Sách ngoài Lời giới thiệu và Phụ lục, có Phần mở đầu và 4 chương và Phần kết luận

Nhân có cuộc thảo luận bàn tròn trên Tuanvietnam, về Cải cách hành chính, chíng tôi xin giới thiệu một số nội dung cuốn sách cùng bạn đọc.

Cần chú ý lời giới thiệu và lời kết trong bài giới thiệu Bàn tròn trực tuyến nói trên của Tuanvietnam, như sau:

“Tại bàn tròn trực tuyến: Nhìn sâu vào cuộc cải cách hành chính: Nguyên nhân của những nỗ lực chưa thành công và khuyến nghị của Tuần Việt Nam hôm 22/9/2009, các vị khách mời đều cho rằng, để cải cách thủ tục hành chính thành công phải xác định cho mạch lạc chế độ trách nhiệm của từng cá nhân công chức”

“Bàn tròn đã kết thúc sau hơn 1 giờ đồng hồ tranh luận, thậm chí có phần khá gay gắt song dường như các vị khách mời vẫn chưa tìm được tiếng nói chung trong việc xác định đâu là điểm đột phá để cải cách hành chính thực sự, từ quy trình hay từ động lực lợi ích cho công chức” (Trách nhiệm chưa rõ, công chức còn nhũng nhiễu, Vietnamnet, 23/09/2009.

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi:  1900 6162

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi:  1900 6162

****

Mục lục

Lời giới thiệu

Phần mở đầu

Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LỰC CẢN VÀ ĐỘNG LỰC CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH

1.1. Quan niệm, nội dung và vai trò của cải cách hành chính
1.2. Lực cản và động lực của hệ thống hành chính và cải cách hành chính

Chương 2. TỔNG QUAN THỰC TRẠNG CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH VÀ VẤN ĐỀ ĐẶT RA LIÊN QUAN TỚI LỰC CẢN VÀ ĐỘNG LỰC

2.1. Một số kết quả cụ thể trên các lĩnh của công cuộc cải cách hành chính ở thành phố Hồ Chí Minh giai đọan 1 (2001 – 2005)
2.2. Đánh giá khái quát kết quả chung cải cách hành chính giai đoạn 1 (2001 – 2005)

Chương 3. NHỮNG LỰC CẢN VÀ ĐỘNG LỰC CHÍNH TRONG CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

3.1. Lực cản trong cải cách hành chính ở TPHCM
3.2. Những động lực chủ yếu trong cải cách hành chính
3.3. Quan hệ giữa lực cản và động lực cải cách hành chính hiện nay ở tphcm

Chương 4. GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC LỰC CẢN, PHÁT HUY ĐỘNG LỰC CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY

4.1. Mục tiêu, nhiệm vụ của cải cách hành chính trong bối cảnh hội nhập wto với vấn đề khắc phục lực cản và phát huy động lực
4.2 Những giải pháp mang tính định hướng nhằm khắc phục lực cản và phát huy động lực trong cải cách hành chính ở thành phố HCM hiện nay

Phần kết luận và kiến nghị
Cần có chính sách tạo động lực mạnh mẽ, khắc phục lực cản trong cải cách hành chính hiện nay ở TPHCM

Kết luận

Dự báo

Kiến nghị

--------------------------

Lời giới thiệu

Cải cách hành chính đang là vấn đề nóng, vấn đề thời sự hiện nay (cùng với vấn đề hạ tầng kinh tế xã hội và nguồn nhân lực), nếu giải quyết không tốt sẽ vẫn là lực cản cho sự phát triển ở TPHCM. Đây cũng là vấn đề liên quan nhiều tốc tốc độ tăng trưởng kinh tế, ổn định và công bằng xã hội đã và sẽ được giải quyết. Hiện nay chính phủ và UBND tp. HCM đang chỉ đạo quyết liệt về cải cách nhà chính.

Cải cách hành chính đã diễn ra hơn 10 năm nay nhưng vẫn còn mới mẻ, thành tựu đạt được còn khiêm tốn và nhiều vấn đề đặt cần nghiên cứu giải quyết một cách cơ bản và cấp bách. Về mặt khoa học cần phải tiếp tục nghiên cứu sâu hơn bằng nhiều cách tiếp cận khác nhau, từ đó góp phần vào sự suy nghĩa và cách giải quyết toàn diện hơn, triệt để hơn.

Cuốn sách nhỏ này của chúng tôi, là trên cơ sở nâng cao từ một đề tài khoa học, “Lực cản và giải pháp khắc phục lực cản, phát huy động lực cải cách hành chính ở thành phố Hồ Chí Minh hiện nay”, gọi tắt là Lực cản và động lực cải cách hành chính.

Ngoài phần mở đầu giới thịệu cách tiếp cận và kết luận- kiến nghị, phụ lục, sách có 4 chương chính, có nội dung là:

1- Cơ sở lý luận về lực cản và động lực cải cách hành chính.

Phần này, chúng tôi là, làm rõ các khái niện như cải cách hành chính, lực cản, động lực cải cách hành chính và phát huy động lực; quá trình nhận thứ của đảng và nhà nước thông quá các chủ trương và chương trình cải cách.Từ đó làm rõ vai trò của nền hành chính và cải cách hành chính...

2- Đánh giá tổng quát thực trạng cải cách hành chính ở TPHCM và những vấn đề liên quan tới lực cản và động lực cải cách hành chính cần tập trung giải quyết.

Phần tiếp theo này nêu lên mô hình và quá trình cải cách hành chính ở TPHCM, đánh giá khái quát những thành tựu, những thành công và chưa thành công trong, hạn chế và những vấn đề đặt ra cần giải quyết liên quan tới lực cản và động lực trong cải cách hành chính.

3- Lực cản và động lực cải cách hành chính ở TPHCM

Đây là một phần trọng tâm. Phần này trình bày những nhân tố, những biểu hiện ảnh hưởng kìm hãm cải cách hành chính như là những nguyên nhân của thực trạng chưa thành công nói trên và còn đang chi phối mạnh mẽ thời kỳ cải cách tiếp theo của cải cách hành chính ở TPHCM. Đồng thời phân trích một số động lực chính và nổi bật. Từ đó làm rõ quan hệ biện chứng chuyển hóa giữa động lực và lực cản hiện nay cần nắm vững trong công tác lãnh đạo quản lý.

4- Một số giải pháp khắc phục lực cản, phát huy động lực, khắc phục lực cản cải cách hành chính ở tp. HCM hiện nay.

Phần này cùng với phần 3 là trọng tâm của đề tài, hơn nữa đây lại là vấn đề các nhà lãnh đạo rất quan tâm. Ở đây trình bày các giải pháp phát huy cải cách hành chính hiện nay ở TPHCM.

Những luận điểm như là kết quả nghiên cứu và đề xuất được trình bày ở phần kết luận.

Đây là đề tài nhạy cảm, những nhận định, phân tích của chúng tôi khó tránh khỏi mang tính chủ quan, hơn nữa lại tiếp cận ở tầm triết học, dù là triết học ứng dụng, nên khó tránh khỏi sai sót, rất mong được sự chia sẻ của các nhà khoa học và đồng nghiệp.

Dù tập thể tác giả, cộng tác viên của Ban Triết học và Khoa học chính trị rất cố gắng, nhưng do thời gian và kinh phí hạn hẹp, khả năng chuyên môn có hạn, do vậy công trình nhỏ này khó tránh khỏi thiếu sót, rất mong Hội đồng khoa học và các đồng nghiệp cho ý kiến phê bình góp ý để chúng tôi có thể hoàn chỉnh, nâng cao công trình đặng góp phần làm tài liệu tham khảo cho các cấp chính quyền và các nghiên cứu tiếp theo.

Chúng tôi chân thành cảm ơn Hội đồng khoa học xét duyệt đề tài của Viện Nghiên cứu xã hội TPHCM, đã đánh giá cao cách tiếp cận khác, mới của công trình và đã cho nhiều ý kiến bổ ích để hoàn chỉnh công trình này.

Chúng tôi cũng chân thành cảm ơn Ban chỉ đạo cải cách hành chính tp. HCM và những đơn vị, cá nhân đã cung cấp thông tin và có trao đổi với nhóm đề tài này. (TP. Hồ Chí Minh, tháng 4-2007)

******

Phần mở đầu

-------------------

CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH- MỘT CÁCH TIẾP CẬN

CẦN NGHIÊN CỨU SÂU LỰC CẢN VÀ ĐỘNG LỰC CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY

Cùng với quá trình đổi mới kinh tế - xã hội, Đảng và Nhà nước ta ngày càng thấy sự yếu kém và lạc hậu của nền hành chính thời kinh tế tập trung bao cấp, do vậy mà đã từng bước khắc phục những yếu kém đó. Nhưng từ những năm 90 của thế kỷ trước và nhất là bước sang thế kỷ XXI, Đảng và Nhà nước ta đã chính thức đề ra chủ trương "Cải cách hành chính", tạo động lực cho sự phát triển đất nước…

Cải cách hành chính là nhiệm vụ quan trọng, rộng lớn liên quan đến nhiều lĩnh vực của hệ thống nhà nước, phải được tiến hành đồng bộ trong tổng thể đổi mới hệ thống chính trị nói chung. Vấn đề này đã được khẳng định trong Nghị quyết Đại hội VII, VIII, IX của Đảng. Công cuộc cải cách hành chính trong 10 năm qua (1991 - 2000) đã góp phần quan trọng vào sự nghiệp đổi mới và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương (khóa VII) đã ra Nghị quyết :"Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trọng tâm là cải cách một bước nền hành chính nhà nước". Nghị quyết 38/CP của Chính phủ ban hành ngày 4-5-1994 về "Cải cách một bước thủ tục hành chính trong việc giải quyết công việc của công dân và tổ chức". Đến ngày 17 tháng 9 năm 2001, Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định phê duyệt "Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001 - 2010". Những chủ trương chính sách trên của Đảng và Nhà nước chứng tỏ cải cách hành chính nhà nước giữ vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước.

Thành phố Hồ Chí Minh với nhiều điều kiện thuận lợi về chủ quan, khách quan đã và đang có những lợi thế phát triển so với nhiều địa phương khác trong cả nước. Thành phố là một trung tâm lớn về kinh tế, khoa học kỹ thuật, giáo dục, văn hóa... là đầu mối giao thông cả về đường thủy, đường bộ, đường hàng không, có vị trí thuận lợi về giao lưu quốc tế. Thành tựu về kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng hơn 30 năm qua là minh chứng về những điều đó. So với cả nước, thành phố chỉ chiếm khoảng 0,6% diện tích, khoảng 6,6% dân số, nhưng giá trị sản xuất công nghiệp trên địa bàn chiếm tỷ trọng 29,3% ; đóng góp 18,9% GDP và 34,9% nguồn thu ngân sách nhà nước. Tốc độ tăng trưởng GDP của thành phố giai đoạn 1991 - 1995 là 12,62%, gấp 1,53 lần so với tốc độ tăng trưởng của cả nước (8,24%). Giai đoạn 1996 - 2000, tốc độ tăng trưởng có chậm lại, chỉ đạt 10,20% nhưng vẫn gấp 1,47 lần so với tốc độ tăng trưởng của cả nước. Trong quá trình phát triển, thành phố Hồ Chí Minh luôn được sự quan tâm của các cơ quan trung ương và các cấp lãnh đạo Đảng, Nhà nước. Từ năm 1982, Nghị quyết 01 NQ/TƯ của Bộ Chính trị xác định thành phố Hồ Chí Minh có vị trí quan trọng sau thủ đô Hà Nội. Mặc dù có sự quan tâm như vậy nhưng hình như tiềm năng, thế mạnh, tinh thần năng động, sáng tạo của thành phố vẫn chưa được khai thác tốt nhất ? Có nhiều nguyên nhân, nhưng trong đó có nguyên nhân từ cải cách hành chính làm nên tốc đô tăng trưởng ấy và những hạn chế, chậm chạp trong qua trình phát triển.
Có điều là chúng ta cần quan tâm nhiều, trực tiếp gây cản trở sức bứt phá của thành phố là do chậm cải cách nền hành chính nhà nước, nhất là cải cách thủ tục hành chính chưa theo kịp với đòi hỏi của cuộc sống.

Thành phố Hồ Chí Minh muốn phát triển thì phải tiếp tục tạo được sự chuyển biến căn bản trong công cuộc cải cách hành chính, xây dựng bộ máy hành chính có hiệu lực, hiệu quả, thật sự trong sạch, vững mạnh sẽ tác động đến tốc độ tăng trưởng kinh tế và chủ động hội nhập quốc tế. Giai đoạn đầu (2001 – 2005) của Chương trình tổng thể cải cách hành chính ở thành phố Hồ Chí Minh cũng đã đạt được nhiều kết quả khả quan. Tuy nhiên, hiệu lực và hiệu quả quản lý của nền hành chính cũng còn nhiều vấn đề chưa được giải quyết để tiếp tục thực hiện Chương trình tổng thể cải cách hành chính đến năm 2010.

Thành phố Hồ Chí Minh có sáng kiến và đang tiếp tục thực hiện mô hình "cơ chế một cửa" ở các sở, ngành, xã, phường, thị trấn và "khoán biên chế hành chính" ở một số đơn vị. Kết quả giải quyết hồ sơ hành chính đúng hẹn và thoả mãn yêu cầu của tổ chức, công dân, của sở ngành, phường, xã, có nợi đạt tỷ lệ bình quân 90 - 95%. Ở các quận, huyện hoàn thiện một bước cơ chế một cửa, một dấu, đáp ứng các nhu cầu về hành chính của công dân và doanh nghiệp. Thành phố cũng đã thí điểm mô hình tổ nghiệp vụ hành chính công ở quận 3, quận 11, quận Tân Bình. Số đông công dân và doanh nghiệp hài lòng hơn khi có nhu cầu đến cơ quan Nhà nước giao dịch về hành chính …

Mặc dù thành phố đã có nhiều cải tiến, hoàn chỉnh các thủ tục, quy trình giải quyết dịch vụ công, quản lý quy hoạch, đầu tư, nhà đất, xây dựng, thu chi ngân sách, chuẩn hoá, mẫu hoá thủ tục giải quyết công việc hành chính, liên quan đến công dân, tổ chức và doanh nghiệp…, nhưng cải cách hành chính ở thành phố Hồ Chí Minh vẫn còn chậm trễ, nhiều hạn chế và vướng mắc. Dân vẫn còn kêu ca , thậm chí một bộ phận dân chúng chưa tin vào hiệu quả cải cách hành chính.

Vì vậy, thành phố Hồ Chí Minh đã đề ra một số giải pháp cải cách hành chính không chỉ về thủ tục hành chính mà toàn diện hơn trên cả bốn mặt: thể chế thủ tục hành chính; tổ chức bộ máy, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức và cải cách tài chính công. Trong đó đã đề ra những trọng tâm trong thời gian tới, nhằm xây dựng nền hành chính hiệu lực, hiệu quả, trong sạch vững mạnh, ngày càng phù hợp yêu cầu quản lý nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng xã hội đô thị dân chủ- kỷ cương, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế, phát triển bền vững.

Tuy nhiên, thực hiện Chương trình tổng thể cải cách hành chính phải mang tính đồng bộ thì mới có thể giải quyết tận gốc rễ mọi vấn đề đang và sẽ tiếp tục nảy sinh làm trì trệ sự hình hành của toàn bộ hệ thống hành chính theo hướng hiện đại, hiệu quả, đó là một công việc không đơn giản một sớm một chiều. Bởi vì nền hành chính không chỉ tồn tại độc lập, mà phải dựa trên điều kiện kinh tế – xã hội, yếu tố tâm lý, văn hoá, truyền thống, thói quen của người dân… đồng thời nó còn quan hệ chặt chẽ với sự vận hành của hệ thống chính trị, và đồng hành với quá trình phát triển kinh tế xã hội. Trong tương tác đó, nền hành chính thường lạc hậu hơn quá trình phát triển kinh tế xã hội của đất nước.

Báo cáo Tổng kết Cải cách hành chính của Ban chỉ đạo Cải cách hành chính (CCHC) Chính phủ cuối tháng 4-2006 vừa qua đã nêu những kết quả và những mặt tồn tại, hạn chế của việc thực hiện CCHC giai đoạn I (2001-2006) trên các nội dung: cải cách thể chế; cải cách tổ chức bộ máy; đào tạo, bồi dưỡng nâng cao chất lượng cán bộ công chức; cải cách tài chính công. Báo cáo cũng nêu rõ tình trạng trì trệ, kém hiệu quả trong cải cách hành chính làm cho nền hành chính nhà nước vốn "lạc hậu so với mặt bằng trong khu vực và thế giới lại có nguy cơ tụt hậu hơn nữa so với tốc độ cải cách của các nền hành chính hiện đại." . Đó là điểu rất đáng cảnh báo để mọi cán bộ công chức và mọi người trong người xã hội đều phải biết.

Do vậy, trước yêu cầu phát triển mới, nhất là khi nước ta đã là thành viên thứ 150 của WTO, thì nhiệm vụ cải cách hành chính là một trong những "vấn đề nóng", và cần phải tiếp tục đẩy mạnh nhanh hơn nữa. Năm 2006 là năm mở đầu để tiếp tục cải cách hành chính giai đoạn 2 (2006 – 2010) ở thành phố Hồ Chí Minh của chương trình cải cách nền hành chính quốc gia (2001 – 2010).
Để tiến lên, các cơ quan ban ngành, trên một mức độ nhất định cũng đã có tiổng kết công tác cải cách hành chính 6 năm qua. Việc nghiên cứu, đánh giá toàn diện sâu sắc kết quả đạt được, tìm ra những khâu còn yếu kém, những nguyên nhân và đề xuất các giải pháp chủ yếu để đẩy mạnh tiếp tục cải cách hành chính trong năm 2006 và cả 5 năm tới là rất quan trọng. Nhưng muốn hiểu sâu hơn, hệ thống hơn phải có nghiên cứu khoa học bề lĩnh vực này.
Theo nhận định của nhiều nhà nghiên cứu trong cuốn sách "Cải cách hành chính, vấn đề bức thiết cải cách bộ máy nhà nước" của Trung tâm Nghiên cứu khoa học tổ chức hành chính, do Nxb. Tổng hợp PHCM, 2004, thì công tác nghiên cứu lý luận và thực hiễn về vấn để cải cách hành chính chưa sâu sắc và chưa hệ thống. Các đề tài, đề án, dự án còn chưa thấu suốt tầm nhìn xa, sâu, chưa hợp tác quốc tế tốt trong lĩnh vực này.

Vấn đề động lực cải cách hành chính thì trong báo cáo của Nguyên Thủ tướng Phan Văn Khải và một số nhà nghiên cứu cũng có đđề cập tới. Và đó là một trong những vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn quan trọng cầ nghiên cứu sâu.

Chính vì vậy, để làm rõ tất cả những nhân tố tác động thúc đẩy hoặc kìm hãm đến quá trình cải cách hành chính đòi hỏi những nghiên cứu khoa học một cách nghiêm túc từ nhiều góc cạnh. Có thể tiếp cận nghiên cứu vấn đề trên từ các ngành hành chính học, luật học, chính trị học, triết học, xã hội học, văn hoá học, tâm lý học… Để có một cách nhìn toàn diện, biện chứng hơn, với quan điểm đó và từ tính cấp bách của vấn đề trên dây, chúng tôi đã nghiên cứu đề tài: “Lực cản và giải pháp khắc phục lực cản, phát huy động lực cải cách hành chính ở thành phố Hồ Chí Minh hiện nay”, gọi tắt là LỰC CẢN VÀ ĐỘNG LỰC CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH, với tư cách là một tiếp cận triết học ứng dụng, một cách tiếp cận khác nhằm góp phần gợi mở suy nghĩ và hành động cho cá cấp trong việc tiếp tục thực hiện sự thành công Chương trình trình tổng thể cải cách hành chính giai đoạn 2001 – 2010) ở TPHCM và cả những năm tiếp theo.

Nghiên cứu về cải cách hành chính ở góc độ khoa học hành chính hay góc độ tổng kết thực tiễn công tác ở nước ta và ở TPHCM đã có khá nhiều bài viết và một số sách. Vấn để cải cách hành chính cũng rất phong phú và phức tạp, để góp phần vào việc nghiên cứu tổng kết này, chúng tôi chọn góc nhìn, cách tiếp cận triết học- vấn đề lực cản và động lực trong cải cách hành chính là một cách nhìn khác, mới.

Vấn đề xác định đúng lực cản và tìm động lực và phát huy động lực cải cách hành chính là rất quan trọng. Động lực của cải cách hành chính, trong cải cách hành chính là một trong những vấn đề quan trọng nhất quyết định sự thành bại của cải cách hành chính, nhưng gần đây mới chỉ nêu một số chủ trương như: ban hành các chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức dôi ra khi tinh giản biên chế; thí điểm thực hiện chế độ khoán biên chế, và khoán chi phí hành chính là các giải pháp thúc đẩy cái cách hành chính, tạo dựng dần mô hình hành chính mới.

Việc nghiên cứu và nhận thức rõ hơn về lực cản và động lực trong cải cách hành chính hiện nay ở TPHCM, từ đó đề xuất giải pháp định hướng tiếp tục khắc phục lực cản và phát huy động lực, tạo nên sức mạnh tổng hợp thúc đẩy công việc cải cách hành chính nhanh hơn, đáp ứng nhu cầu hội nhập và phát triển đô thị TPHCM là có ý nghĩa rất quan trọng.

Do đó cần phải làm rõ cơ sở lý luận về lực cản và động lực trong cải cách hành chính; đánh giá tổng quát những thành công và chưa thành công trong cải cách hành chính ở TPHCM và những vấn đề cần tập trung giải quyết loên quan tới lực cản và động lực trong cải cách hành chính; phân tích những nhân tố lực cản và động lực cải cách hành chính ở TPHCM; đề xuất một số giải pháp phát huy động lực, khắc phục lực cản cải cách hành chính ở TPHCM hiện nay.

TIẾP CẬN HỆ LỰC CẢN VÀ ĐỘNG LỰC CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH LÀ TIẾP CẬN THEO PHƯƠNG PHÁP LUẬN HỆ THỐNG VÀ PHƯƠNG PHAP LUẬN PHÁT TRIỂN ĐỒNG BỘ

Chọn phương pháp tiếp cận trong nghiên cứu khoa học không chỉ là vấn đề phương pháp, góc nhìn mà đồng thời cũng là nội dung nghiên cứu dù mức độ đậm nhạt, ẩn hay hiện như thế nào của các vấn đề đó. Chọn phương pháp tiếp cận không phải khi nào cũng dựa vào phương pháp có sẵn mà có khi phải mang tính sáng tạo, nghĩa là nếu nó mới thì phải làm rõ nó về mặt lý luận đã rồi mới vận dụng, hoặc quá trình vận dụng cũng đồng thời sáng tạo nó.

Khi nghiên cứu hệ thống hành chính nhà nước, thường chúng ta nhận thấy phải nghiên cứu theo phương pháp luận hệ thống (đã có sẵn), nghĩa là tiếp cận cả vấn đề cấu trúc đồng đại và tiếp cận cả lịch đại, sự biến đổi có tính lịch sử. Nhưng không chỉ là xem xét trạng thái tĩnh, mà chúng ta còn xem xét trạng thái động, trạng thái thay đổi, cải cách. Cải cách cũng đụng chạm tới hệ thống nhưng ở đây chủ yếu xem xét sự thay đổi như thế nào.

Tiếp cận theo phương pháp luận hệ thống, nghĩa là nhận thấy hệ thống hành chính chỉ là một phân hệ của hệ thống nhà nước bên cạnh phân hệ lập pháp và tư pháp. Hệ thống nhà nước lại là một bộ phận, dù là trụ cột trong hệ thống chính trị bên cạnh phân hệ đảng và phân hệ tổ chức chính trị của nhân dân.

Tổ chức hệ thống chính trị lọai là một bộ phận của hệ thống hình thái xã hội bên cạnh phân hệ kinh tế, phân hệ văn hóa, phân hệ giáo dục. Trong hệ thống hành chính thì có bộ phận chuyên môn nghiệp vụ và bộ phận lãnh đạo quản lý, hoặc theo cách nhìn khác thì có bộ phận mục tiêu, nhiệm vụ, lực lượng thức hiện cơ chế và động lực phát triển; hoặc hệ thống hành chính theo cách nhìn hiện nay là có thể chế hành chính, bộ máy hành chính, nhận lực hạnh chính và hành chính công.

Về mặt nguyên lý thì phân hệ phụ thuộc vào hệ thống lớn hơn, nên hệ thống hành chính phụ thuộc vào hệ thống nhà nước và hệ thống chính trị, hệ thống kinh tế xã hội.. Cho nên đổi mới hay cải cách hành chính phải thấm nhần phương pháp luận hệ thống, đồng bộ đó, tuy trật tự có trước sau nhưng không thể tách rời giữa chúng.

Chúng ta biết, hệ thống hành chính chỉ là một phân hệ trong ba phân hệ lớn của nhà nước là phân hệ lập pháp và tư pháp nữa. Còn nhà nước lại nằm trong hệ thống chính trị với tư cách là bộ phận trụ cột. Cũng như hệ thống chính trị, hệ thống nhà nước cũng nằm trong hệ thống lớn hơn là hệ thống hình thái xã hội, nên nó không tách rời môi trường xã hội yêu cầu phát triển kinh tế xã hội.

Còn trong hệ thống hành chính thì bao gồm hệ thống thể chế, hệ thống bộ máy, hệ thống cán bộ công chức và hệ thống dịch vụ công.. Nhưng hệ thống hành chính còn có cấu trúc khác như các cấp hành chính từ trung ương xuống địa phương, hay có cấu trúc là cơ quan chuyên môn và cơ quan lãnh đạo quản lý. Hay nhìn theo cấu trúc: mục tiêu, nhiệm vụ, chức năng, lực lượng, động lực, cơ chế vận hành...của hệ thống hành chính.

Do vậy, trong sự vận hành của hệ thống hành chính nó là một mạng lươi nằm trong nhiều hệ tương tác, ràng buộc lẫn nhau bên trong và bên ngoài rất phức tạp, cho nên phải có tư duy biện chứng, tư duy hệ thống. Cải cách hành chính là dụng chạm không chủ trong nội thuộc (nội bộ) quan hệ hành chính mà còn cả quan hệ ngọai thuộc (ngọai bộ) của hệ thống hành chính liên quan tới hệ thống nhà nước, hệ thống chính trị và đời sống xã hội dân sự của xã hội. Tuy nhiên, ở đây, trong đề tài này chúng ta chỉ xem xét cải cách hành chính như quan hệ nội thuộc là chính nhưng không tách rời quan hệ ngọai thuộc khác có liên quan trực tiếp.

Vấn đề đặt ra cần hiểu thêm là cải cách hành chính như thế nào? Cái nào cần cải cách cái nào không, cái nào cải cách được, cái nào không cải cách được, hay không cần cải cách, giới hạn vấn đề như thế nào?

Có người cho rằng cải cách hành chính chỉ là thay một phận cũ bằng một cái mới tương tự, hoặc chỉ mạnh tính cải tiến nó. Thực ra cải cách hành chính ở nước ta hiện nay không chỉ đơn giản như vậy. Cải cách hành chính, thực ra là họat động cải tạo, thay đổi, tạo dựng hệ thống hành, không chỉ bỏ đi cái lỗi thời, tiếp thu, bổ sung yêu tố mới hay làm mới yếu tố cũ mà còn tái cấu trúc hệ thống, làm mới toàn bộ hệ thống cũ, tức là tạo ra hệ thống có tinh mới chứ không đơn thuần chỉ cải tiến, thay thế, hay sữa chữa một bộ phận nào đó.
CẢI CÁCH LÀ LÀM THEO CÁCH KHÁC, là thay đổi cách, chứ không phải thay thế một bộ phận nào đó, tương tự, tạo nên một mô hình tiến bộ, hiệu quả cao hơn.

Như thế, chúng tôi hiểu, cải cách hành chính có nhiều cấp độ, thứ bậc là 1) vừa thay đổi (lọai bỏ) những bộ phận lỗi thời, 2) vừa bổ sung những yếu tố mới, 3) vừa làm mới những bộ phận cũ nếu có thể, 4) vừa từng bước sắp xếp lại, cấu trúc lại hệ thống, tức làm mới hệ thống, tạo nên hệ thống mới nhưng không thay đổi mục tiêu cơ bản chung và bản chất, quyền lực chung của hệ thống nhà nước, hệ thống chính trị và cả hệ thống hành chính. Nếu chỉ hiểu một mặt lọai bỏ cái lỗi thời, hay cả bổ sung yếu tố mới (thay thế)... trong hệ thống ấy cũng rất không đầy đủ. Nếu không hiểu rằng phải tái cấu trúc hệ thống thì tất cả sẽ nửa vời và vô nghĩa. Làm mới hệ thống là một cách thay thế hệ thống, tạo hệ thống. Tuy nhiên, cải cách là từng bước nhưng theo ý nghĩa như vậy thì là một sự thay đổi có tính cơ bản có kế thừa. Hệ thống hành chính gắn với thời kinh tế tập trung, quan liêu bao cấp cần cải cách, thay đổi, đổi mới cơ bản. Tất nhiên không phải đập tan kiểu cách mạng mà thay dần dần từng bộ phận, tức mang tính cải cách. Trên thực tế nội dung 4 mặt mà Đảng và nhà nước ta xác định trong cải cách hành chính là thay đổi cơ bản, không có bộ phận nào là không cải cách, đổi mới, tái cấu trúc hệ thống.

Khi nói cải cách là hợp lý hóa một hệ thống mà không thay đổi bản chất của hệ thống là gần với nói cách tái cấu trúc hệ thống. Tuy với hệ thống hành chính nước ta thì cải cách hành chính không làm thay đổi mục tiêu và quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân do đảng ta lãnh đạo và mục tiêu cơ bản của sự phát triển kinh tế xã hội đã dịnh. Cải cách hành chính phải giải quyết một lọat mâu thuẫn bên trong hệ thống hành chính, hệ thống hành chính với hệ thống nhà nước, hệ thống chính trị và hệ thống kinh tế xã hội, nghĩa là mâu thuẫn nội bộ- nội thuộc và cả mâu thuẫn ngọai bộ, ngọai thuộc, khắc phục lực cản, tạo nên động lực của hệ thống.

Như vậy tiếp cận cải cách hành chính còn phải tiếp cận theo phương pháp pháp hệ thống, phương pháp phân tích mâu thuẫn mà còn phương pháp luận họat động.

Chúng tôi còn thấy rằng nghiên cứu cải cách hành chính cần nghiên cứu tiếp cận theo phương pháp luận hoạt động xem cái gì cản trở cải cách và cái gì thúc đẩy cải cách. Nói cách khác là tiếp cận theo hệ lực cản- động lực, đó cũng là cách tiếp cận theo lý thuyết họat động và lý thuyết phát triển hay triết học phát triển.

Nhưng ở đây là những mâu thuẫn nào? Ở đây không đơn giản là tiếp cận động lực cải cách hành chính mà là lực cản và động lực cải cách hành chính như một căp phạm trù, một cặp mâu thuẫn.

Với quan điểm cấu trúc hệ thống, chúng ta nhận thấy khi thay đổi một số bộ phận thì nó ảnh hưởng tới nhiều bộ phận khác và thường phải thay đổi ít hoặc nhiều về cấu trúc. Và khi thay đổi cấu trúc, tức thay đổi cái tổng thể thì như vậy cái toàn bộ ấy lại quy định cái bộ phận. Ta cũng thấy khi thay đổi, đưa công nghệ thông tin vào hệ thống hành chính thì nó tác động đến nhân sự về số lượng và chất lượng, về cách giao tiếp hành chính và phong cách làm việc, nó tác động đến nhiều bộ phận khác. Hay khi khoán biên chế, khoán quỹ lương, nếu thực hiện đúng thì nó cũng tác động mạnh đến động lực, đến chất lưộng và số lựợng sản phẩm hành chính. Do vậy, bản về cải cách hành chính tất nhiên chúng ta phải tiếp cận theo quan diểm phương pháp luận hệ thống, cái nhìn vừa mang tính tổng thể vừa mang tính bộ phận, chi tiết trong quan hệ tương tác tương sinh giữa chúng.

Chính vì vậy, không phải ở ta mà ngay ở Nhât Bản hiện nay, cũng coi cáchàhnh chính là có ý nghĩa như một cuộc cách mạng sau cách mang Minh Trị.

Tuy nhiên, khi nói cải cách hành chính là nói về sự thay đổi nhằm tạo nên động lực phát triển. Vấn đề là khắc phục sự trì trệ, cản trỏ của hệ thống hành chính đang có nhiều mặt lạc hậu, lỗi thời, bất cập không đáp ứng được nhu cầu, yêu cầu mới của sự phát triển. Đồng thời phải tạo nên động lực để cải cách nhanh hơn nền hành chính, khắc phục lực cản đang cản trở họat động cải cách hành chính. Từ đó nó đặt ra phương phát tiếp cận, nghiên cứu theo kiểu phân tích mâu thuẫn, nói rông hơn là tiếp cận theo triết học phát triển hay lý thuyết phát triển.

Đây không chỉ nghiên cứu sự mâu thuẫn thuộc về quan hệ giữa thượng tầng kiến trúc và hạ tầng cơ sở mà chủ yếu nghiên cứu mâu thuẫn liên quan tới các bộ phận cấu thành của hệ hành chính, xem nó đồng thuận hay không, đồng bộ hay đối lập.. Nhưng hình như vẫn không đầy đủ, không mới. Phải có một cách nhìn khác, phức hợp hơn, có liên quan tới cả hai lọai mâu thuẫn bên trong và bên ngoài ấy của hệ thống. Tức phải tìm cách tiếp cận khác mới hơn. Tuy nhiên lại cần thấy rằng, chúng tôi cũng không đơn thuần tiếp cận, phân tích mâu thuẫn nói chung mà tiếp cận thẳng vào hệ vấn đề lực cản- động lực của cải cách hành chính. Đó là chúng tôi muốn nhìn tiếp cận từ phương diện chủ thể, phương diện họat động của con người là chính, tuy nó không biệt lập khỏi hệ thống mà nó liên quan hữu cơ với hệ thống, nằm trong hệ thống, linh hồn của hệ thống. Đó cũng chính là nhìn nhận mâu thuẫn giữa lực cản và động lực trong họat động cải cách hành chính. Như vậy tiếp cận lực cản và động lực cải cách hành chính cũng là tiếp cận họat động là chính chứ không phải chỉ tiếp cận hệ thống.

NGHIÊN CỨU HỆ LỰC CẢN, ĐẶT NÓ NGANG VỚI HỆ ĐỘNG LỰC TRONG TƯƠNG QUAN BIỆN CHỨNG, TẠO NÊN MỘT CĂP PHẠM TRÙ MỚI, MỘT CÁCH NHÌN KHÁC- MỚI: LỰC CẢN VÀ ĐỘNG LỰC CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH NHẰM THÚC ĐẨY SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI

Nói về động lực trong lý thuyết phát triển, thì cũng đã có nghiên cứu và trong cải cách hành chính, hiện nay cũng đã được nêu lên.

Ông Nguyễn Ngọc Hiến, trong bài viết "Lý luận quản lý nhà nước trong việc thúc đẩy cải cách hành chính ở nước ta"(Tạp chí Cộng sản cập nhật ngày 22/1/2007) cho rằng "Thực tiễn đang đòi hỏi phát triển tư duy lý luận về cải cách hành chính. Việc phát triển lý luận đem lại sự nhận thức sâu sắc về bản chất và quy luật của quá trình cải cách hành chính, làm cho hoạt động cải cách diễn ra chủ động và tự giác hơn". Và đã nêu ra 9 vấn đề lý luận cần nghiên cứu trong đó đáng lưu ý ở 2 vấn đề (thứ sau và thứ bảy) sau đây:

"Thứ sáu, nghiên cứu lý luận về cải cách hành chính theo thiết chế dân chủ. Phát huy dân chủ vừa là mục tiêu vừa là động lực của công cuộc đổi mới nói chung, của công cuộc cải cách hành chính nói riêng ở nước ta. Trong lĩnh vực hành chính, phát huy dân chủ có nghĩa là tạo điều kiện để nhân dân tham gia vào các công việc quản lý nhà nước. Vì vậy, công tác lý luận cần tập trung nghiên cứu xây dựng cơ chế phát huy dân chủ của nhân dân trong quản lý nhà nước.

Thứ bảy, tìm tòi và phát hiện ra động lực của cải cách hành chính. Trong cải cách hành chính, đội ngũ cán bộ, công chức vừa là chủ thể vừa là đối tượng của cải cách hành chính. Vì vậy, cần nghiên cứu các lý thuyết về quản lý nguồn nhân lực trong bộ máy hành chính, tạo ra cơ chế sử dụng công chức có hiệu quả để thúc đẩy đội ngũ này tự cải cách. Nghiên cứu, tìm ra cơ chế ngăn chặn và đẩy lùi nạn tham nhũng, quan liêu, lãng phí trong bộ máy nhà nước và nâng cao đạo đức, năng lực của công chức."

Tất nhiên theo chúng tôi không chỉ nghiên cứu hệ động lực mà cả hệ lực cản và trước hết là nghiên cứu hệ lực cản, đặt nó ngang với động lực trong tương quan biện chứng, tạo nên một căp phạm trù mới: lực cản và động lực phát triển (nói chung và trong cải cách hành chính nói riêng).

Đây không phải giản đơn là hệ vấn đề khó khăn / thuận lợi hay nguyên nhân của tình trạng hiện tồn theo kiểu nhân / quả (tức theo ngôn ngữ và cách tiếp cận theo văn bản tổng kết thực tế, văn bản nghị quyết), dù chúng có liên quan, nhưng không phải là một. Ở đây không chỉ là khái niệm khoa học khác với từ ngữ thông thường mà còn là trong tương quan cách nhìn tĩnh (khó khăn/ thuận lợi) với cách nhìn động (lực cản/ động lực). Chúng tôi chuyển cách tiếp cận nhân/quả, hay khó khăn/ thuận lợi quen thuộc sang cách tiếp cận: lực cản- động lực tạo nên cách nhìn mới về đối tượng nghiên cứu mà theo chúng tôi là một trong những vấn đề quan trọng của triết học phát triển hiện nay...

Chưa hẳn thuận lợi là động lực, khó khăn là lực cản, hay chỉ như thế. Nhưng lực cản không chỉ khó khăn mà cả thách thức, cả hạn chế, thất bại. Nghĩa là các phạm trù khái niệm có sự khác nhau tương đối, không nên đồng nhất là một, và không nên tư duy theop lối quen thuộc. Vấn đề đáng quan tâm là khi tiếp cận hệ lực cản/ động lực cải cách hành chính là một cách tiếp cận phức hợp, liên kết nhưng theo phương phát triển, nhìn nhận như một lọai hình mâu thuẫn mới. Tất nhiên ở đây chúng ta không bàn nhiều có tính lý thuyết về vấn đề này mà chủ yếu sử dụng nó như là phương pháp luận, tiếp cận vấn dề cải cách hành chính hiện nay ở TPHCM là chính. Nghĩa là một kiểu ứng dụng phương pháp luận và vấn đề triết học vào tổng kết thực tiễn cải cách hành chính, nhằm khám phá, chỉ ra đâu là lực cản và đâu là động lực cải cách hành chính, nó quan hệ chuyển hóa thế nào và từ đó phương pháp giải quyết cần chú ý phải sao, có khía cạnh gì mới? Nhưng cần hiểu rõ bản chất của vấn đề, tức tính lý luận cơ bản, tính căn cơ khoa học của nó

Để hiểu rõ lực cản và động lực trong cải cách hành chính, tất nhiên, theo tầm nhìn rộng biện chứng, chúng ta phải xem xét bản thân nền hành chính trong tương quan với các hệ thống khác của nhà nước như hệ thống lập pháp, hệ thống tư pháp, nhà nước với hệ thống đảng cầm quyền và hệ thống xã hội dân sự, nền kinh tế của đất nước đang biến đổi. Nhưng tầm nhìn biện chứng hẹp hơn là nghiên cúu các quan hệ bộ phận tuơng tác trong bản thân nền hành chính trong đó nhân tố trung tâm chủ động là hệ thống nhân lực, cán bộ hành chính, trong đó bao hàm quan hệ cá nhân và tổ chức. Nhưng không chỉ có vậy, vấn đề là phải xem xét hệ thống hành chính trong quan hệ với sự biến đổi, phát triển của nền kinh tế xã hội, nhu cầu lợi ích của nhân dân và sự biến đổi như thế nào của hệ thống hành chính.

Những vấn đề lý luận, phương pháp luận nền tảng này, do phạm vi đề tài, vấn đề đang đặt ra nghiên cứu nên chúng tôi không bàn riêng thành một mục lớn mà nó được thẩm thấu trong toàn bộ vấn đề khi chúng tôi phân tích cụ thể động lực và lực cản trong cải cách nền hành chính ở nước ta và ở TPHCM.
Công trình này với cách tiếp cận triết học phát triển, chúng tôi chủ yếu xem xét quá trình thực hiện (hoạt động) thực tiễn cải cách hành chính các cấp ở TPHCM trong 5 năm gần đây ở cấp độ tổng quát trên địa bàn thành phố, không đi vào từng ngành, lĩnh vực hay từng cấp quận huyện, cơ sở, nhưng chú ý những điển hình, những tình huống có vấn đề.

Từ đó, chủ yếu là xác định lực cản và động lực cải cách hành chính ở TPHCM. Muốn vậy phải làm rõ cơ sở lý luận và phương pháp luận để nhận thức, tìm tòi và đánh giá những thành công và hạn chế của cải cách hành chính. Từ đó nhận thức lực cản và động lực cải cách hành chính ở TPHCM và đề xuất biện pháp thúc đẩy cải cách hành chính nhanh hơn và có hiệu quả hơn.

Bản thân vấn đề rộng lớn, phức tạp, liên quan tới nhiều ngành khoa học, nên đề tài chỉ hạn chế tiếp cận (bằng lối đi) triết học nhằm xâu chuỗi vấn đề theo một lát cắt có ý nghĩa phương pháp nhiều hơn là đề xuất một vài giải pháp cụ thể. Và như thế là có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc.

Lôgíc chính, khía cạnh tiếp cận, cách tư duy mới của công trình này là:

Về mặt khoa học:Trên cơ sở làm rõ khái niệm cải cách hành chính, lực cản và động lực cải cách hành chính; từ đó, đề tài đã làm rõ về mặt lý luận và đặc biệt cách tiếp cận lực cản - động lực như là một lọai mâu thuẫn của quá trình cải cách. Đây là cách tiếp cận mới xét ở góc độ triết học phát triển đương đại và mở ra cách tiếp cận triết học khác nữa (nhận thức luận: cải cách hành chính, lý luận và thực tiễn ). Và ngay ở đây nhóm tác giả cũng chú ý rằng phải đổi mới theo phương pháp luận đồng bộ, căn cứ vào từng thời kỳ để đánh giá đúng lực cản và động lực- mâu thuẫn của sự phát triển và cải cách hành chính và từ đó có giải pháp thích hợp. Đồng thời, nó gợi mở tư duy động lực, tư duy phát huy động lực, hay giải pháp động lực, giải pháp phát huy động lực.

Về mặt thực tiễn: Nhóm tác giả không chỉ phân tích khái quát những mặt được và chưa được- như 2 mặt biện chứng của quá trình vận động của cải cách hành chính ở TPHCM, qua đó gợi mở những vấn đề đang đặt ra cách giải quyết; từ đó đề tài xác định những lực cản trong cải cách hành chính hiện nay. Phân tích những lực vản từ nhiều góc độ. Thực tế chỉ rõ lực cản rất lớn chứ không phải ở mức hạn chế, hoặc chủ vài yếu kém mà cả trì trệ, trì hõan, làm chậm cải cách ở một phận nào đó không nhỏ. Phân tích này cũng cho ta hiểu thêm thực chất, khó khăn, thách thức của quá trình cải cách hành chính sắp tới; Nhưng quan trọng hơn là phân tích một số động lực chính trong cải cách hành chính hiện nay. Động lực dù tiềm năng hay hiện thực nhưng đang có khả năng lớn hơn lực cản, nếu biết tạo ra và phát huy tổng hợp, sáng tạo mới, táo bão và khoa học, dân chủ và vì dân. Theo đó mà hướng tới dề xuất một số giải pháp phát huy động lực, khắc phục lực cản hiện nay, nhất là khi xây dựng các chương trình hành động cụ thể.

PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN ĐỀ TÀI

Nghiên cứu cải cách hành chính không chỉ là vấn đề của nuớc ta hay một số nước mà là vấn đề toàn cầu, đã đang diễn ra ở nhiều nước . Đã có nhiều công trình nghiên cứu mà chúng tôi không có điều kiện đọc hết nhưng với thông tin có được, chúng tôi nhận thấy cần có cái nhìn rộng rãi trong việc nghiên cứu tiếp thu cả kinh nghiệm cải cách hành chính của các nước trên thế giới trong có có vấn để chắc là liên quan tới lực cản và động lực cải cách hành chính.

Chúng ta cần nghiên cứu các kinh nghiệm quốc tế về cải cách hành chính, nhất là cơ chế tạo và phát huy động lực.

Xuất phát từ cải cách kinh tế xã hội để cải cách hành chính và phục vụ cải cách kinh tế xã hội (các nước châu Á, châu Phi rất chú ý yêu cầu này). Với Pháp: vạch ra nguyên tắc cải cách hành chính, tạo nên nền hành chính: phục vu công dân, hành chính đơn giản hóa, hiện đại hóa, công khai hóa, minh bạch hóa, hiệu quả hóa.

Còn Nhật Bản thì:1) cần xây dựng cơ sở pháp lý chu���n cho quản lý hành chính; 2) cần có lượng hóa tiêu chuẩn công chức để khi cạnh tranh (khi công chức phản đối việc giảm biên chế) có cơ chế tự loại bỏ (tự rút lui), mới hạn chế được bộ máy công chức; 3) có kế họach giải quyết số nhân lực dư thừa khi cải cách hành chính; 4) thành lập cơ quan đặc trách về cải cách hành chính có hiệu quả; 5) xây dựng văn hóa công sở, văn hóa hành chính, khuyến khích tài năng, tâm huyết và quan trọng là phải trả công xứng đáng.…

- Ở Anh: 1) tập trung đào tạo trẻ hóa cán bộ công chức; 2) tăng cường đối thoại giữa chính quyền với nhân dân; nâng cao chất lượng phục vụ; 5) tuyển chọn người có năng lực vào chính quyền địa phương.

- Đối với Thụy Sĩ: áp dụng chế độ hợp đồng công chức 4 năm một lần; thực hiện cơ chế thuyên chuyển nhân sự; thu hút nhân tài tư nhân vào khu vực công.

- Với Hàn Quốc: thu hút nhân dân vào công việc của chính quyền; xây dựng chính phủ điện tử; xây dựng ủy ban độc lập chống tham nhũng …

Chúng tôi cũng thấy rằng ở nước ta và ở TPHCM đã có một số công trình, sách, bài báo, hội thảo, báo cáo tổng kết thực tiễn về cải cách hành chính và các vấn đề liên quan tới đề tài đã thực hiện.

Trong đó có những công trình sách đã xuất bản đáng chú ý của các tác giả, trong đó có của chúng tôi, chẳng hạn như: 1-TS. Hồ Bá Thâm: Động lực và tạo động lực phát triển xã hội; PGS,TS. Phan Xuân Biên, PGS.TS.Phan Minh Tân, TS. Hồ Bá Thâm (đồng chủ biên): Nâng cao năng lực quản lý đô thị từ thực tế TPHCM; TS.Hồ Bá Thâm: Phương pháp hệ thống và yêu cầu đổi mới hệ thống chính trị ở nước ta hiện nay; TS. Hồ Bá Thâm: Tâm lý học quản lý đô thị từ thực tế TPHCM; Trung tâm Nghiên cứu khoa học tổ chức quản lý: Cải cách hành chính, một số vấn đề cấp thiết để đổi mới bộ máy quản lý; Ban chỉ đạo Trung ương 6(2), Viện Khoa học xã hội Việt Nam: Tệ quan liêu, lãng phí và một số giải pháp phòng chống; Trung tâm KHXH&NV.TPHCM, PGS.TS.Phan Xuân Biên chủ biên: Một số vấn đề đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng và nâng cao chất lượng của hệ thống chinh trị cấp cơ sở...

Một số tài liệu, sách báo có liên quan: Các văn bản của nhà nước ta, các báo cáo tổng kết của TPHCM về cải cách hành chính, những thông tin từ báo chí, từ hội thảo và từ đối thoại của lãnh đạo thành phố với doanh nhân và đa số auần chúng nhân dân qua tạp chí, báo, kỷ yếu, báo cáo nội bộ...(xem Danh mục tài liệu tham khảo).

Nghiên cứu khối lượng sách báo, tài liệu trên, chúng tôi thấy rõ thêm cơ sở lý luận và những chủ trương cũng như nhận định, đánh giá, những tư liệu về cải cách hành chính ở nước ta và ở TPHCM khá phong phú. Tuy nhiên với lối tiếp cận mới nói trên, chúng tôi phải tiếp tục đào sâu hơn về lý luận và khái quát thực tiễn gần hơn vói tư duy, phương pháp của nhà lãnh đại, quản lý.

Nhưng hiện nay thực sự chưa có một công trình nào nghiên cứu chuyên sâu vấn đề lực cản và động lực trong cải cách hành chính, nhất là ở TPHCM như một chuyên đề và nghiên cứu thật sự sâu và có hệ thống, nhất là ở góc nhìn triết học phát triển ở cấp độ ứng dụng, phân tích một thực tế điển hình.

Trong quá trình nghiên cứu chúng tôi đã sữ sử dụng các phương pháp như: nghiên cứu tài liệu, tư liệu, so sánh các ý liến khác nhau, suy ngẫm về các vấn đề đặt ra.

Chúng tôi cũng tiến hành trao đổi với một số nhà nghiên cứu có liên quan (nhất là tại hội thảo "Xây dựng chính quyền đô thị ở TPHCM, một yêu cầu bức thiết của cuộc sống", tháng 12-2006 và nhiều hội thảo, tọa đàm khác ); chúng tôi quan sát một số hoạt động liên quan tới thủ tục hành chính, và bản thân có những tham gia trực tiếp vào giao dịch hành chính. Chính tại đây đã cung cấp cho chúng tôi những tư liệu sống (hành vi ứng sử, quá trình gaỉi quyết...), từ đó góp phần vào những nhận định quan trọng mang hơi thở cuộc sống- một lĩnh vực nóng hiện nay.

Hiểu rõ cách tiếp cận cải cách hành chính, động lực và lực cản cải cách hành chính cũng như phương pháp nghiên cứu trên đây là cơ sở để hiểu các vấn đề tiếp theo trình bày trong cuốn sách này.

****

Phần kết luận

--------------------

CẦN CÓ CHÍNH SÁCH TẠO ĐỘNG LỰC MẠNH MẼ, KHẮC PHỤC LỰC CẢN TRONG CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH HIỆN NAY Ở TPHCM

Qua quá trình nghiên cứu, với tầm nhìn triết học và sự ứng dụng triết học phân tích họat động cải cách hành chính cả góc nhìn phương pháp luận hệ thống và phương pháp luận mâu thuẫn, chúng tôi rút ra một số kết luận và kiến nghị cả về mặt cách tiếp cận, mặt khoa học và mặt thực tế, tổng kết thực tiễn.

I-VẤN ĐỀ KHẮC PHỤC LỰC CẢN VÀ PHÁT HUY ĐỘNG LỰC

Về cách tiếp cận

Bước sang giai đoạn 2 (2006 – 2010) cuả Chương trình tổng thể cải cách hành chính, thành phố Hồ Chí Minh tiếp tục thi hành và nghiên cứu những vướng mắc đã và đang tồn tại. TPHCM cần đẩy mạnh nhiệm vụ cải cách hành chính quyết liệt hơn như là một khâu đột phá để hội nhập và phát triển ở nấc thang cao và sâu hơn. Năm 2006 và cả năm 2007 cũng vậy vẫn là năm tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính ở thành phố Hồ Chí Minh.

Trên phạm vi cả nước, Chính phủ cũng đã có chương trình cải cách hành chính và cũng đã tiến hành chỉ đạo thực hiện lĩnh vực này. Nhưng mới đây (10-2006) theo nguyên Thủ tướng Phan Văn Khải đánh giá là chưa tạo nên chuyển biến cơ bản, tức cũng chưa thực sự thành công. Ở TPHCM tuy có nhiều tiến bộnhư nhân dân và doanh nghiệp vẫn còn kêu, họat động của hệ thống hành chính còn chậm chạp, bỏ lỡ không ít cơ hội đầu và phát triển...

Đặc biệt là sau đại hội Đảng lần thứ X và sự thay đổi nhân sự Chính phủ ở cấp Thủ tướng, Tân Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, đã nhận thức và chỉ đạo sáng tạo, quyết liệt hơn về cái cách hành chính trong thời kỳ mới. Ở TPHCM, cũng với tính thần đó đã được thể hiện trong cấp lãnh đạo của thành phố, từ cấp ủy đảng tới cấp chính quyền .

Do vậy, việc nghiên cứu đánh giá toàn diện sâu sắc kết quả đạt được, tìm ra những khâu còn yếu kém, và từ đó đề xuất các giải pháp chủ yếu để đẩy mạnh tiếp tục cải cách hành chính trong năm 2007 và các năm tới là rất quan trọng.

Một trong những vấn đề quan trọng bậc nhất liên quan tới giải pháp trên, theo chúng tôi là nghiên cứu những lực cản đang trì hoãn, né tránh cải cách hành chính và những động lực thúc đầy cải cách hành chính nhanh hơn, có hiệu quả hơn và từ đó tìm giải pháp phát huy động lực cải cách hành chính hiện nay ở thành phố Hồ Chí Minh. Củng với việc vận dụng phương pháp luận hệ thống, phân tích mâu thuẫn thì cách tiếp cận cải cách hành chính từ lực cản và động lực là có chiều sâu, khác với các nghiên cứu đã có tức là mới.

Về nội dung rút ra từ các kết quả nghiên cứu :

1- Cải cách nền hành chính không phải thay thế kiểu bộ phận thông thường hay kiểu sữa chưa hư hỏng, mà là một sự thay đổi lớn, tái cấu trúc hệ thống, đưa vào nhiều công nghệ tổ chức tiến tiến, làm mới toàn bộ hệ thống, tức là làm theo cách khác tiên tiến hơn, tao nên mô hình tổ chức và hoạt động hành chính có công suất cao hơn, hiệu quả hơn trong, tuy không thay đổi quyền lực nhà nước và bản chất của nền hành chính. Nhưng đó là sự cải cách mang tính cách mạng phù hợp với quá trình chuyển từ nền kinh tế tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Chúng tôi hiểu, cải cách hành chính có nhiều cấp độ, thứ bậc là 1) vừa thay đổi (lọai bỏ) những bộ phận lỗi thời, 2) vừa bổ sung những yếu tố mới, 3) vừa làm mới những bộ phận cũ nếu có thể, 4) vừa từng bước sắp xếp lại, cấu trúc lại hệ thống, tức làm mới hệ thống, tạo nên hệ thống mới nhưng không thay đổi mục tiêu cơ bản chung và bản chất, quyền lực chung của hệ thống nhà nước, hệ thống chính trị và cả hệ thống hành chính. Nếu chỉ hiểu một mặt lọai bỏ cái lỗi thời, hay cả bổ sung yếu tố mới (thay thế)... trong hệ thống ấy cũng rất không đầy đủ. Nếu không hiểu rằng phải tái cấu trúc hệ thống thì tất cả sẽ nửa vời và vô nghĩa.

2-Những thành quả đạt được trong cải cách hành chính vừa quan là đáng trân trọng nhưng yếu kém, hạn chế, bất cập trong cải cách hành chính, những lực cản còn lớn. Nếu không giải quyết được một cách cơ bản thì sẽ lỡ cơ hội, trong bối cảnh hội nhập hiện nay. Không có tầm nhìn khoa học, biện chứng, không đổi mới đồng bộ trong hệ thống chính trị và cải cách quyết liệt thì không có cơ may thành công theo lộ trình.

Tiếp cận lý luận và thực tiễn đối với lực cản và động lực-như nột lọai mâu thuẫn trong cải cách hành chính là có ý nghĩa lớn về phương pháp luận và gợi mở thiết thực về thực tiễn, tránh tình tình trạng hô hào cải cách nhưng thiếu động lực nội tại.

Nhưng ở đây cần phân biệt:1) nền hành chính khi nào là lực cản và là động lực đối với nền kinh tế xã hội; 2) những động lực và lực cản trong cải cách hành chính; 3) động lực và lực cản vận hành của nền hành chính (lúc bình thường, không có cải cách). Trọng tâm nghiên cứu xem xét là lại động lực, lực cản loại thứ 2.

Động lực và lực cản đều liên quan tới nhu cầu, lợi ích và sự tương thích hay không giữa các bộ phận hợp thành như những mâu thuẫn biện chứng. Đáng chú ý nhất là vấn đề mâu thuẫn hay thống nhất giữa các lợi ích trong cải cách hành chính, vấn đề thiếu hay yếu hay không có động lực ở đây.

3- Những lực cản của cải cách hành chính hiện nay có nhiều lọai:1)về thủ tục hành hành chính rườm rà, luật lệ về hành chính chưa minh bạch, rõ ràng, chưa đơn giản, thuận lợi cho dân..; 2) bộ máy tổ chức nhiều nấc tầng, chồng chéo về chức năng nhiệm vụ; 3) tâm lý trì trệ, quan liêu, hách dịch, hành dân, hành nhau; 4) ý thức trách nhiệm thấp, có khi là vô trách nhiệm, trách nhiệm cá nhân không rõ ràng; 5) lợi ích mang lại cho dân còn ít, chưa phát huy được dân chủ của nhân dân trong cải hách hành chính; 6) lương và chế độ khuyên khích đối với hệ thống công chức còn yếu; 7) công chức đông mà không chuyên nghiệp, trình độ, kỷ năng hành chính hạn chế....

Những động lực của cải cách hành chính có liên quan biện chứng ngược lại với các lực cản ấy. Cải tạo những lực cản , tạo dựng nên những nhân tố có lợi cho sự phát triển của hệ thống hành chính và của hệ thống kinh tế xã hội, phục vụ tốt nhu cầu và lợi ích của nhân dân và mang lại cả lợi ích cho đội ngũ cán bộ công chức thì đó là động lực trong cải cách hành chính. Có nhiều lọai động lực nhưng có thể nhấn mạnh một số động lực cải cách hành chính chủ yếu như sau:1) thực hành đúng chế độ trách nhiệm cao; 2) chế độ lợi ích (lương, thưởng, phạt...) cho cán bộ công chức;3) thức hành dân chủ (phản biện, giám sát...) trong cải cách hành chính nhà nước; 4) thay đổi đồng bộ hệ thống thể chế hành chính cả thủ tục, giảm biên chế và tinh giản bộ máy hành chính...5) gắn với đổi mới hệ thống chính trị;

Trên thực tế cần kết luận là công tác cải cách hành chính hiện nay đang thiếu động lực, ngược lại, lực cản còn rất lớn, nếu không tạo nên động lực mạnh, hợp lực và khắc phục lực cản thì công tác cải cách hành chính khó thành công như mong đợi.

4- Trên tính thần thay đổi cơ bản mô hình nền hành chính nhà nước (chứ không chỉ đối phó với áp lực công dân), nên phải có hệ thống giải pháp đồng bộ, cơ bản, căn cơ và cả giải pháp mới, mạnh mẽ, mang tính đột phá mới có thể giải quyết cơ bản lực cản, yếu kém, và phát huy được những động lực. Cần phải táo bạo hơn, nghiên cứu và giải quyết căn cơ hơn liên quan đổi mới và làm trong sách, năng động hóa, khoa học hóa, dân chủ hóa cả hệ thống chính trị trên cơ sở xác định các động lực chính, đứng để tình trạng thiếu động lực, sẽ khó đẩy nhanh tốc độ và thực hiện bền vững cải cách hành chính hiện nay.

Ở TPHCM đặc biệt chú ý kết hợp cải cách hành chính với việc xây dựng mô hình chính quyền đô thị, xây dựng xã hội dân sự để từ đó tạo nên một đi6ẻn hình mới sáng tạo trong việc cải cách chính quyền nhà nước đô thị, tạo nên một chính quyền hiện đại theo hướng pháp quyền xã hội chủ nghĩa. .

Tất cả các cấp, các ngành cần nâng cao ý thức chính trị quyết tâm chính trị, chỉ đạo kiểm điểm đánh giá sâu, tìm cho đựic nguyên nhân là giải páhp mới, có chương trình hành động thực hiện các nhiệm vụ và mục tiêu đặt ra, đồng thời tiếp tục xây dựng tầm nhìn tiếp theo cho chương trình cải cách hành chính mới. Phải coi đây là một mặt trận cực kỳ quan trọng và nóng bỏng hiện nay.
-Tóm lại, giải pháp thì có nhiều, nhưng đến đây, chúng tôi xin nhấn mạnh giải pháp từ tăng cường sự lãnh đạo cương quyết hơn, chủ trương và giải pháp động bộ, biện chứng hơn, Đảng phải gương mẫu cải cách, đổi mới bản thân hệ thống tổ chức và phương thức lãnh đạo; đồng thời phải dân chủ nội bộ, mở rộng và phát huy dân chủ xã hội để nhân dân có tiếng nói quyết định vào hệ thống cải cách hành chính, hệ thống chính quyền từ trung ương đến cơ sở theo tư duy mới.

Tính thực thi các giải pháp

Những giải pháp, một phần là tiếp tục từ kinh nghiệm thành công và chưa thành công vừa qua mà có điều chỉnh và nhấn mạnh.

Đồng thời có những khía cạnh mới trong khi lưu ý mức độ của vấn đề, nhưng nó nằm trong kinh nghiệm chung của nền dân chủ và nền hành chính hiện đại mà chúng ta có thể từng bước áp dụng cho thích hợp.

Công trình này không làm nhiệm vụ chỉ dẫn ứng dụng cụ thể mà xác định rằng đã chú ý xác định một tầm nhìn khám phá đâu là lực cản chính cần khắc phục và động lực chính cần phát huy và đâu là giải pháp phải tìm và thực hiện khác phục lực cản, phát huy động lực cụ thể.

Những lực cản và động lực cũng như một số giải pháp nêu ở các chương trên vừa có ý nghĩa phổ biến vừa có nội dung và tinh đặc thù ở TPHCM.

DỰ BÁO VÀ KIẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH, GIẢI PHÁP ĐỘNG LỰC :

Dự báo:

Đây là vấn đề cần nghiên cứu riêng và sâu, ở đây chỉ như một gợi để suy nghĩ:

1- Một số nhà khoa học trong và ngoài nước vẫn coi cải cách hành chính là một trong 10 lĩnh vực nóng nhất sắp tới khi chúng ta hội nhập sâu rộng hơn vào nền kinh tế toàn cầu.

2- Khi chúng ta tham gia đầy đủ với WTO thì một sức ép tích cực sẽ diễn ra đối với công cuộc cải cách hành chính. Chúng ta không thể chần chừ, trì hoãn được nữa. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng lúc này qui mô, nhịp độ và tính tòan diện cải cách hành chính sẽ diễn ra trong 5 năm tới. Và củng với nó là cải cách cơ quan đại quyền lực của nhân dân, cải cách tư pháp và nói chung là cải nhà nước, (ở TPHCM là cải cách chính quyền đô thị), cải cách hệ thống chính trị.

3- Dù có nhiều khó khăn nhưng khả năng chúng ta chủ động cải cách hành chính thành công nhiều hơn khả năng trù trệ, không thành công.

Từ cuối năm 2006 đầu năm 2007, Chính phủ và một số bộ ngành cũng đã có nhiều khởi động thể hiện tính quyết liệt hơn thực hiện cải cách hành chính trong giái đoạn 2006-2010 và cũng đã có giải pháp đột phá như cuộc đối thọai của Thủ tương chính phủ, của Chủ tịch nước mới đây chẳng hạn.

Ở TPHCM cũng theo tinh thần đó. Nhân hội nghị của Ban chấp hành đảng bộ TPHCM lần thứ 7, khóa VIII, đồng chí Bí thư Lê Thanh Hải đã nhấn mạnh, "cải cách hành chính là khâu đột phá, là chìa khóa để thành phố hội nhập nhanh nến kinh tế thế giới, tận dung thời cơ và vượt qua thách thức"

4- Có thể TPHCM lại có những sáng kiến mới, mô hình, kinh nghiệm mới, như từng có trong 10 năm trước.

Chính vì vậy, chúng ta tin rằng năm 2007 và tiếp theo sẽ có một bước thay đổi lớn trong cải cách hành chính.

Kiến nghị:

1- Trên cơ sở nghiên cứu sâu về cải cách hành chính ở TPHCM trong thời gian qua, phải mạnh bao đổi mới tư duy, nhận thức hành chính làm tiền đề, rút kinh nghiệm, tiếp cận nhận thức mới (chẳng hạn tiếp cận mới: lực cản- động lực), có một chương trình chỉ đạo khoa học, quyết liệt từ cấp đảng đế cấp chính quyền, thu hút mạnh nhân dân tham gia cải cách hành chính, từ đó mà chỉ đạo tới tạo nên đột phá mới.

2- Nghiên cứu tiếp tục (hoặc áp dụng mới) những giải pháp (chính sách) động lực mạnh như khóan biên chế, khóan quỹ lương; cải cách mạnh chế độ tiền lương và giảm biên chế hành chính; tiến tới chuẩn bị thí điểm chế độ hợp đồng cán bộ công chức , trừ cấp cao từ thứ trưởng và tương trương trở lên khi chuẩn bị những điều kiện cần thiết (chẳng hạn sau 5 năm nữa); sớm thực hiện chế độ thi công chức quản lý lãnh đạo các cấp, cạnh tranh mạnh mẽ với chương trình hành động cụ thể rõ rằng; chế độ thu hút nhân tài hành chính...Cần tạo nên những động lực mạnh, đòn bẩy mạnh mới khắc phục được lực cản.

3- Phải cải cách động bộ. Đảng phải gương mẫu trong nhà nước pháp quyền (đổi mới phương thức lãnh đạo, minh bạch tài chính, và nhất là luật hóa phương thức lãnh đạo ấy, cán bộ cao cấp và dân thường bình dẳng trước pháp luật.. .), cấp trên phải gương mẫu cải cách, sâu sát với dân (như Bộ Tài nguyên và Môi trường vừa qua chẳng hạn). Phải đổi mới đồng bộ cả hệ thống chính trị, cải cách nhà nước, xây dựng nhà nước pháp quyền và cả xây dựng xã hội dân sự (ở TPHCM thì cần gắn cải cách hành chính với xây dựng mô hình chính quyền đô thị). Trong thực tế chúng ta chưa nói rõ mục tiêu xây dựng xã hội dân sự (tuy có nói xây dựng xã hội dân chủ, nhưng còn mờ nhạt). Từ đó Đảng phải tăng cường lãnh đạo của mình trong lĩnh vực nóng, có tính đột phá quan trọng bậc nhất này.

4-Thể chế và cơ chế chính trị, hành chính thì có nhiều vấn đề, nhưng chúng tôi muốn nhấn mạnh phải nghiên cứu tạo nên đột phá ngay ở đây để thực thi cơ chế, thể chế phản biện xã hội, và cơ chế, thể chế quyền lực giám sát quyền lực, xã hội dân sự giám sát quyền lực nhà nước và quyền lực đảng cầm quyền, nếu không khó lòng làm trong sạch bộ máy, nâng cao hiệu lực, hiệu quả bộ máy và khó thực thi gân chủ pháp quyền vì nhân dân, do nhân dân, của nhân dân. Tuy duy khác đi là không duy vật thực tiễn và không biện chứng, không cách mạng, không thoát khỏi "mặc cảm chính trị".

5- Chuẩn bị xây dựng chương trình cải cách hành chính cho lộ trình 2010-2020 ngày từ bây giờ, xét về mặt nghiên cứu khoa học và mặt tầm nhìn xa, tầm chiến lược.

Cải cách hành chính không có điểm dừng, những giải đạn khác nhau có nhiệm vụ khác nhau. Đó cũng là kinh nghiệm nhiều nước. Chỉ có bắt đầu nghiên cứu, chẩn bọ từ bây giờ thì mấy năm nữa chúng ta mới có thể chính xác nó và chủ động hơn trong cải cách, tranh vừa thiết kế vừa thi công,

6- Phải thấm nhuần và kết hợp cải cách đồng bộ trong nền hành chính và ngoài nền hành chính, gắn cải cách hành chính với các các lĩnh vực khác như cải cách hệ thống chính trị với cải cách và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường, cải cách văn hóa, thể chế văn hóa và cải cách thể chế giáo dục- đào tạo. Chính thấm nhuần phương pháp luận cải cách đồng bộ như vậy mới khắc phục được lực cản, phát huy đồng lực, tạo hợp lực mạnh cho cải cách và phát triển bền vững.

-------------

Tài liệu tham khảo:

1-Nguyên Thủ tướng Phan Văn Khải có lần làm việc với TPHCM , cho rằng thành phố cải cách hành chính đã hàng chục năm mà dân còn lêu ca quá?

2-Trích theo bài viết "Nguyên nhân trì trệ, kém hiệu quả của cải cách hành chính", tác giả Nguyễn Đức Mạnh, đã nêu ra nhận định (Tạp chí Cộng sản cập nhật ngày: 22/1/2007)

3-Trung tâm Nghiên cứu khoa học tổ chức hành chính, Cải cách hành chính, vấn đề bức thiết cải cách bộ máy nhà nước, Nxb. Tổng hợp PHCM, 2004, tr.36.

4- Xem Kỷ yếu hội thảo, Xây dựng chính quyền đô thị TPHCM một yêu cầu bức thiết của cuộc sống, TPHCM, tháng 12- 2006, .tr.78.

5-Xem Lương Hòai Phương: Cải cách hành chính ở một số nước dưới cái nhìn so sánh với TPHCM, Kỷ yếu hội thảo, Xây dựng chính quyền đô thị TPHCM một yêu cầu bức thiết của cuộc sống, TPHCM, tháng 12- 2006, tr.105-109.

6-Ngay trên Tạp chí Cộng sản điện tử có chyên mục cập nhật các bào viết về cải cách hành chính , có nhiều quan niệm và tư liệu rất quý.

7- Xem Kỷ yếu hội thảo khoa học “Xây dựng chính quyền đô thị thành phố HCM – một yêu cầu cấp thiết”, thành phố Hồ Chí Minh – 2006, tr. 112, 187-188.

Hoặc có thể xem thông tin về vụ án mua bán đất ở Gò Vấp mới đây (VT1, ngày 29-3-2007), khi dư luận và luật sư cho rằng xử bà Lan cò đât với ông Long nguyên chủ tích quân là không công bằng.

8- Kỷ yếu, đd, tr. 415

9- Kỷ yếu, đd, tr. 406, 121

10- Cách đây 3 năm, có nhà khoa học đề xuất chương trình cải cách hành chính 15-20 năm (Trung tâm Nghiên cứu khoa học tổ chức hành chính, Cải cách hành chính, vấn đề bức thiết cải cách bộ máy nhà nước, Nxb. Tổng hợp PHCM, 2004, tr.118)

TS. Hồ Bá Thâm

 

(MKLAW FIRM: Bài viết được đăng tải nhằm mục đích giáo dục, phổ biến, tuyên truyền pháp luật và chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước không nhằm mục đích thương mại. Thông tin nêu trên chỉ có giá trị tham khảo vì vậy Quý khách khi đọc thông tin này cần tham khảo ý kiến luật sư, chuyên gia tư vấn trước khi áp dụng vào thực tế.)

-----------------------------------------------------
THAM KHẢO DỊCH VỤ TƯ VẤN LIÊN QUAN:

1.Tư vấn pháp luật lĩnh vực dân sự;

2. Tư vấn luật hành chính Việt Nam;

3. Luật sư riêng cho doanh nghiệp;

4. Luật sư tranh tụng tại tòa án và đại diện ngoài tố tụng;

5. Dịch vụ luật sư tư vấn giải quyết tranh chấp tại tòa án;

6. Luật sư tư vấn giải quyết tranh chấp hôn nhân gia đình;