hợp khi bên khác đó đã biết về sự kiện đó.

3. Một biểu lộ ý chí đã bị lôi cuốn bởi lừa dối không thể bị huỷ bỏ chống lại người thứ ba ngay tình”.

Việc dẫn ra các quy định này của Bộ luật Dân sự Đức và của Bộ luật Dân sự Nhật Bản cùng với các phân tích ở trên cho thấy, Bộ luật Dân sự 2005 một đằng theo phương diện khách quan quy định một cách tích hợp các điều kiện có hiệu lực của giao dịch vào một điều khoản và diễn giải chúng cùng các nguyên nhân vô hiệu của giao dịch gần với cách thức của Bộ luật Dân sự Pháp, nhưng đằng khác lại qui định các điều kiện của lừa dối theo phương diện chủ quan gần với Bộ luật Dân sự Đức và Bộ luật Dân sự Nhật Bản. Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng chương nói về giao dịch dân sự của Bộ luật Dân sự 2005 qui định chung cho cả hợp đồng và hành vi pháp lý đơn phương, do đó nhẽ ra phải xuất phát từ việc biểu lộ ý chí hơn là xuất phát từ việc phân tích quan hệ giữa các bên tham gia giao dịch. Việc xuất phát từ việc phân tích quan hệ giữa các bên tham gia giao dịch có lẽ phù hợp hơn đối với hợp đồng. Như vậy có thể nói, Bộ luật Dân sự 2005 chưa nhất quán trong cách thức tiếp cận vấn đề.

Các nguyên tắc của Unidroit về hợp đồng thương mại quốc tế 1994 và 2004 tỏ ra đồng nhất trong việc xác định các điều kiện của lừa dối liên quan tới người. Điều 3.8 quy định: “Một bên có thể huỷ bỏ hợp đồng khi đã bị dẫn dắt giao kết hợp đồng bởi sự biểu lộ dối trá của bên kia, kể cả ngôn ngữ hoặc hành động, hoặc không biểu lộ có tính chất gian trá các chi tiết mà, phù hợp với các tiêu chuẩn thương mại hợp lý về thiện chí, bên này nhẽ ra phải biểu lộ”. Unidroit cho rằng việc huỷ bỏ hợp đồng căn cứ vào lừa dối tương đồng với việc huỷ bỏ hợp đồng đối với một dạng nào đó của nhầm lẫn, và sự phân biệt giữa lừa dối và nhầm lẫn nằm ở bản chất và mục đích của sự biểu lộ hoặc không biểu lộ của bên lừa dối6. Các quy định của Unidroit vừa dẫn cho thấy sự giống với các quy định của Bộ luật Dân sự Pháp và của các Bộ luật Dân sự Việt Nam dưới các chế độ cũ về điều kiện của lừa dối liên quan tới người, nhưng có khác nhau phần nào ở điều kiện liên quan tới bản chất của lừa dối. Đặc biệt các quy định của Unidroit có đề cập tới các dạng thức của hành vi lừa dối giống phần nào với nhận thức của Common Law, tức là hành vi lừa dối có thể ở dạng hành động và không hành động. Paul Latimer cho rằng: Biểu lộ sai sự thật có thể thực hiện bằng dạng không hành động nếu nó bóp méo sự biểu lộ đã được lập ra, và có thể có hậu quả pháp lý ảnh hưởng đến một tuyên bố trước, nếu tuyên bố được đưa ra là một nửa sự thật; nếu tuyên bố là sự thật nhưng trở nên sai trước khi hợp đồng được giao kết; nếu có quan hệ uỷ quyền giữa các bên; hoặc nếu hợp đồng là một hợp đồng thiện chí tối đa7.

Mặc dù Bộ luật Dân sự Pháp quy định sự lừa dối phải do một bên của hợp đồng lập ra để dẫn dắt bên kia tới chỗ giao kết hợp đồng, và nếu không có sự lừa dối đó thì bên kia không giao kết hợp đồng. Nhưng án lệ của Pháp đã có hai ngoại lệ cho điều kiện về người là sự góp phần của một bên với người thứ ba thực hiện sự lừa dối bên kia, và người thứ ba lừa dối liên quan tới các hợp đồng hảo tâm8.

Common Law quan niệm nếu một bên giao kết hợp đồng là kết quả của sự gian trá của bên kia, thì được xem như không có sự gặp gỡ của các ý chí, không có sự thoả thuận, và vì thế không có nghĩa vụ pháp lý. Các nước theo truyền thống pháp luật này xác định năm điều kiện của gian trá (fraud) là: (1) Người gian trá biểu lộ sai sự thật về một sự kiện có tính chất vật chất (material fact); (2) sự gian trá được người gian trá lập ra một cách có nhận thức; (3) người gian trá có ý chí lừa dối; (4) người bị gian trá tin cậy một cách thích đáng vào sự biểu lộ sai sự thật; và (5) sự gian trá gây thiệt hại cho người bị gian trá. Còn đối với biểu lộ sai sự thật không gian trá (innocent misrepresentation or nonfraudulent misrepresentation) không có điều kiện thứ hai và thứ ba nêu trên9. Lưu ý rằng: Một sự kiện có tính chất vật chất (material fact) trong điều kiện thứ nhất nêu trên được hiểu là một sự kiện mà, nếu được biết, nhẽ ra đã ảnh hưởng tới xét đoán của một hoặc nhiều bên trong giao dịch; trong tố quyền về gian trá, sự kiện có tính chất vật chất nhất thiết phải đủ quan trọng đối với sự việc mà một người bình thường nhẽ ra có thể tin tưởng vào nó; và sự kiện có tính chất vật chất không thể là ý nghĩ, lòng tin, sự dự đoán, hoặc sự suy đoán, và liên hệ một cách đặc thù tới một số vấn đề trong quá khứ hoặc hiện tại mà có thể chứng minh hoặc bác bỏ10.

Pháp luật Việt Nam đã từng có các quy định rất cụ thể liên quan tới hành vi biểu lộ sai sự thật không gian trá trong luật thương mại, kể cả bằng dạng không hành động, và xác định chế tài cho các hành vi đó. Chẳng hạn, Bộ luật Thương mại 1972 quy định về các biểu lộ trong chứng thư mua bán sản nghiệp thương mại như sau:

Điều thứ 49. – Trong chứng thư chủ bán phải khai:

1) Tên họ chủ bán trước, ngày tháng lập chứng thư do đó mình đã mua được cửa hàng, tính chất của chứng thư này và giá mua các yếu tố vô hình, hàng hoá và dụng cụ.

2) Các ưu quyền và diễn áp mà cửa hàng phải chịu.

3) Số thương vụ mà chủ bán đã thực hiện được mỗi năm về ba năm khai thác chót vừa qua, hay từ ngày thủ đắc, nếu người bán khai thác chưa được ba năm.

4) Số lợi tức thương mại đã thực hiện được trong thời gian nói trên.

5) Giao kèo thuê mướn nơi đặt cửa hàng, ngày tháng lập giao kèo, thời hạn hưởng dụng, tên họ và địa chỉ của người chủ bất động sản hay là người nhượng giao kèo, nếu có.

Nếu trong chứng thư, các yếu tố ghi trên bị bỏ sót không khai, chủ mua có thể, nếu muốn, xin huỷ bỏ chứng thư đoạn mại trong thời hạn một năm kể từ ngày lập chứng thư.

Điều thứ 50.- Mặc dầu có kết ước trái lại, người bán vẫn phải chịu sự bảo đảm đối với người mua theo các điều kiện do Bộ dân – luật quy định về các lời khai của mình, trong trường hợp các lời khai nầy không được xác thật”.

Các điều luật này cho thấy sự đan xen của nguyên tắc tự do ý chí và nguyên tắc thiện chí trung thực, dù rằng chúng dường như đối lập.

2. 3. Đe doạ

Việc ép buộc trong giao kết hợp đồng chống lại tự do ý chí, do đó có thể xem như chưa có sự ưng thuận. Tuy nhiên cách thức tiếp cận vấn đề này có đôi chút khác nhau ở các nền tài phán, nhưng cùng chung mục đích.

Bộ luật Dân sự 2005 quan niệm “Đe doạ trong giao dịch là hành vi cố ý của một bên hoặc người thứ ba làm cho bên kia buộc phải thực hiện giao dịch nhằm tránh thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ, danh dự, uy tín, nhân phẩm, tài sản của mình hoặc của cha, mẹ, vợ, chồng, con của mình” (Điều 132, đoạn 3). Các nguyên tắc của Unidroit về hợp đồng thương mại quốc tế 1994 và 2004 đều quy định cụ thể để có thể hiểu được về hành vi được xem là đe doạ đối với bên bị đe doạ với nội dung như sau:

“Một bên có thể huỷ bỏ hợp đồng khi đã bị dẫn dắt tới giao kết hợp đồng bởi sự đe doạ bất chính đáng của bên kia mà, đã xem xét tới hoàn cảnh, sự đe doạ đó là tức thời và nghiêm trọng để mặc bên bị đe doạ không có sự lựa chọn hợp lý. Cụ thể, đe doạ là bất chính đáng nếu hành động hoặc không hành động mà với nó một bên đã bị đe doạ tự nó đã là bất hợp pháp, hoặc việc đe doạ được sử dụng như một phương thức để đạt được việc giao kết hợp đồng là bất hợp pháp” (Điều 3.9).

Các quy định này xác định phạm vi và điều kiện của hành vi đe doạ là: (1) Các tác vi và bất tác vi phi chính đáng; (2) thực hiện tức thời và đủ nghiêm trọng xét theo hoàn cảnh; (3) khiến bên kia bị đe doạ, do đó dẫn tới việc giao kết hợp đồng. Unidroit giải thích rằng tác vi và bất tác vi được xem là bất chính đáng có hai trường hợp: Trường hợp thứ nhất, bản chất của chúng đã là bất hợp pháp (chẳng hạn sử dụng bạo lực để đạt được giao kết hợp đồng với người bị đe doạ); trường hợp thứ hai, bản chất của chúng là hợp pháp, nhưng được sử dụng cho mục đích bất hợp pháp (chẳng hạn khởi kiện một người chỉ nhằm mục đích buộc người đó phải giao kết hợp đồng với các điều kiện áp đặt)11. Có thể hiểu một người đã giao kết hợp đồng có thể huỷ bỏ hợp đồng nếu việc giao kết đó ngoài sự mong muốn của mình do có sự tác động có tính cách đe doạ ngay lập tức và đủ nghiêm trọng vào thời điểm giao kết bởi bất kỳ hành vi nào có mục đích giao kết hợp đồng với người bị tác động với các điều kiện áp đặt, bởi xuất phát từ nguyên tắc tự do ý chí, trường hợp này đã thiếu đi sự ưng thuận của người bị đe doạ, tức là người này đã không thể lựa chọn giữa giao kết hoặc không giao kết, giữa điều kiện này hoặc điều kiện khác, nhiều khi thiếu cả sự nhận thức của người bị đe doạ về cả bản chất pháp lý và các điều kiện của hợp đồng đã giao kết.

Luật La Mã coi bạo lực là việc người đối ước hoặc người thứ ba làm cho người đối ước kia sợ hãi mà giao kết hợp đồng. Do đó, người do sợ hãi mà giao kết hợp đồng có thể sử dụng hai loại tố quyền có tính cách hình sự hoặc dân sự. Tố quyền sợ hãi (actio metus) là tố quyền hình sự cho phép nạn nhân được bồi thường gấp bốn lần sự thiệt hại đã phải gánh chịu. Người bị bạo lực mà phải giao kết hợp đồng có thể xin hoàn lại đồ vật đã mất do sợ hãi12. Bộ luật Dân sự Pháp đã phản ánh phần nào các ý niệm này. Điều 132, Bộ luật Dân sự 2005 có các quy định rất gần gũi với các điều từ 111 đến 113 của Bộ luật Dân sự Pháp.

Điều 111

Bạo lực đối với người giao kết hợp đồng là một căn cứ làm cho hợp đồng vô hiệu, dù bạo lực ấy được thực hiện bởi người thứ ba không phải là người được hưởng lợi ích do việc giao kết hợp đồng.

Điều 112

Được coi là có bạo lực khi nó gây ấn tượng đối với một người có lý trí bình thường và làm cho người đó lo sợ có thể bị một tổn thất nghiêm trọng đối với tính mạng hoặc tài sản của mình.

Cần chú ý đến tuổi tác, giới tính và hoàn cảnh của người đó.

Điều 113

Bạo lực là căn cứ làm hợp đồng vô hiệu không chỉ trong trường hợp bạo lực đối với bản thân người giao kết hợp đồng mà còn cả trong trường hợp bạo lực đối với vợ, chồng, tôn thuộc, ti thuộc của người đó”.

Mặc dù theo mô hình Pháp, nhưng Bộ luật Dân sự Bắc Kỳ và Bộ luật Dân sự Trung Kỳ đã có sự phân biệt tương đối rõ giữa bạo lực về thể chất và bạo lực về tinh thần. Trường hợp bạo lực về thể chất (như cầm tay bắt ký hay thôi miên, hoặc cho uống rượu say rồi bảo ký) khiến người bị bạo lực mất ý chí tự chủ. Còn trong trường hợp bạo lực về tinh thần, thì người bị bạo lực không mất ý chí tự chủ13. Bộ luật Dân sự Bắc Kỳ quy định về các vấn đề này như sau:

Điều thứ 660: Khi nào một bên đương – sự bị cưỡng – ép bằng cách hành – hung hay cách doạ – nạt không thể chống lại được mà phải nhận ước, thì sự bạo hành đó làm mất hẳn sự đồng – ý.

Khi nào cách hành – hung doạ – nạt hay là sự nguy – hiểm không đến nỗi không chống lại được, nhưng cũng khiến cho người đương – sự phải giao – ước để tránh khỏi cái hại lớn hơn hoặc trực – tiếp ngay hoặc về sau này, thì sự bạo – hành đó chỉ là một duyên – cớ có thể bác được sự đồng – ý mà thôi.

Dẫu khi sự nguy – hiểm chỉ quan – hệ đến tài – sản mà không đến sinh – mệnh của người lập – ước, hay là cả khi quan – hệ đến tài – sản hoặc sinh – mệnh người khác, những điều trên cũng thi – hành được.

Điều thứ 661.- Nếu người đệ – tam mà sinh – mệnh hay tài – sản bị nguy – hiểm vì cách hành – hung hay doạ – nạt đó, lại là vợ chồng hay thân – thuộc người đương – sự , thì sự bạo – hành ấy bao giờ cũng coi như là trực đối với chính người đương – sự.

Còn người khác thì toà án tuỳ tình – trạng mà xét xem sự doạ – nạt đối với người ấy có ảnh – hưởng gì đến sự đồng – ý của người đương – sự”.

Các điều luật này cũng được ghi nhận lại với đầy đủ nội dung như vậy tại Điều thứ 696 và Điều thứ 697 của Bộ luật Dân sự Trung Kỳ. Còn Bộ luật Dân sự 1972 đã diễn giải lại các nội dung trên trong nhiều điều khoản và làm cho rõ ràng hơn. Vũ Văn Mẫu cho rằng các Bộ luật Dân sự Bắc Kỳ và Bộ luật Dân sự Trung Kỳ chia bạo lực thành bạo lực thể chất và bạo lực tinh thần bởi xuất phát từ ý niệm bạo lực thể chất làm mất hẳn ý chí của người bị bạo lực, còn bạo lực tinh thần chỉ là một hà tì của sự ưng thuận14.

Khảo sát Bộ luật Dân sự Đức và Bộ luật Dân sự Nhật Bản, có thể thấy có rất ít quy định về bạo lực trong giao kết hợp đồng. Các Bộ luật này, trong mục nói chung về biểu lộ ý chí, chỉ qui định tại các điều tương ứng là Điều 123 và Điều 96 về sự vô hiệu của biểu lộ ý chí khi bị đe doạ, cùng với các quy định về sự vô hiệu của biểu lộ ý chí khi bị lừa dối. Giải thích cho các quy định ngắn gọn này nhiều luật gia Nhật Bản nói: đe doạ hay cưỡng ép là hành vi gây ra sự sợ hãi cho người khác bởi việc đưa ra tình huống gây hại cho người đó; và việc biểu lộ ý chí bởi sự đe doạ có nghĩa là việc biểu lộ ý chí không dựa trên ý chí thật nhưng để tránh thiệt hại mà sự sợ hãi liên hệ tới; và cần thiết bảo vệ người biểu lộ ý chí trong trường hợp này tới mức độ như bảo vệ trong trường hợp bị lừa dối, có nghĩa là trong trường hợp bị bạo lực, người biểu lộ ý chí có thể huỷ bỏ vô điều kiện sự biểu lộ ý chí đó mà không cần quan tâm tới người đối ước hay người thứ ba đe doạ; và sự huỷ bỏ như vậy có hiệu lực với cả người thứ ba ngay tình15. Tuy nhiên, cũng có những ý kiến ở Nhật Bản nghi ngờ về tính đúng đắn của quan niệm bảo vệ ở mức độ cao như vậy16.

Theo Konrad Zweigert and Hein Koetz, ở Common Law, thuật ngữ “cưỡng ép” (duress) có nghĩa hẹp chỉ trường hợp một người phải đưa ra một lời hứa bởi bị bạo lực về thể chất hay bị giam hãm, còn thuật ngữ “ảnh hưởng không chính đáng” (undue influence), phát triển dần dần bởi các toà án của luật công bình (Courts of Equity), được sử dụng trong trường hợp lợi dụng vị thế ảnh hưởng để buộc người khác giao kết hợp đồng mà đã được các Bộ luật Dân sự của các nước châu Âu lục địa nói tới trong khái niệm bạo lực17.

Cưỡng ép (duress) theo Common Law chỉ hành vi sử dụng bạo lực hoặc đe doạ sử dụng bạo lực, hoặc giam hãm (imprisonment) một bên hoặc cha mẹ, vợ chồng, con của bên đó nhằm mục đích buộc bên bị cưỡng ép phải chấp nhận các điều kiện hợp đồng ấn định. Khi xem xét cưỡng ép cần chú ý tới bốn yếu tố sau:

(1) Bạo lực không nhất thiết là thực tế mà có thể là đe doạ;

(2) Bạo lực hoặc đe doạ không nhất thiết phải thực hiện với người giao kết hợp đồng mà có thể thực hiện đối với vợ chồng, bố mẹ, con của người này;

(3) Bạo lực cũng có thể là việc giam hãm;

(4) Bạo lực có thể thực hiện bởi người thứ ba hành động dưới sự chỉ dẫn hay cho lợi ích của người cưỡng ép giao kết hợp đồng18.

Ảnh hưởng không chính đáng (undue influence) được luật công bình phát triển nhằm bảo vệ tự do ý chí trong trường hợp ý chí của người giao kết hợp đồng bị gây ảnh hưởng quá đáng mà không có sự đe doạ. Tuy nhiên, học thuyết của luật công bình về ảnh hưởng không chính đáng cực kỳ khó khăn trong việc xác định ranh giới mong manh giữa ảnh hưởng không chính đáng và sự thuyết phục đơn thuần. Người ta nhận thấy rằng ảnh hưởng không chính đáng thường xuất hiện ở những giao dịch liên quan tới chuyển nhượng tài sản không có khoản đối ứng hoặc khoản đối ứng không đầy đủ. Chẳng hạn, vụ Robertson v. Robertson (1930) người chồng doạ tố cáo sự thiếu chung thuỷ của vợ trừ khi bà ta chuyển nhượng cho ông bất động sản thuộc sở hữu của bà ta. Toà án tuyên hành vi đó là ảnh hưởng không chính đáng19. Theo Abdul Kadar, Ken Hoyle, Geoffrey Whitehead, học thuyết về cưỡng ép của Common law và học thuyết về ảnh hưởng không chính đáng của Equity đang trong tiến trình hợp nhất để giải quyết tất cả các trường hợp giao kết hợp đồng bị ép buộc bởi áp lực thể chất hoặc tinh thần mà pháp luật thường coi là không công bằng20. Như vậy, có thể thấy sự đồng nhất trong nhận thức của các truyền thống pháp luật về vấn đề bạo lực trong giao kết hợp đồng.

Trong truyền thống Civil law, người ta đã có dự liệu các trường hợp gây áp lực về tinh thần trong giao kết hợp đồng, và cũng đã xác định phạm vi của nó bằng các quy định loại bỏ một số trường hợp. Chẳng hạn, Bộ luật Dân sự Pháp quy định: “Chỉ riêng sự sợ hãi khép nép đối với cha, mẹ hoặc tôn thuộc khác mà không hề có bạo lực thì chưa đủ để huỷ hợp đồng” (Điều 1114). Bộ luật Dân sự Bắc Kỳ và Bộ luật Dân sự Trung Kỳ đã mở rộng hơn các quyđịnh của điều luật này, và xem sự kính trọng như một hình thức của bạo lực21. Điều thứ 662 và Điều thứ 698 tương ứng của hai Bộ luật này quy định với nội dung như nhau:

“Thuộc về các trường – hợp bạo – hành thì toà án phải xem xét người đương – sự nhiều hay ít tuổi, đàn ông hay đàn bà, thân – thể tinh – thần thế nào, cùng địa – vị đối với nhau như thế nào.

Nhưng chỉ vì một sự kính sợ của vợ đối với chồng hay của con cháu đối với ông bà cha mẹ, thì không đủ làm cho hiệp – ước thủ – tiêu được”.

Nhưng Điều thứ 666, Bộ luật Dân sự 1972 quay lại nguyên theo quy định tại Điều 1114 của Bộ luật Dân sự Pháp.

Để xem xét tới vấn đề ép buộc trong giao kết hợp đồng cũng có thể xuất phát từ các phương diện hay các yếu tố khách thể, khách quan, chủ thể, và chủ quan như trong nghiên cứu cấu thành tội phạm ở luật hình sự.

Về khách thể, việc ép buộc giao kết hợp đồng xâm phạm tới quyền tự do ý chí của con người mà quyền này không chỉ được thừa nhận trong luật tư mà còn là quyền có tính cách hiến định.

Về khách quan, việc ép buộc thực hiện thông qua hành vi bất chính đáng dưới dạng sử dụng bạo lực hoặc đe doạ sử dụng bạo lực hoặc lợi dụng vị thế gây ảnh hưởng tác động vào ý chí của nạn nhân khiến họ không làm chủ được hành vi của mình. Hành vi bất chính đáng ở đây có thể là tác vi hoặc bất tác vi. Mục đích của việc tác động vào ý chí của nạn nhân là giao kết hợp đồng với nạn nhân. Hậu quả là nạn nhân phải giao kết hợp đồng ngoài ý muốn với các điều kiện đã ấn định ngoài sự lựa chọn của nạn nhân. Việc thực hiện hành vi ép buộc có thể do người giao kết hợp đồng với nạn nhân hoặc người thứ ba thực hiện.

Về chủ thể, người thực hiện hành vi ép buộc là bất kể ai có khả năng thực hiện hành vi không kể độ tuổi.

Về chủ quan, hành vi ép buộc thực hiện bằng lỗi cố ý với động cơ vụ lợi.

2.4. Thiệt thòi

Pháp luật Việt Nam không xem xét tới vấn đề thiệt thòi trong chế định giao kết hợp đồng, tuy nhiên vẫn đề cập tới những vấn đề như cho vay nặng lãi.

Luật La Mã đã xem thiệt thòi là một tì ố của sự ưng thuận. Nhưng phạm vi của thiệt thòi rất hẹp. Về ngữ nghĩa có thể xem thiệt thòi là việc một bên giao kết hợp đồng không nhận được những lợi ích tương đương với những gì mà bên này phải thực hiện cho bên kia. Tuy nhiên, người ta chỉ xem xét tới sự chênh lệch lợi ích quá đáng giữa các bên. Nhiều tác giả ngày nay xem thiệt thòi là một vấn đề của tính chính trực của sự ưng thuận22. Bộ luật Dân sự Bắc Kỳ tại Điều thứ 652 và Bộ luật Dân sự Trung Kỳ tại Điều thứ 688 có quy định “Nếu hiệp – ước có sinh ra thiệt – hại thì chỉ những khi nào trong luật đã định mới có thể bác được” phỏng theo tư tưởng của Điều 1118, Bộ luật Dân sự Pháp chỉ vô hiệu hoá các hợp đồng có sự thiệt thòi do vị thành niên giao kết, còn các trường hợp khác phải có sự quy định rõ ràng của luật. Có lẽ các quy định này đã kế thừa Luật La Mã. Phạm vi thiệt thòi trong Luật La Mã chỉ xác định nhằm bảo vệ người chưa đủ 25 tuổi và người nghèo phải bán rẻ ruộng đất cho những người quyền thế23.

3. Kiến nghị

Các nghiên cứu ở trên cho thấy ưng thuận và các tì ố của sự ưng thuận chất chứa đầy tính triết lý và kỹ thuận pháp lý. Do đó cần viết các quy định cụ thể về chúng làm sao dành nhiều chỗ cho các giải thích tư pháp trong các tranh chấp cụ thể. Trước hết cần xem ưng thuận là yếu tố đầu tiên của hợp đồng. Các tì ố của sự ưng thuận bao gồm cả sự thiệt thòi cần được nêu ra một cách đầy đủ.

Chú thích:

(1) Vũ Văn Mẫu, Việt Nam dân luật lược khảo- Quyển II: Nghĩa vụ và khế ước, In lần thứ nhất, Bộ Quốc gia Giáo dục xuất bản, Sài Gòn, 1963, tr. 120- 121.

(2) Vũ Tam Tư, Luật Rôma: Khế ước & Nghĩa vụ, Trường đại học Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh, Lưu hành nội bộ, tr. 53- 54.

(3) Wikipedia, the free encyclopedia, Misrepresentation, [http://en.wikipedia.org/wiki/Misrepresentation], 5/16/2009.

(4) Paul Latimer, Australian Business Law, CCH Australia Limited, 1987, p. 257.

(5) Corinne Renault- Brahinsky, Đại cương về pháp luật hợp đồng, Nxb. Văn hoá – Thông tin, Hà Nội, 2002, tr. 46.

(6) Unidroit Principles of International Commercial Contracts with Official Commentary [1994]; Unidroit, Bộ nguyên tắc của Unidroit về hợp đồng thương mại quốc tế 2004, bản dịch tiếng Việt với sự tài trợ của Tổ chức quốc tế Pháp ngữ, Nxb. Tư pháp, Hà Nội, 2005, tr. 181- 182.

(7) Paul Latimer, Australian Business Law, CCH Australia Limited, 1987, p. 256- 257.

(8) Vũ Văn Mẫu, Việt Nam dân luật lược khảo- Quyển II: Nghĩa vụ và khế ước, In lần thứ nhất, Bộ Quốc gia giáo dục xuất bản, Sài Gòn, 1963, tr. 121- 122; Corinne Renault- Brahinsky, Đại cương về pháp luật hợp đồng, Nxb. Văn hoá- Thông tin, Hà Nội, 2002, tr. 46.

(9) Robert W. Emerson, John W. Hardwick, Business Law, Barron’s educational series Inc., USA, 1997, pp. 89- 91; R. Keith Yorston and Edward E. Fortescue, Australian Mercantile Law, The Law Book Co. of Australia PTY LTD, Sydney, Melbourne, Brisbane, 1943, pp. 35 & 37.

(10) Aaron Larson, Fraud, Silent Fraud, and Innocent Misrepresentation, ExpertLaw,[http://www.expertlaw.com/library/business/fraud.html].

(11) Unidroit Principles of International Commercial Contracts with Official Commentary [1994]; Unidroit, Bộ nguyên tắc của Unidroit về hợp đồng thương mại quốc tế 2004, bản dịch tiếng Việt với sự tài trợ của Tổ chức quốc tế Pháp ngữ, Nxb. Tư pháp, Hà Nội, 2005, tr. 183.

(12) Vũ Tam Tư, Luật Rôma: Khế ước & Nghĩa vụ, Trường đại học Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh, Lưu hành nội bộ, tr. 53.

(13) Vũ Văn Mẫu, Việt Nam dân luật lược khảo- Quyển II: Nghĩa vụ và khế ước, In lần thứ nhất, Bộ Quốc gia giáo dục xuất bản, Sài Gòn, 1963, tr. 127

(14) Vũ Văn Mẫu, Việt Nam dân luật lược khảo- Quyển II: Nghĩa vụ và khế ước, In lần thứ nhất, Bộ Quốc gia giáo dục xuất bản, Sài Gòn, 1963, tr. 128.

(15) Japan International Cooperation Agency (JICA), Japanese Laws (Volume 2: 1997- 1998)- Luật Nhật Bản (Tập II: 1997- 1998), Youth Publishing House- Nhà xuất bản thanh niên, Song ngữ Anh- Việt, p. 115.

(16) Xaca Vacaxum, Tori Aridumi, Bình luận khoa học Bộ luật Dân sự Nhật Bản, Nguyễn Đức Giao và Lưu Tiến Dũng dịch ra tiếng Việt, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, tr. 139.

(17) Konrad Zweigert and Hein Koetz, An Introduction to Comparative Law, Clarendon Press, Oxford, 1998, p. 428.

(18) R. Keith Yorston and Edward E. Fortescue, Australian Mercantile Law, The Law Book Co. of Australia PTY LTD, Sydney, Melbourne, Brisbane, 1943, p. 39.

(19)
R. Keith Yorston and Edward E. Fortescue, Australian Mercantile Law, The Law Book Co. of Australia PTY LTD, Sydney, Melbourne, Brisbane, 1943, p. 39.

(20) Abdul Kadar, Ken Hoyle, Geoffrey Whitehead, Business Law, Made Simple Books, London, 1985, pp. 109- 110.

(21) Vũ Văn Mẫu, Việt Nam dân luật lược khảo- Quyển II: Nghĩa vụ và khế ước, In lần thứ nhất, Bộ Quốc gia giáo dục xuất bản, Sài Gòn, 1963, tr. 129.

(22) John E. C. Brierley, Roderick A. Macdonald, Quebec Civil Law- An Introduction to Quebec Private Law, Emond Montgomery Publications Limited, Toronto, Canada, 1993, p. 405.

(23) Vũ Văn Mẫu, Việt Nam dân luật lược khảo-Quyển II: Nghĩa vụ và khế ước, In lần thứ nhất, Bộ Quốc gia giáo dục xuất bản, Sài Gòn, 1963, tr. 135.

SOURCE: TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP ĐIỆN TỬ - TS. NGÔ HUY CƯƠNG – Khoa Luật, Đại học Quốc gia

Trích dẫn từ: http://www.nclp.org.vn/

 

(MKLAW FIRM: Bài viết được đăng tải nhằm mục đích giáo dục, phổ biến, tuyên truyền pháp luật và chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước không nhằm mục đích thương mại. Thông tin nêu trên chỉ có giá trị tham khảo vì vậy Quý khách khi đọc thông tin này cần tham khảo ý kiến luật sư, chuyên gia tư vấn trước khi áp dụng vào thực tế.)