Dự án Luật sửa đổi quy định theo hướng bổ sung đối tượng người gốc Việt Nam là người có kỹ năng đặc biệt mà Việt Nam có nhu cầu, là người kết hôn với công dân Việt Nam ở trong nước có quyền sở hữu nhà ở (không giới hạn số lượng) tại Việt Nam nhằm bảo đảm sự hài hòa, hợp lý trong vấn  đề sở hữu nhà ở so với cá nhân nước ngoài được sở hữu nhà ở tại Việt Nam, theo quy định tại Nghị quyết số 19/2008/NQ-QH12 ngày 3.6.2008 của Quốc hội về việc thí điểm cho tổ chức, cá nhân nước ngoài mua và sở hữu nhà ở tại Việt Nam. Tuy nhiên, trên thực tế, việc cho tổ chức, cá nhân nước ngoài mua và sở hữu nhà ở  tại Việt Nam được quy định trong Nghị quyết số 19 chỉ là chính sách “thí điểm”. Mặt khác, ngoài việc giống nhau về cách thức quy định diện đối tượng (người có kỹ năng đặc biệt mà Việt Nam có nhu cầu; người kết hôn với công dân Việt Nam ở trong nước), dự án Luật sửa đổi lần này đã quy định những nội dung mới mở rộng hơn so với Nghị quyết của QH (trong Nghị quyết số 19/2008/NQ-QH12, thời hạn được sở hữu nhà ở giới hạn tối đa là 50 năm; tại một thời điểm, cá nhân nước ngoài được sở hữu một căn hộ chung cư trong dự án phát triển nhà ở thương mại; Tổ chức, cá nhân nước ngoài để có thể là chủ sở hữu nhà ở tại Việt Nam còn phải tuân thủ những điều kiện khác chặt chẽ hơn về quyền, nghĩa vụ, điều kiện được mua và sở hữu nhà ở tại Việt Nam). Bên cạnh đó, về mặt hiệu lực thời gian, Nghị quyết của QH được áp dụng thí điểm trong thời hạn 5 năm, kể từ ngày có hiệu lực thi hành (1.1.2009).

Nhìn từ khía cạnh này, việc sớm luật hóa một nội dung từ chính sách mang tính thí điểm như đã nêu trên trong việc sửa đổi, bổ sung Điều 126 Luật Nhà ở lần này, phải gắn với yêu cầu tổng kết kết quả thực hiện Nghị quyết của QH (Điều 12 Nghị quyết quy định Chính phủ báo cáo QH kết quả thực hiện Nghị quyết khi kết thúc thời hạn thực hiện thí điểm). Trong khi đó, tính từ ngày Nghị quyết này có hiệu lực (1.1.2009) cho đến thời điểm hiện nay thì vẫn còn quá sớm để đề cập đến tổng kết việc thực hiện Nghị quyết. Vì những lý do trên, việc dựa theo quy định thí điểm trong Nghị quyết này để luật hóa như quy định trong dự án Luật sửa đổi cần được cân nhắc kỹ. Điều đáng lưu ý là, nếu không quy định các đối tượng này tại điểm b khoản 1 Điều 126 của dự thảo Luật thì cũng chỉ là việc họ không được quyền sở hữu nhà ở với số lượng không hạn chế tại Việt Nam. Trong trường hợp này, họ có thể vẫn được quyền sở hữu một nhà ở riêng lẻ hoặc một căn hộ theo quy định tại khoản 2 Điều 126 dự thảo Luật. Việc giải quyết theo hướng nêu trên cũng là lộ trình, bước đi thích hợp về mặt chính sách trong vấn đề này.

 

Luật sư tư vấn pháp luật đất đai, nhà ở ?

Luật sư tư vấn luật Đất đai qua điện thoại gọi số:  - 1900 6162

Một vấn đề khác cần được quan tâm xem xét, đó là việc tiếp tục nghiên cứu và rà soát thêm những nội dung có liên quan giữa Nghị quyết số 19 của QH và nội dung dự kiến sửa đổi, bổ sung trong dự thảo Luật để bảo đảm sự chặt chẽ, nhất quán về mặt chính sách. Chẳng hạn, về đối tượng là người gốc Việt Nam quy định tại Điều 126 của dự thảo Luật, cần nghiên cứu bổ sung quy định loại trừ những người thuộc diện được hưởng quyền ưu đãi, miễn trừ ngoại giao, lãnh sự theo quy định của pháp luật Việt Nam ra khỏi phạm vi đối tượng có quyền sở hữu nhà ở tại Việt Nam. Liên quan đến vấn đề này, tại khoản 1 Điều 3 của Nghị quyết số 19 đã quy định cá nhân nước ngoài nếu thuộc diện được hưởng quyền ưu đãi, miễn trừ ngoại giao, lãnh sự theo quy định của pháp luật Việt Nam thì không có quyền được mua và sở hữu nhà ở tại Việt Nam.

Hiện nay, chính sách đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài được quy định trong Điều 75 Hiến pháp 1992 (đã được sửa đổi, bổ sung) và nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác, như Luật quốc tịch Việt Nam năm 2008 (Điều 7), Luật đất đai năm 2003 (Điều 121), Luật nhà ở năm 2005 (Điều 126)… Đối chiếu những nội dung được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành liên quan đến vấn đề chính sách đối với kiều bào ở nước ngoài và chủ trương của Đảng hiện nay cho thấy, còn rất nhiều nội dung cần được tiếp tục nghiên cứu thể chế hóa, nhằm phúc đáp yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ đổi mới và hội nhập. Kinh nghiệm của Trung Quốc cho thấy, Nhà nước đã sớm ban hành Luật Bảo vệ quyền và lợi ích của Hoa kiều và các thành viên của gia đình họ khi trở về nước. Theo đó, một nguyên tắc quan trọng được quy định tại Điều 3 của Luật này là Hoa kiều và các thành viên gia đình họ khi trở về được hưởng các quyền công dân theo quy định của Hiến pháp và pháp luật, đồng thời có trách nhiệm thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân do Hiến pháp và pháp luật quy định. Vấn đề này, cũng cần được quan tâm nghiên cứu để vận dụng phù hợp.

SOURCE: BÁO NGƯỜI ĐẠI BIỂU NHÂN DÂN - TƯỜNG AN

Trích dẫn từ:http://www.nguoidaibieu.com.vn/

 

(MKLAW FIRM: Bài viết được đăng tải nhằm mục đích giáo dục, phổ biến, tuyên truyền pháp luật và chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước không nhằm mục đích thương mại. Thông tin nêu trên chỉ có giá trị tham khảo vì vậy Quý khách khi đọc thông tin này cần tham khảo ý kiến luật sư, chuyên gia tư vấn trước khi áp dụng vào thực tế.)