Nguyễn Thị Việt Anh   - Chuyên viên Vụ Pháp chế - Bộ Tài chính

Nguyễn Ngọc Phương  - Chuyên viên Vụ Pháp chế - Bộ Tài chính

Đặng Công Khôi           - Chuyên viên Vụ Pháp chế - Bộ Tài chính

Nguyễn Thị Thu Hồng - Chuyên viên Vụ Pháp chế - Bộ Tài chính

Nguyễn Sĩ Đại               - Chuyên viên Vụ Phổ biến, giáo dục pháp luật - Bộ Tư pháp

Nguyễn Minh Thăng    - Chuyên viên Vụ Phổ biến, giáo dục pháp luật - Bộ Tư pháp

 

.Tìm hiểu về luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi:   1900 6162

-------------------------------------------------- 

 

Phần thứ nhất

 

GIỚI THIỆU LUẬT THỰC HÀNH TIẾT KIỆM, CHỐNG LÃNG PHÍ

 

 

SỰ CẦN THIẾT BAN HÀNH

 

LUẬT THỰC HÀNH TIẾT KIỆM, CHỐNG LÃNG PHÍ

 

 

 

 

 

Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí là một tư tưởng lớn của Hồ Chủ tịch và một chủ trương lớn của Đảng ta. Trong suốt quá trình xây dựng và phát triển đất nước, thực hành tiết kiệm đã có một ý nghĩa sâu sắc và có những đóng góp hết sức quan trọng trong việc sử dụng có hiệu quả các nguồn lực để phục vụ cho công cuộc phát triển của đất nước. Thực hành tiết kiệm được Đảng và Nhà nước xác định là một “quốc sách” và đã được quy định rõ trong Hiến pháp năm 1992: “Mọi hoạt động kinh tế và quản lý nhà nước phải thực hành chính sách tiết kiệm”( Điều 27). Điều này đã khẳng định rằng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí là trách nhiệm, nghĩa vụ của mỗi cấp, mỗi ngành, của tất cả các cơ quan, đơn vị, tổ chức và mỗi người dân.

 

Nhằm đẩy mạnh thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội đất nước trong giai đoạn công nghiệp hoá - hiện đại hoá, ngày 26/02/1998, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. Ngay sau khi có hiệu lực thi hành (01/5/1998), Pháp lệnh thực hành tiết kiệm, chống lãng phí đã được tổ chức, triển khai thực hiện kịp thời trên diện rộng, một hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và nhiều biện pháp đã được xây dựng, ban hành và thực hiện trong các lĩnh vực, từ đó tạo cơ sở pháp lý, điều kiện thuận lợi cho việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí.

Sau hơn 6 năm thực hiện Pháp lệnh, theo tổng kết, đánh giá từ các bộ, ngành và địa phương trên cả 5 lĩnh vực được quy định trong Pháp lệnh đã thu được một số kết quả đáng ghi nhận như sau:

 Thứ nhất, trong sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước (NSNN): nhiều định mức, tiêu chuẩn, chế độ trong chi tiêu ngân sách làm căn cứ thực hiện, kiểm tra, thanh tra, giám sát thực hành tiết kiệm, chống lãng phí như: chế độ công tác phí, hội nghị phí, trang bị và sử dụng phương tiện đi lại, điện thoại và các phương tiện thiết bị làm việc khác…đã được ban hành. Việc lập dự toán, phân bổ, sử dụng và quyết toán kinh phí NSNN cũng đã được các cơ quan, đơn vị thực hiện khá nghiêm túc, bảo đảm đúng quy định của pháp luật. Quy chế công khai tài chính đối với các cơ quan, đơn vị sử dụng NSNN đã được ban hành, tạo điều kiện cho việc giám sát của cộng đồng, nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan, đơn vị. Các cơ chế quản lý tài chính mới như: khoán chi hành chính, cơ chế tự chủ tài chính đã được ban hành và thực hiện với kết quả khả quan, tăng thu nhập cho cán bộ, công chức, viên chức và nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan, đơn vị, tổ chức.

 Thứ hai, trong đầu tư xây dựng (ĐTXD): nhiều định mức kinh tế – kỹ thuật đã được nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung; quy chế quản lý đầu tư và xây dựng, quy chế đấu thầu liên tục được sửa đổi cho phù hợp với thực tế; các quy định về quản lý, sử dụng, thanh quyết toán vốn đầu tư từ NSNN cũng được sửa đổi, bảo đảm tính đồng bộ. Việc quản lý ĐTXD, thực hiện quy chế đấu thầu đã được chú trọng hơn; công tác quản lý, thanh toán vốn đầu tư từ NSNN hoặc có nguồn gốc từ NSNN được tăng cường. Do đó, trong hầu hết các khâu của quá trình đầu tư đều có những kết quả về thực hành tiết kiệm.

 Thứ ba, trong quản lý, sử dụng đất đai, trụ sở làm việc, nhà công vụ, tài nguyên thiên nhiên: Các tiêu chuẩn, định mức, chế độ trong sử dụng đất đai, trụ sở làm việc, nhà công vụ được ban hành khá kịp thời nên đã giảm được tỷ trọng kinh phí ngân sách phải chi cho xây dựng, sửa chữa trụ sở làm việc, nhà công vụ; đất đai được quan tâm hơn trong quản lý và sử dụng theo mục đích được giao. Việc điều chuyển để nâng cao hiệu quả sử dụng trụ sở làm việc, nhà công vụ cũng thu được một số kết quả bước đầu. Tài nguyên thiên nhiên như khoáng sản, nguồn nước, rừng...cũng được quy hoạch, quản lý, khai thác và sử dụng tiết kiệm, hiệu quả hơn.

Thứ tư, trong quản lý vốn và tài sản tại doanh nghiệp nhà nước (DNNN): Nhìn chung các định mức kinh tế kỹ thuật, định mức tiêu hao nguyên nhiên vật liệu... đã được sửa đổi, bổ sung góp phần giảm chi phí đầu vào của các doanh nghiệp, các tiêu chuẩn, định mức liên quan đến chi phí quản lý doanh nghiệp được quan tâm xây dựng hoặc vận dụng theo các quy định đối với các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp (như quy định về trang bị, sử dụng điện thoại; trang bị và sử dụng xe ô tô con...), góp phần tiết kiệm các khoản chi phí gián tiếp trong các DNNN. Hệ thống chỉ tiêu giám sát DNNN được ban hành đã tạo thuận lợi cho công tác quản lý, bảo đảm an toàn về tài chính và nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.

Thứ năm, trong sản xuất và tiêu dùng của nhân dân: Trên cơ sở quy định của Pháp lệnh, các quy chế về việc cưới, việc tang, việc tổ chức lễ hội đã được Bộ Văn hoá - Thông tin ban hành và được các địa phương tổ chức, triển khai thực hiện một cách tích cực. Nhiều làng, xã đã xây dựng hương ước có nội dung gắn với việc khuyến khích cộng đồng tiết kiệm trong sản xuất và tiêu dùng, trong tổ chức việc tang, việc cưới, lễ hội, mừng thọ, mừng nhà mới... để hướng dẫn và khuyến khích nhân dân thực hiện. Do đó, tình trạng lãng phí trong sản xuất và tiêu dùng của nhân dân cũng đã được hạn chế, góp phần tạo ý thức tiết kiệm trong sản xuất và tiêu dùng của nhân dân.

Bên cạnh những kết quả đạt được, tình trạng lãng phí vẫn xảy ra phổ biến ở nhiều lĩnh vực, nhiều cơ quan, tổ chức, đơn vị nhà nước và cả khu vực dân cư. Nổi lên là:

a) Nhiều cơ quan, đơn vị, tổ chức không thực hiện đúng định mức, tiêu chuẩn, chế độ quy định, gây lãng phí NSNN; thực hiện chế độ công khai tài chính ở các cơ quan, đơn vị, tổ chức và các khoản tài trợ, đóng góp của nhân dân và tổ chức chưa nghiêm, còn mang tính hình thức nên chưa tạo điều kiện trong việc kiểm tra, giám sát của các cơ quan, đoàn thể, các tổ chức xã hội và nhân dân;

b) Tình trạng lãng phí trong ĐTXD ở các bộ, ngành và địa phương vẫn là một vấn đề bức xúc, được dư luận xã hội hết sức quan tâm. Chất lượng quy hoạch còn thấp dẫn đến quy hoạch không sát với thực tế, chồng chéo, thiếu tầm nhìn dài hạn; việc quản lý, kiểm tra, giám sát trong tất cả các khâu của quá trình đầu tư xây dựng ở một số cơ quan, đơn vị, tổ chức và địa phương còn buông lỏng, nhiều dự án công trình xây dựng lập dự toán vượt định mức, chất lượng công trình thấp, thời gian thi công kéo dài, không bảo đảm yêu cầu thiết kế do bị cắt xén kinh phí để sử dụng sai mục đích hoặc quá trình nghiên cứu, khảo sát và thiết kế xây dựng không đảm bảo chất lượng. Tình trạng đầu tư dàn trải mặc dù có nhiều biện pháp khắc phục nhưng tác dụng còn hạn chế, làm giảm hiệu quả sử dụng vốn đầu tư, nợ trong đầu tư XDCB còn lớn. Tình trạng vi phạm quy định về đấu thầu còn nhiều, vẫn còn hiện tượng thông đồng trong đấu thầu các dự án công trình để giảm giá nhận thầu...;

c) Công tác quy hoạch đất đai vẫn còn là vấn đề bức xúc, chưa khắc phục được tình trạng quy hoạch “treo”, việc giải quyết các vấn đề phát sinh trong khâu đền bù giải phóng mặt bằng của các dự án đầu tư còn nhiều khó khăn. Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc tư vấn, thẩm định, phê duyệt quy hoạch sử dụng đất đai chưa được xác định rõ ràng và xem xét một cách nghiêm túc nên nhiều hành vi vi phạm chưa được xử lý hoặc xử lý chưa triệt để. Nhiều cơ quan, đơn vị, tổ chức còn xây dựng và sử dụng trụ sở làm việc, nhà công vụ vượt quá định mức, tiêu chuẩn quy định nhưng không có biện pháp hữu hiệu để sắp xếp, điều chỉnh lại cho hợp lý, có nơi trụ sở làm việc còn sử dụng sai mục đích (cho thuê, phục vụ kinh doanh...), gây lãng phí, thất thoát tiền và tài sản của nhà nước.

d) Tình trạng lãng phí trong các DNNN vẫn còn lớn và phổ biến, hiệu quả sản xuất kinh doanh thấp, chi phí gián tiếp cao, công nợ dây dưa lớn; quản lý tài sản, vốn lỏng lẻo; tình trạng bị chiếm dụng vốn, mất vốn của DNNN còn nhiều. Một số doanh nghiệp nhà nước vi phạm nghiêm trọng các quy định của nhà nước về đầu tư, mua sắm máy móc, thiết bị, gây lãng phí, thất thoát, thậm chí lợi dụng để tham nhũng vốn, tài sản nhà nước; một số ngành đầu tư kém hiệu quả dẫn đến thua lỗ. Nhiều doanh nghiệp còn hạch toán không đúng chi phí, doanh thu dẫn đến làm sai lệch kết quả sản xuất kinh doanh, không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ với ngân sách nhà nước. Một số doanh nghiệp góp vốn liên doanh bị thua lỗ, mất vốn, nợ đọng kéo dài không có khả năng thu hồi do công tác quản lý kém. Việc lập quỹ trái phép mặc dù đã có quy định nghiêm cấm và đã tiến hành kiểm tra, xử lý nghiêm minh nhưng vẫn chưa giải quyết được triệt để.

e) Tình trạng lãng phí trong sản xuất và tiêu dùng nhân dân vẫn diễn ra ở một số bộ phận dân cư, nhất là khu vực đô thị có thu nhập khá. Các hoạt động văn hoá như việc cưới, việc tang, lễ hội và tiêu dùng hàng ngày có nơi còn chi tiêu xa hoa, lãng phí, chưa quan tâm đến các hương, ước làng, xã.

Từ kết quả đạt được và những tồn tại, hạn chế nêu trên cho thấy, việc thực hiện Pháp lệnh thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong những năm qua chưa đạt được yêu cầu đặt ra, chậm đi vào cuộc sống, còn tồn tại nhiều hạn chế: tiết kiệm, chống lãng phí chưa thực sự trở thành ý thức tự giác của mỗi người, là mục tiêu của mỗi cơ quan, đơn vị, tổ chức; kết quả thực hành tiết kiệm chưa cao, tình trạng lãng phí còn khá phổ biến ở tất cả các lĩnh vực và là vấn đề bức xúc, thậm chí có nơi, có lúc trở nên nghiêm trọng. Có thể nói, việc thực hành tiết kiệm vẫn chưa thực sự trở thành “Quốc sách” để thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Nguyên nhân của tình trạng này có thể được nhìn nhận từ nhiều phía: 

- Trong công tác tổ chức triển khai thực hiện Pháp lệnh, nhiều nơi chưa có sự quan tâm chỉ đạo một cách thường xuyên, liên tục của các cấp, các ngành mà mới triển khai theo kiểu “phong trào”; việc cụ thể hóa các biện pháp thực hành tiết kiệm, chống lãng phí còn chậm, chưa sát thực; công tác phổ biến, tuyên truyền và vận động thực hành tiết kiệm chống lãng phí còn hạn chế, hiệu quả chưa cao...;

- Về hệ thống định mức, tiêu chuẩn, chế độ làm căn cứ, thước đo về tiết kiệm, lãng phí. Ở một số lĩnh vực, định mức, tiêu chuẩn, chế độ còn lạc hậu, thiếu đồng bộ, chậm được sửa đổi, bổ sung nên đã gặp khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện;

- Những hạn chế, bất cập của bản thân Pháp lệnh cũng là nguyên nhân không nhỏ, cụ thể: (i) một số quy định của Pháp lệnh đến nay đã trở nên lạc hậu so với những đổi mới về cơ chế quản lý kinh tế, tài chính những năm qua và không còn phù hợp với một số luật, pháp lệnh có liên quan đến các lĩnh vực thực hành tiết kiệm, chống lãng phí mới được bổ sung, sửa đổi; (ii) chưa phân định được trách nhiệm của cá nhân và tập thể nên không nâng cao được ý thức trách nhiệm của mỗi người, đặc biệt là trách nhiệm của người đứng đầu các cơ quan, tổ chức; (iii) thiếu chế tài xử lý vi phạm hoặc có chế tài nhưng còn chung chung, không khả thi đã làm cho việc xử lý vi phạm không nghiêm minh, nhiều trường hợp vi phạm bị phát hiện nhưng không xử lý được; các trường hợp vi phạm quy định về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí chưa được công bố công khai rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng nên tác dụng răn đe còn hạn chế; (iv) chế độ khen thưởng cho cá nhân và tổ chức còn thiếu, ít được quan tâm nên chưa tạo được động lực, khuyến khích việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí.

- Việc công khai tài chính trong các cơ quan, đơn vị, tổ chức thực hiện chưa nghiêm, còn mang tính hình thức. Nhiều lĩnh vực chưa được công khai, minh bạch nên đã hạn chế sự giám sát của nhân dân, tổ chức đoàn thể, nhiều trường hợp vi phạm chế độ quản lý tài chính chưa được phát hiện và ngăn chặn kịp thời;

- Công tác kiểm tra, thanh tra hoạt động còn yếu và kém hiệu quả, chưa phát huy được tính độc lập trong hoạt động kiểm tra, thanh tra của mình, còn nể nang, ngại đấu tranh, không dám công khai các hiện tượng tiêu cực.

            Để khắc phục những tồn tại, hạn chế nêu trên, nhất là thời kỳ công nghiệp hoá- hiện đại hoá và đất nước đang từng bước hội nhập quốc tế, đòi hỏi phải đặt ra nhiều biện pháp cấp bách, có tính khả thi hơn và phải được thực hiện một cách toàn diện, đồng bộ trên các lĩnh vực và thực hiện ở tất cả các cơ quan, đơn vị, tổ chức nhà nước và cả khu vực dân cư. Theo đó, việc xây dựng, ban hành Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí được đặt ra trong giai đoạn hiện nay là hết sức cần thiết với mục đích kế thừa các biện pháp đã và đang phát huy hiệu quả được quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật, nhất là tại Pháp lệnh thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; và để phù hợp với quy định của các Luật, pháp lệnh liên quan đến thực hành tiết kiệm, chống lãng phí đã được sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới, bảo đảm tính đồng bộ của hệ thống pháp luật.

 

CÁC NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA

 

LUẬT THỰC HÀNH TIẾT KIỆM, CHỐNG LÃNG PHÍ

 

 

Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí được Quốc hội khoá XI, kỳ họp thứ 8 nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2005, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/6/2006, thay thế Pháp lệnh thực hành tiết kiệm, chống lãng phí năm 1998 (dưới đây gọi chung là Pháp lệnh năm 1998). Luật này bao gồm 86 Điều chia thành 11 Chương quy định thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong 7 lĩnh vực, cụ thể như sau:

 

- Chương I: Những quy định chung (từ Điều 1 đến Điều 9);

- Chương II: Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong quản lý, sử dụng ngân sách nhà nước (từ Điều 10 đến Điều 25);

- Chương III: Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong đầu tư xây dựng các dự án có sử dụng ngân sách nhà nước, tiền, tài sản nhà nước (từ Điều 26 đến Điều 34);              

- Chương IV: Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong việc quản lý, sử dụng trụ sở làm việc, nhà công vụ của cơ quan, tổ chức sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước và các công trình phúc lợi công cộng (từ Điều 35 đến Điều 37);

- Chương V: Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong việc quản lý, khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên (từ Điều 38 đến Điều 48);

- Chương VI: Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong đào tạo, quản lý, sử dụng lao động và thời gian lao động trong khu vực nhà nước (từ Điều 49 đến Điều 53) ;                                          

- Chương VII: Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong quản lý, sử dụng vốn và tài sản nhà nước tại doanh nghiệp (từ Điều 54 đến Điều 61) ;

- Chương VIII:  Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong sản xuất và tiêu dùng của nhân dân (từ Điều 62 đến Điều 65);

- Chương IX: Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức trong thực hành tiết kiệm, chống lãng phí (từ Điều 66 đến Điều 78);

- Chương X:  Khiếu nại, tố cáo, khen thưởng và xử lý vi phạm (từ Điều 79 đến Điều 84);

- Chương XI: Điều khoản thi hành (Điều 85 và Điều 86).

I. NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG (CHƯƠNG I)

Chương này có 9 điều quy định về phạm vi, đối tượng điều chỉnh của Luật; giải thích một số từ ngữ để đảm bảo sự thống nhất chung và các quy định mang tính nguyên tắc về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; các lĩnh vực phải công khai và hình thức công khai; trách nhiệm giám sát việc thực hành tiết kiệm, chống lãng; trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức và trách nhiệm của cán bộ, công chức trong việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí.

1. Phạm vi điều chỉnh ( Điều 1)

Tại Điều 1 của Luật đã quy định về phạm vi điều chỉnh của Luật như sau: "Luật này quy định về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong quản lý, sử dụng ngân sách nhà nước, tiền, tài sản nhà nước, lao động, thời gian lao động trong khu vực nhà nước và tài nguyên thiên nhiên.

 Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong sản xuất và tiêu dùng của nhân dân."

Theo đó phạm vi điều chỉnh của Luật là việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong 7 lĩnh vực và được thể hiện trong 7 Chương của Luật (từ Chương II đến Chương VIII), bao gồm:

(1) Trong quản lý, sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước;

(2) Trong đầu tư xây dựng các dự án sử dụng ngân sách nhà nước, tiền, tài sản nhà nước;

(3) Trong quản lý, sử dụng trụ sở làm việc, nhà công vụ của các cơ quan, tổ chức sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước và các công trình phúc lợi công cộng;

(4) Trong quản lý, khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên;

(5) Trong đào tạo, quản lý, sử dụng lao động, thời gian lao động trong khu vực nhà nước;

(6) Trong quản lý, sử dụng vốn và tài sản nhà nước tại doanh nghiệp;

(7) Trong sản xuất, tiêu dùng của nhân dân.

So với Pháp lệnh năm 1998 thì phạm vi điều chỉnh của Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí đã mở rộng hơn để bao trùm hết các lĩnh vực, lấy việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong khu vực nhà nước làm trọng tâm, từ đó mở rộng quy định việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí đối với các nguồn lực khác, cụ thể là bổ sung quy định về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong việc: (i) quản lý, sử dụng các công trình phúc lợi công cộng (Chương IV ); (ii) đào tạo, quản lý, sử dụng lao động và thời gian lao động trong khu vực nhà nước (Chương VI); đồng thời, quy định rõ hơn việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong việc: (i) quản lý, sử dụng các nguồn tài nguyên, nhất là các tài nguyên đất, nước, rừng, khoáng sản (Chương V); (ii) quản lý phần vốn góp của nhà nước tại các doanh nghiệp (Chương VII). Đáng chú ý là Luật đã dành một chương riêng (Chương VIII) quy định nội dung khuyến khích thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong nhân dân với một số điều quy định cụ thể trong việc đầu tư xây dựng, phát triển sản xuất, kinh doanh, xây dựng nhà ở, trong tiêu dùng hàng ngày và trong các hoạt động lễ hội, việc cưới, việc tang...

2. Đối tượng áp dụng ( Điều 2)

Với phạm vi điều chỉnh như trên, đối tượng áp dụng của Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí bao gồm tất cả các cơ quan, tổ chức, cá nhân và chia  thành 2 nhóm đối tượng tương ứng theo 2 khu vực điều chỉnh là khu vực nhà nước và khu vực dân cư, cụ thể được quy định như sau:

" 1. Cơ quan, tổ chức, cá nhân quản lý, sử dụng ngân sách nhà nước, tiền, tài sản nhà nước, lao động trong khu vực nhà nước và tài nguyên thiên nhiên.

2. Công dân và tổ chức không thuộc đối tượng quy định tại khoản 1 Điều này." 

Đối với các đối tượng thuộc khu vực nhà nước liên quan trực tiếp đến quản lý, sử dụng ngân sách nhà nước, tiền, tài sản nhà nước, các quy định đều là bắt buộc phải thực hiện để thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, ở một số nội dung còn có quy định nghiêm cấm không được thực hiện; đồng thời gắn với mỗi hành vi vi phạm là các chế tài xử lý vi phạm cụ thể tuỳ thuộc vào tính chất, mức độ vi phạm của tổ chức, cá nhân.

Đối với đối tượng là các tổ chức không thuộc khu vực nhà nước và công dân Việt nam, đặc biệt là trong sản xuất và tiêu dùng của nhân dân, Luật đã thể hiện dưới hình thức quy định mang tính khuyến khích, định hướng và tạo cơ sở để đưa ra các chuẩn mực chung về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, theo đó các tổ chức đoàn thể quần chúng hướng dẫn, vận động toàn thể nhân dân và các tổ chức ngoài khu vực nhà nước thực hiện, trong đó có bao gồm cả đối tượng là cán bộ, công chức, viên chức với tư cách là công dân.

3. Giải thích từ ngữ ( Điều 3)

Tại Điều 3 của Luật có đưa ra việc giải thích 5 cụm từ, trong đó có  giải thích (hay định nghĩa) về tiết kiệm và lãng phí để bảo đảm thống nhất chung trong cách hiểu và cũng là cơ sở để thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, cụ thể như sau:

- Tiết kiệm được hiểu ở trong Luật là việc giảm bớt hao phí trong sử dụng tiền, tài sản, lao động, thời gian lao động và tài nguyên thiên nhiên nhưng vẫn đạt được mục tiêu đã định. Đối với lĩnh vực quản lý, sử dụng ngân sách nhà nước, tiền, tài sản nhà nước, lao động, thời gian lao động trong khu vực nhà nước và tài nguyên thiên nhiên, do trong các lĩnh này có quy định về định mức, tiêu chuẩn, chế độ do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành nên  tiết kiệm ở đây được hiểu là việc sử dụng ở mức thấp hơn định mức, tiêu chuẩn, chế độ nhưng vẫn đạt được mục tiêu đã định hoặc sử dụng đúng định mức, tiêu chuẩn, chế độ nhưng đạt cao hơn mục tiêu đã định.

- Lãng phí trái ngược với tiết kiệm, được hiểu là việc quản lý, sử dụng tiền, tài sản, lao động, thời gian lao động và tài nguyên thiên nhiên không hiệu quả. Cũng tương tự như định nghĩa về tiết kiệm, đối với lĩnh vực có định mức, tiêu chuẩn, chế độ do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành như nêu trên thì lãng phí là việc quản lý, sử dụng ngân sách nhà nước, tiền, tài sản nhà nước, lao động, thời gian lao động trong khu vực nhà nước và tài nguyên thiên nhiên vượt định mức, tiêu chuẩn, chế độ hoặc không đạt mục tiêu đã định. 

- Tài sản nhà nước là tài sản hình thành từ ngân sách nhà nước hoặc có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước, thuộc sở hữu, quản lý của Nhà nước, bao gồm nhà, công trình công cộng, công trình kiến trúc và tài sản khác thuộc sở hữu nhà nước; tài sản từ nguồn viện trợ, tài trợ, đóng góp của tổ chức, cá nhân trong nước và ngoài nước cho Nhà nước.

Tại Bộ Luật Dân sự đã quy định về khái niệm tài sản, tuy nhiên để quy định một cách rõ ràng, chi tiết và gắn với các quy định cụ thể của Luật này nên trong Luật đã đưa ra khái niệm về tài sản nhà nước. 

- Hoa hồng là khoản tiền mà người mua được khấu trừ hoặc hiện vật, dịch vụ mà người mua được nhận thêm từ người bán khi mua phương tiện, thiết bị, tài sản khác hoặc khi thanh toán dịch vụ.

Hoa hồng là một cụm từ đang được dùng phổ biến trong thực tế hiện nay và đã được quy định ở một số văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL). Tuy nhiên, chưa có một định nghĩa cụ thể, chính thức nào về hoa hồng nên Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí đã đề cập đến vấn đề này và đưa việc quản lý, sử dụng khoản hoa hồng vào diện điều chỉnh của Luật.

- Tài nguyên thiên nhiên là các nguồn lực có trong tự nhiên thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước thống nhất quản lý, bao gồm tài nguyên đất, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, tài nguyên rừng và các tài nguyên khác.  

            Trong thực tế cụm từ tài nguyên thiên nhiên cũng chưa được quy định chính thức ở một văn bản Luật nào nên trong Luật này đã đưa ra khái niệm cụ thể để có cách hiểu thống nhất đối với các quy định của Luật.

4. Nguyên tắc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí (Điều 4)

Để việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí có hiệu quả cần phải xác định các nguyên tắc thực hiện, theo đó tại Điều 4 của Luật đã quy định rõ 5 nguyên tắc:

- Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí phải được quán triệt từ chủ trương, đường lối, cơ chế, chính sách và được thể chế hoá bằng pháp luật.

- Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí phải căn cứ vào định mức, tiêu chuẩn, chế độ và quy định của pháp luật.

- Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp, các ngành, cơ quan, tổ chức; trên cơ sở phân cấp quản lý đồng thời với việc nâng cao trách nhiệm của người đứng đầu, trách nhiệm của cán bộ, công chức, viên chức trong cơ quan, tổ chức.

- Bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch, đề cao vai trò giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên của Mặt trận, đoàn thể quần chúng và nhân dân trong việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. 

- Có chế độ khen thưởng, xử lý vi phạm rõ ràng, nghiêm minh, kịp thời và công khai.

Đây là những nguyên tắc hết sức quan trọng, trong quá trình thực hiện không thể coi nhẹ bất kỳ một nguyên tắc nào, việc kết hợp đồng bộ, chặt chẽ cả 5 nguyên tắc này sẽ bảo đảm hiệu quả của việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong các lĩnh vực.

5. Hệ thống định mức, tiêu chuẩn, chế độ ( Điều 5)

Theo định nghĩa tiết kiệm và lãng phí nêu trên, hệ thống định mức, tiêu chuẩn, chế độ trong các lĩnh vực được xem là thước đo hết sức quan trọng để xác định rõ một hành vi thực hiện là tiết kiệm hay lãng phí và cũng là căn cứ để thực hiện việc kiểm tra, thanh tra, giám sát thực hành tiết kiệm, chống lãng phí.

Trong thực tế, ở nhiều lĩnh vực, các định mức, tiêu chuẩn, chế độ đã lạc hậu, thiếu đồng bộ nhưng chậm được sửa đổi, bổ sung, ban hành mới nên đã gây nhiều khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện. Vì vậy, tại Điều 5 của Luật đã quy định trách nhiệm của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, nhất là người đứng đầu cơ quan nhà nước trong việc rà soát, sửa đổi, bổ sung, ban hành kịp thời định mức, tiêu chuẩn, chế độ; đồng thời trách nhiệm này lại được tiếp tục nhấn mạnh và cụ thể hoá tại Chương IX của Luật về trách nhiệm của Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương.

Về yêu cầu đối với định mức, tiêu chuẩn, chế độ, tại Điều này cũng quy định việc sửa đổi, bổ sung, ban hành định mức, tiêu chuẩn, chế độ phải đảm bảo cơ sở khoa học, phù hợp với thực tế và khả năng của ngân sách nhà nước; đồng thời, phải được công khai đến các cơ quan, tổ chức và đối tượng thực hiện. Một điều cần chú ý là sự "phù hợp với thực tế" và "phù hợp với khả năng của ngân sách nhà nước" không phải mâu thuẫn nhau mà ở đây được hiểu rằng đó là sự kết hợp, sự giao thoa giữa nhu cầu thực tế ở mức trung bình của xã hội và khả năng đáp ứng cao nhất của ngân sách trong từng giai đoạn, trên cơ sở có tính đến các cơ sở khoa học có liên quan.

6. Lĩnh vực công khai, hình thức công khai ( Điều 6)

Công khai là một biện pháp hết sức quan trọng để cung cấp thông tin, tạo điều kiện  cho các tổ chức, cá nhân thực hiện quyền giám sát thực hành tiết kiệm, chống lãng phí của mình như đã được quy định tại Điều 7 của Luật. Theo đó tại Điều 6 của Luật đã quy định cụ thể về các lĩnh vực công khai, hình thức công khai như sau:

- Về các lĩnh vực công khai: tại khoản 1 của Điều 6 đã quy định 6 lĩnh vực phải thực hiện công khai:

Phân bổ và sử dụng ngân sách nhà nước;

Tài sản và kế hoạch mua sắm, sử dụng tài sản trong cơ quan, tổ chức sử dụng ngân sách nhà nước;

Động viên vào ngân sách nhà nước, huy động vốn cho ngân sách nhà nước và cho tín dụng nhà nước; các quỹ có nguồn huy động đóng góp của nhân dân;

Quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội; quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành, vùng; quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; quy hoạch, kế hoạch, danh mục dự án đầu tư, nguồn vốn đầu tư; quy hoạch xây dựng; kế hoạch mời thầu;

Quy hoạch, kế hoạch và hoạt động khai thác tài nguyên thiên nhiên;

Phân bổ, sử dụng nguồn lực lao động.

Tương ứng với các lĩnh vực thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong khu vực nhà nước, các lĩnh vực phải thực hiện công khai đã cơ bản bao trùm hết toàn bộ quá trình quản lý, sử dụng các nguồn tiền, tài sản cũng như các nguồn lực khác thuộc phạm vi quản lý, sử dụng của nhà nước.

Ngoài ra, tại khoản 3, Điều 6 của Luật còn có quy định giao Chính phủ quy định các lĩnh vực khác cần thực hiện công khai và công khai các quy trình, thủ tục trong giải quyết công việc liên quan giữa cơ quan nhà nước với tổ chức, cá nhân nên có thể nói các lĩnh vực thực hiện công khai được quy định trong Luật đã cơ bản đáp ứng được yêu cầu về công khai toàn diện để thực hiện giám sát.

            - Về hình thức công khai: tại khoản 2 của Điều 6 đã quy định 3 hình thức công khai đó là:

Phát hành ấn phẩm;

Thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng, thông tin điện tử;

Công bố trong kỳ họp hằng năm; niêm yết tại trụ sở làm việc và gửi văn bản đến các cơ quan, tổ chức có liên quan. Với các hình thức công khai này sẽ tạo điều kiện cho mọi chủ thể giám sát đều có thể tiếp cận được các thông tin công khai và từ đó chọn lọc những thông tin cần thiết, hữu ích cho mình để thực hiện việc giám sát.       

7. Giám sát việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí (Điều 7)

Một trong những hạn chế của Pháp lệnh năm 1998 là chưa hình thành rõ được một cơ chế giám sát hoàn chỉnh để phát huy được vai trò giám sát thực hành tiết kiệm, chống lãng phí của các tổ chức, cá nhân, cụ thể: chưa quy định rõ ràng về quyền và trách nhiệm giám sát của các tổ chức, cá nhân; cơ chế công khai để tạo điều kiện giám sát còn thiếu cụ thể, chưa đồng bộ nên còn mang tính hình thức, chưa cung cấp đủ thông tin cần thiết cho việc giám sát; chưa có quy định khuyến khích và bảo vệ đối với người phát hiện, tố cáo hành vi vi phạm, gây lãng phí... Để khắc phục hạn chế này, tại Điều 7 của Luật đã quy định rõ quyền và trách nhiệm giám sát của các chủ thể trong việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí như sau:

"1. Công dân có quyền và trách nhiệm giám sát việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, phát hiện và kịp thời báo cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền về các hành vi gây lãng phí.

2. Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, các cơ quan khác của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội có quyền và trách nhiệm giám sát việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí theo quy định của Luật hoạt động giám sát của Quốc hội.

3. Hội đồng nhân dân, đại biểu Hội đồng nhân dân có quyền và trách nhiệm giám sát việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí tại địa phương theo quy định của pháp luật.

4. Thanh tra nhân dân, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên của Mặt trận, đoàn thể quần chúng có quyền và trách nhiệm giám sát việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí."

Tại khoản 3, Điều 9 của Luật cũng quy định về quyền giám sát của cán bộ, công chức, viên chức như sau: "Tham gia giám sát, đề xuất các biện pháp, giải pháp thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong cơ quan, tổ chức và trong lĩnh vực công tác được phân công, kịp thời phát hiện, tố cáo, ngăn chặn và xử lý hành vi gây lãng phí theo thẩm quyền."

Theo đó, các chủ thể có quyền và trách nhiệm giám sát trong thực hành tiết kiệm, chống lãng phí ở các cơ quan, đơn vị, tổ chức sẽ bao gồm: mọi công dân; Quốc hội, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, các cơ quan khác của Quốc hội, Đoàn Đại biểu Quốc hội và Đại biểu Quốc hội; Hội đồng nhân dân, Đại biểu Hội đồng nhân dân; Thanh tra nhân dân; Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên của Mặt trận, đoàn thể quần chúng; và cán bộ, công chức, viên chức.

Bên cạnh đó, để khẳng định và đề cao vai trò giám sát trong thực hành tiết kiệm, chống lãng phí của các tổ chức, cá nhân, tại Điều 4 của Luật cũng đã quy định: "...đề cao vai trò giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên của Mặt trận, đoàn thể quần chúng và nhân dân trong việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí".

Ngoài ra, để công tác giám sát thực sự phát huy hiệu quả cao hơn, tại Điều 8 của Luật có quy định về trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức trong việc bảo đảm thực hiện quyền giám sát thực hành tiết kiệm, chống lãng phí của cá nhân, tổ chức; tại Điều 6 của Luật (như đã nêu trên) quy định  về các lĩnh vực công khai, hình thức công khai để phục vụ cho việc giám sát thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; đồng thời, để bảo vệ người phát hiện, khiếu nại, tố cáo các hành vi vi phạm, gây lãng phí, tại Điều 79 của Luật cũng đã quy định về chế tài xử lý đối với các hành vi đe doạ, trả thù, trù dập người tố cáo.

8. Trách nhiệm cá nhân trong việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí (Điều 8 và Điều 9)

Một trong những nguyên nhân dẫn đến Pháp lệnh năm 1998 chậm đi vào cuộc sống là không phân biệt, tách bạch rõ giữa trách nhiệm cá nhân, nhất là trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức nhà nước với trách nhiệm tập thể trong việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí nên trong thực tế nhiều khi không thể xử lý được các hành vi vi phạm. Thực tế cho thấy, ở các cơ quan, tổ chức nhà nước đề cao trách nhiệm cá nhân đã góp phần rất lớn trong việc nâng cao ý thức thực hành tiết kiệm, chống lãng phí của mỗi cán bộ, công chức, viên chức nói chung và của người đứng đầu cơ quan, tổ chức nói riêng trong việc quản lý, sử dụng tiền và tài sản nhà nước. Để khắc phục tồn tại, nhược điểm này của Pháp lệnh năm 1998, Luật đã quy định rõ trách nhiệm cá nhân nhất là trách nhiệm người đứng đầu cơ quan, tổ chức thể hiện ở chỗ mỗi hành vi vi phạm quy định về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí đều gắn với việc xác định rõ chủ thể vi phạm là cá nhân; đồng thời, có quy định chế tài xử lý đối với cá nhân, người đứng đầu cơ quan, tổ chức và những người có liên quan khi có hành vi vi phạm, gây lãng phí tiền và tài sản nhà nước. Đặc biệt tại Chương này đã thiết kế 2 điều riêng để quy định về trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức và trách nhiệm của cán bộ, công chức, viên chức trong việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí như sau:

- Tại Điều 8 quy định về trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức trong việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, gồm:

Xây dựng và tổ chức thực hiện các biện pháp thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong lĩnh vực được giao quản lý và trong cơ quan, tổ chức mình. 

Bảo đảm việc thực hiện quyền giám sát thực hành tiết kiệm, chống lãng phí của công dân, cơ quan, tổ chức quy định tại Điều 7 của Luật này. Khi nhận được tin báo của công dân, người đứng đầu cơ quan, tổ chức phải kiểm tra, xem xét để có biện pháp ngăn chặn, xử lý kịp thời và phải trả lời bằng văn bản cho người đã phát hiện.

Xử lý hoặc phối hợp với cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý kịp thời, nghiêm minh, đúng pháp luật đối với người trong cơ quan, tổ chức mình có hành vi gây lãng phí; thực hiện công khai việc xử lý hành vi gây lãng phí trong cơ quan, tổ chức.

Gương mẫu thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và chịu trách nhiệm về tình trạng lãng phí trong cơ quan, tổ chức mình.

- Tại Điều 9 quy định về trách nhiệm của cán bộ, công chức, viên chức trong việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, gồm: 

Thực hiện công vụ được giao đúng quy định của pháp luật, nội quy, quy chế của cơ quan, tổ chức, bảo đảm thực hành tiết kiệm, chống lãng phí.

Sử dụng tiền, tài sản nhà nước được giao đúng mục đích, định mức, tiêu chuẩn, chế độ do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành.

Tham gia giám sát, đề xuất các biện pháp, giải pháp thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong cơ quan, tổ chức và trong lĩnh vực công tác được phân công, kịp thời phát hiện, tố cáo, ngăn chặn và xử lý hành vi gây lãng phí theo thẩm quyền.

II. THỰC HÀNH TIẾT KIỆM, CHỐNG LÃNG PHÍ TRONG CÁC LĨNH VỰC

Ngoài các lĩnh vực thực hành tiết kiệm, chống lãng phí đã được điều chỉnh tại Pháp lệnh năm 1998, Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí đã bổ sung quy định đối với 02 lĩnh vực thực hành tiết kiệm, chống lãng phí: ( 1) trong quản lý, sử dụng các công trình phúc lợi công cộng (Chương IV ) và trong đào tạo, quản lý, sử dụng lao động, thời gian lao động của khu vực nhà nước (Chương VI). Như vậy, Luật đã điều chỉnh việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong 7 lĩnh vực như đã nêu trên.

Về các nội dung quy định thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong các lĩnh vực được thể hiện như sau:

1. Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong quản lý, sử dụng ngân sách nhà nước (Chương II )

Chương này gồm 16 điều, bao gồm 4 mục quy định về việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong 4 nội dung: (1) Trong việc lập, thẩm định, phê duyệt dự án, quyết toán kinh phí ngân sách nhà nước; (2) Trong mua sắm, quản lý, sử dụng phương tiện đi lại và phương tiện, thiết bị làm việc; (3) Trong quản lý, sử dụng NSNN cho hoạt động của các cơ quan, tổ chức; (4) Trong quản lý, sử dụng kinh phí chương trình mục tiêu, chương trình Quốc gia, kinh phí nghiên cứu khoa học công nghệ.

So với Pháp lệnh năm 1998, các quy định điều chỉnh trong lĩnh vực quản lý, sử dụng ngân sách nhà nước tại Chương này đã được mở rộng hơn, điều chỉnh xuyên suốt từ khâu lập, thẩm định, phê duyệt dự toán ngân sách, sử dụng ngân sách, đến khâu quyết toán ngân sách, trong khi Pháp lệnh năm 1998 mới chủ yếu quy định về việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong sử dụng ngân sách nhà nước.

Để tránh chồng chéo với các luật chuyên ngành như Luật ngân sách nhà nước và các Luật có liên quan khác, các quy định tại Chương này được thể hiện dưới góc độ thực hành tiết kiệm, chống lãng phí nhằm thực hiện tốt các quy định có liên quan đến thực hành tiết kiệm, chống lãng phí của các luật chuyên ngành. Ví dụ như: các quy định về lập, thẩm định, phê duyệt, phân bổ dự toán kinh phí ngân sách nhà nước và quyết toán kinh phí ngân sách nhà nước (Điều 10 và Điều 12); các quy định trong việc quản lý, sử dụng kinh phí chương trình mục tiêu, chương trình quốc gia và kinh phí nghiên cứu khoa học (Điều 24 và Điều 25). Đối với một số biện pháp thực hành tiết kiệm, chống lãng phí đã được thực hiện có hiệu quả nhiều năm qua cũng đã được vào Luật như: Mở rộng cơ chế giao khoán kinh phí hoạt động, giao quyền tự chủ tài chính đối với các cơ quan, đơn vị; khuyến khích các cơ quan, đơn vị thực hiện khoán một số khoản chi đến người sử dụng trực tiếp (Điều 11); đồng thời, đã đưa ra các giải pháp mới, có tính đột phá như thực hiện chế độ sử dụng phương tiện đi lại theo 3 phương thức: (1) trang bị phương tiện đi lại riêng cho một số chức vụ, chức danh cao cấp của nhà nước và theo địa bàn công tác; (2) thuê phương tiện đi lại của các doanh nghiệp dịch vụ để phục vụ công việc của các cơ quan, tổ chức; (3) thực hiện khoán kinh phí cho người có tiêu chuẩn, chế độ sử dụng phương tiện đi lại ( khoản 4, Điều 14);

Trong mua sắm, trang bị và sử dụng phương tiện, thiết bị làm việc, phương tiện thông tin liên lạc, để khắc phục tình trạng lãng phí đã quy định cụ thể, chặt chẽ hơn việc mua sắm, trang bị và sử dụng  các loại phương tiện, trang thiết bị làm việc tại các điều: Điều 13 đến Điều 17, Điều 19 đến Điều 21. Ví dụ như đối với phương tiện, thiết bị làm việc, các cơ quan, tổ chức khi mua sắm, trang bị phải đúng đối tượng, phục vụ thiết thực, hiệu quả cho công việc, đáp ứng yêu cầu đổi mới công nghệ theo quy định do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền ban hành; không được mua sắm, trang bị phương tiện, thiết bị làm việc sai đối tượng, vượt định mức, tiêu chuẩn, chế độ do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành và phải thực hiện theo quy định của pháp luật về đấu thầu. Cơ quan, tổ chức phải bố trí, phân công người quản lý, sử dụng và mở sổ theo dõi các loại phương tiện, thiết bị làm việc. (khoản 1 và 2, Điều 15); phải sử dụng phương tiện, thiết bị làm việc đúng mục đích, nghiêm cấm sử dụng phương tiện, thiết bị làm việc vào việc riêng. Cơ quan, tổ chức có trách nhiệm xây dựng quy chế nội bộ về sử dụng phương tiện, thiết bị làm việc; xử lý hoặc báo cáo cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xử lý phương tiện, thiết bị làm việc không cần sử dụng hoặc không còn sử dụng được bằng hình thức điều chuyển, thu hồi, thanh lý hoặc bán theo quy định của pháp luật (khoản 1, Điều 16).

Ngoài ra, có bổ sung một số quy định mới so với Pháp lệnh năm 1998, đó là:

- Quy định chặt chẽ việc quản lý, sử dụng khoản hoa hồng. Trong thực tế, nhất là trong giao dịch thương mại có phát sinh khoản hoa hồng, tuy nhiên chưa có VBQPPL nào quy định về việc quản lý, sử dụng hoa hồng dẫn đến tình trạng sinh tiêu cực như: sử dụng lãng phí, sử dụng vào mục đích cá nhân. Do đó, trong Luật có quy định rõ khi người được cơ quan, tổ chức giao mua sắm phương tiện đi lại, phương tiện, thiết bị làm việc, tài sản khác hoặc thanh toán dịch vụ nếu có khoản hoa hồng thì phải kê khai, nộp lại cơ quan, tổ chức để quản lý, sử dụng cho hoạt động của cơ quan, tổ chức đó; việc quản lý, sử dụng khoản hoa hồng từ mua sắm tài sản, thanh toán dịch vụ phải công khai, minh bạch; nghiêm cấm giữ lại khoản hoa hồng để sử dụng sai mục đích (Điều 18); 

            - Quy định về việc xây dựng quy chế nội bộ về quản lý, sử dụng điện, nước trong các cơ quan, đơn vị để thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; khi mua sắm, trang bị các phương tiện, thiết bị, đồ dùng sử dụng điện, nước phải tính đến hiệu quả, tiết kiệm; nghiêm cấm sử dụng lãng phí điện, nước trong cơ quan, tổ chức (Điều 22). Riêng đối với điện, những năm gần đây chúng ta đã đứng trước nguy cơ khan hiếm về điện năng, ảnh hướng lớn đến phát triển kinh tế - xã hội của đất nước nên vấn đề sử dụng tiết kiệm nguồn năng lượng này đã được Chính phủ quan tâm và chỉ đạo Bộ Công nghiệp xây dựng Chương trình tiết kiệm điện Quốc gia.

- Quy định việc mua sắm văn phòng phẩm, sách, báo, tạp chí của cơ quan, tổ chức phải xuất phát từ nhu cầu công việc và trong phạm vi dự toán được duyệt; khuyến khích các cơ quan, tổ chức thực hiện khoán chi văn phòng phẩm, sách, báo, tạp chí đến người sử dụng (Điều 23);

- Quy định việc tuyển chọn tổ chức, cá nhân thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ phải công khai, công bằng, dân chủ, khách quan và phải thực hiện theo phương thức đầu thầu theo quy định hiện hành; đối với trường hợp nhiệm vụ khoa học và công nghệ được NSNN hỗ trợ một phần kinh phí thì thực hiện khoán kinh phí hỗ trợ (Điều 25). Thực tế cho thấy nhiều đề tài nghiên cứu khoa học sử dụng kinh phí còn lãng phí, trùng lắp các nguồn. Một số đề tài được bảo vệ thành công nhưng ít có giá trị thực tiễn hoặc không được áp dụng đã gây lãng phí khá lớn cho ngân sách nhà nước. Với việc đổi mới phương thức lựa chọn cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia nghiên cứu, thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ thông qua việc đấu thầu sẽ bảo đảm nâng cao chất lượng của các đề tài nghiên cứu, giảm chi phí nghiên cứu và nâng cao tính khả thi.

2. Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong đầu tư xây dựng các dự án sử dụng ngân sách nhà nước, tiền, tài sản nhà nước (Chương III)             

Chương này gồm 9 điều quy định về việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong đầu tư xây dựng đối với các dự án, công trình được đầu tư bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước hoặc có nguồn gốc ngân sách nhà nước; kết cấu các điều được gắn với từng khâu của quá trình đầu tư xây dựng nhằm thực hiện tốt các quy định của pháp luật về đầu tư và xây dựng, bảo đảm thực hành tiết kiệm, chống lãng phí.

Lãng phí trong đầu tư xây dựng luôn được xem là lĩnh vực có nhiều bức xúc nhất và được dư luận xã hội hết sức quan tâm. Các VBQPPL hiện hành trong lĩnh vực này đã quy định rất nhiều biện pháp để quản lý chặt chẽ. Những quy định liên quan trực tiếp đến thực hành tiết kiệm, chống lãng phí đã được chọn lọc, thể hiện dưới góc độ thực hành tiết kiệm, chống lãng phí để luật hóa đưa vào Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, cụ thể như: (1) công tác khảo sát, thiết kế xây dựng công trình (Điều 28); lập, thẩm định, phê duyệt tổng dự toán, dự toán công trình (Điều 29); lựa chọn nhà thầu, tổ chức tư vấn giám sát thực hiện dự án đầu tư (Điều 30); thực hiện dự án đầu tư, thi công công trình (Điều 31). 

Một số nội dung quan trọng đáng lưu ý đã được quy định tại Chương này như sau:

- Về việc lập, thẩm định, phê duyệt các quy hoạch, kế hoạch, danh mục các đầu tư và dự án đầu tư phải bảo đảm phù hợp, thống nhất và đồng bộ như: dự án đầu tư phải nằm trong danh mục các dự án đầu tư; danh mục các dự án đầu tư phải phù hợp với quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch, kế hoạch phát triển vùng, quy hoạch xây dựng, phù hợp với định hướng, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, khả năng của nền kinh tế và phải đảm bảo hiệu quả. Điểm đáng lưu ý là các quy hoạch, k��� hoạch này phải được công khai (Điều 26 và Điều 27); 

- Về cấp, thanh toán và quyết toán vốn cho dự án đầu tư, phải đảm bảo đúng tiến độ, trong phạm vi tổng dự toán, dự toán công trình hoặc giá trúng thầu được duyệt; việc thanh toán vốn đầu tư phải theo đúng khối lượng hoàn thành được nghiệm thu; việc kiểm tra, giám sát sử dụng vốn và thẩm tra quyết toán công trình phải đúng quy định về quản lý vốn đầu tư. Nghiêm cấm ứng trước vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước cho dự án chưa được phê duyệt. Đối với dự án đầu tư đã được phê duyệt và bố trí vốn nhưng chậm khởi công xây dựng thì phải điều chuyển vốn cho dự án đầu tư khác theo quy định của Chính phủ (Điều 32);

- Về việc bố trí nguồn vốn thực hiện dự án đầu tư, phải phù hợp với danh mục dự án đầu tư được duyệt, tính chất, quy mô, tiến độ, yêu cầu của dự án đầu tư và khả năng của ngân sách nhà nước. Vốn ngân sách nhà nước được sử dụng để tập trung đầu tư cho các dự án hạ tầng kinh tế - xã hội và dự án khác không vì mục tiêu lợi nhuận. Nghiêm cấm việc chuyển nguồn vốn vay trong dự án đầu tư thành nguồn vốn ngân sách nhà nước cấp, trừ trường hợp có nguyên nhân khách quan (ví dụ do biến động lớn về giá cả, tỷ giá hối đoái...) được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép (Điều 33);

- Về việc tổ chức lễ động thổ, lễ khởi công, lễ khánh thành công trình xây dựng, Pháp lệnh năm 1998 cũng đã quy định vấn đề này, tuy nhiên trong thực hiện không khả thi, vì vậy trong Luật có quy định cụ thể đối với 2 nhóm công trình xây dựng: (1) đối với công trình quan trọng quốc gia thì Thủ tướng Chính phủ ra quyết định cho phép động thổ, khởi công, khánh thành công trình; (2) đối với công trình có ý nghĩa quan trọng về kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội của địa phương thì giao Thủ tướng Chính phủ ban hành văn bản quy định về các tiêu chí cụ thể để các địa phương có cơ sở thực hiện (Điều 34);

3. Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong việc quản lý, sử dụng trụ sở làm việc, nhà công vụ của cơ quan, tổ chức sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước và các công trình phúc lợi công cộng (Chương IV)

Chương này có 3 điều quy định về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong quản lý, sử dụng trụ sở làm việc, nhà công vụ và các công trình phúc lợi công cộng.

Trước đây, Pháp lệnh năm 1998 chỉ có một điều quy định chung về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong việc quản lý, sử dụng trụ sở làm việc, nhà công vụ và các công trình kiến trúc khác và cũng chưa cụ thể, rõ ràng. Lần này, Luật đã thiết kế thành 3 điều riêng để điều chỉnh phù hợp đối với từng loại đối tượng với các quy định chi tiết hơn, cụ thể như sau:

- Đối với trụ sở làm việc, đã quy định rõ việc xây dựng mới, nâng cấp, cải tạo, sửa chữa hoặc thuê trụ sở làm việc của cơ quan, tổ chức sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước phải dựa trên cơ sở định mức, tiêu chuẩn, chế độ do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành. Các cơ quan, tổ chức được giao quản lý, sử dụng trụ sở làm việc và các công trình kiến trúc khác gắn liền với diện tích đất thuộc trụ sở làm việc phải quản lý, sử dụng theo đúng mục đích, đúng quy định của pháp luật, bảo đảm tiết kiệm và hiệu quả. Trường hợp trụ sở làm việc sử dụng không đúng mục đích hoặc không sử dụng thì phải bị thu hồi, tiền thu do sử dụng trụ sở làm việc sai mục đích phải nộp vào ngân sách nhà nước (Điều 35).

Để thực hiện quy định này, hiện nay Thủ tướng Chính phủ đang giao các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong phạm vi quản lý của mình triển khai việc kiểm tra, rà soát diện tích đất đai, trụ sở làm việc, nhà công vụ đang quản lý để thu hồi diện tích trụ sở làm việc sử dụng không đúng mục đích để điều chuyển từ nơi thừa sang nơi thiếu, bổ trí sử dụng hợp lý, đúng chế độ, tiêu chuẩn quy định bảo đảm thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; không cấp thêm đất, không bố trí xây dựng trụ sở làm việc khi chưa hoàn thành việc sắp xếp sử dụng theo đúng tiêu chuẩn, diện tích đã có.

- Đối với nhà công vụ, nhà công vụ được xây dựng và bố trí cho cán bộ, công chức để ở trong thời gian thực thi công vụ phải đúng đối tượng, định mức, tiêu chuẩn, chế độ do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành. Để quản lý chặt chẽ nhà công vụ, tránh tình trạng sử dụng sai mục đích,  không trả lại nhà công vụ sau khi không còn trách nhiệm công vụ, Luật đã quy định người được giao nhà công vụ phải ký hợp đồng sử dụng với cơ quan quản lý; phải quản lý, sử dụng đúng mục đích, chế độ; phải trả lại cho Nhà nước khi thôi trách nhiệm công vụ. Đối với nhà công vụ bố trí không đúng đối tượng, sử dụng không đúng mục đích hoặc được giao nhưng không sử dụng thì sẽ phải  thu hồi (Điều 36).

- Đối với công trình phúc lợi công cộng, các cơ quan, đơn vị, tổ chức được giao quản lý, sử dụng công trình phúc lợi công cộng phải đúng mục đích được giao, phải xây dựng kế hoạch quản lý, khai thác, tu bổ và sử dụng hiệu quả. Trường hợp, công trình phúc lợi công cộng không được đưa vào sử dụng hoặc sử dụng kém hiệu quả thì phải bị thu hồi, giao cho cơ quan, tổ chức khác quản lý, sử dụng (Điều 37)

4. Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong việc quản lý, khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên (Chương V)

Chương này có 11 điều quy định việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong quản lý, khai thác và sử dụng các loại tài nguyên thiên nhiên. So với Pháp lệnh năm 1998, lĩnh vực này mới chỉ quy định trong 01 điều, lần này Luật dành cả Chương V để quy định cụ thể, chi tiết hơn.

 Tài nguyên thiên nhiên được hiểu trong Luật bao gồm đất đai, khoáng sản, nguồn nước, rừng và các loại tài nguyên khác. Việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí đối với các tài nguyên thiên nhiên được xem xét từ khâu quy hoạch, quản lý, đến khai thác, sử dụng. Các quy định tại Chương này được xây dựng bám sát với các quy định tại các luật chuyên ngành có liên quan như: Luật Đất đai, Luật Khoáng sản, Luật Tài nguyên nước, Luật bảo vệ và phát triển rừng... và được thể hiện dưới góc độ thực hành tiết kiệm, chống lãng phí để tránh trùng lắp, chồng chéo.

Một trong những nội dung đáng chú ý của Chương này là tại Điều 48 có  quy định "Nhà nước có chính sách khuyến khích tổ chức, cá nhân tái chế, tái sử dụng tài nguyên và các nguồn năng lượng có thể tái tạo được", đây là một quy định mới so với Pháp lệnh thực hành tiết kiệm, chống lãng phí nhằm khuyến khích sử dụng tiết kiệm, hiệu quả tài nguyên thiên nhiên. Để cụ thể quy định này, Luật đã giao Chính phủ quy định cụ thể cho phù hợp với điều kiện thực tiễn từng thời kỳ.

 5. Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong đào tạo, quản lý, sử dụng lao động và thời gian lao động trong khu vực nhà nước (Chương VI)                                        

Chương này có 5 điều quy định về việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong đào tạo, quản lý, sử dụng lao động và thời gian lao động trong khu vực nhà nước.

Lao động là nguồn lực hết sức quan trọng của đất nước, là nhân tố quyết định đến sự phát triển của mỗi quốc gia nói chung, của Việt Nam nói riêng, nhưng trong thực tế còn chưa được đánh giá đúng “tầm” và sử dụng lãng phí. Pháp lệnh năm 1998 chưa quy định về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong đào tạo, quản lý, sử dụng lao động và thời gian lao động; Để khắc phục tình trạng lãng phí trong đào tạo, sử dụng nguồn nhân lực, Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí đã bổ sung 01 chương quy định về lĩnh vực này.

Đối với công tác đào tạo nguồn nhân lực, trong thực tế còn có nhiều lãng phí, nhất là những bất hợp lý về quy mô, cơ cấu đào tạo và về chương trình đào tạo, tình trạng “thừa thày, thiếu thợ” đã diễn ra từ nhiều năm nhưng chưa có biện pháp khắc phục. Vì vậy, tại Điều 49 của Luật đã quy định "Việc xác định quy mô, cơ cấu đào tạo nguồn lực lao động phải gắn với yêu cầu của thị trường lao động, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội; chương trình đào tạo phải phù hợp với sự phát triển của khoa học - công nghệ và đáp ứng yêu cầu về chất lượng của nguồn lực lao động". Đây là quy định chung cho công tác đào tạo nguồn nhân lực trong phạm vi cả nước.

Về công tác tuyển dụng, bố trí, sử dụng cán bộ, công chức, viên chức, Luật đã bố trí 2 điều (Điều 50 và Điều 51) quy định về vấn đề này trên cơ sở bám sát pháp luật về cán bộ, công chức. Nguyên tắc trong tuyển dụng cán bộ, công chức, viên chức là phải căn cứ vào tiêu chuẩn, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, yêu cầu nhiệm vụ, khối lượng công việc, trong phạm vi biên chế được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định; đồng thời, phải thực hiện công khai, minh bạch. Luật còn quy định nghiêm cấm tuyển dụng theo hình thức biên chế hoặc hợp đồng dài hạn đối với những công việc có thể áp dụng hình thức hợp đồng thuê khoán; nghiêm cấm việc lợi dụng chức vụ, quyền hạn để tuyển dụng cán bộ, công chức, viên chức vượt quá số biên chế được quyết định; tuyển dụng sai đối tượng, không đúng quy trình hoặc thẩm quyền.

Về việc sử dụng thời gian lao động và nâng cao kỷ cương, kỷ luật lao động trong các cơ quan, tổ chức nhà nước, tại các Điều 52 và Điều 53 đã có các quy định cụ thể, bảo đảm thống nhất với Bộ Luật Lao động, Pháp lệnh cán bộ, công chức và các quy định hiện hành có liên quan khác. Điểm đáng lưu ý ở đây là các cơ quan, tổ chức nhà nước phải xây dựng kế hoạch sử dụng thời gian lao động, xử lý công việc một cách khoa học, hợp lý và bảo đảm thực hiện cải cách hành chính; đồng thời, phải xây dựng quy định về kỷ luật lao động phù hợp với các quy định của pháp luật hiện hành nhằm chấn chỉnh lại kỷ cương, kỷ luật lao động, ý thức làm việc của cán bộ, công chức, viên chức nhà nước.   

6. Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong quản lý, sử dụng vốn và tài sản nhà nước tại doanh nghiệp (Chương VII)

Chương này gồm 8 điều, tập trung quy định về việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong quản lý vốn và tài sản nhà nước tại doanh nghiệp.

 Nội dung của Chương này được điều chỉnh cho 2 nhóm đối tượng doanh nghiệp là: doanh nghiệp 100% vốn nhà nước (công ty nhà nước) và doanh nghiệp có phần vốn góp nhà nước, trong đó chủ yếu điều chỉnh việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí đối với công ty nhà nước trên cơ sở kế thừa các giải pháp quản lý đã được thực tế kiểm nghiệm, trên cơ sở đảm bảo nguyên tắc tự chủ, tự chịu trách nhiệm của doanh nghiệp, không can thiệp quá sâu vào hoạt động của doanh nghiệp, tạo điều kiện cho doanh nghiệp chủ động trong sản xuất, kinh doanh.

Các quy định về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong công ty nhà nước được điều chỉnh tập trung vào các nội dung sau: (1) trong quản lý, sử dụng vốn và các quỹ của công ty (Điều 55); (2) trong sử dụng đất (Điều 56); (3) trong mua sắm, quản lý, sử dụng tài sản cố định, vật tư và các tài sản khác (Điều 57 và Điều 58). Điểm đáng lưu ý là về việc quản ý đất của công ty nhà nước, tại Điều 56 có quy định công ty nhà nước phải thực hiện việc xác định giá trị quyền sử dụng đất để hạch toán vào giá trị của doanh nghiệp và quản lý đất theo chế độ quản lý tài sản nhà nước; việc sử dụng đất phải đúng mục đích được ghi trong quyết định giao đất, cho thuê đất, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp.

Để nâng cao trách nhiệm của Chủ tịch Hội đồng quản trị, Tổng Giám đốc, Giám đốc công ty nhà nước trong việc quản lý, sử dụng vốn và tài sản nhà nước của công ty, cũng như trách nhiệm của người được giao là Đại diện chủ sở hữu nhà nước tại doanh nghiệp có phần vốn góp của nhà nước trong việc tham gia quản lý, điều hành doanh nghiệp, theo dõi, giám sát tình hình hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, Chương này đã bố trí 2 điều quy định về trách nhiệm của từng đối tượng cụ thể như:

-  Chủ tịch Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc, Giám đốc công ty nhà nước phải có trách nhiệm quản lý, sử dụng vốn và tài sản của công ty hiệu quả; nếu thiếu trách nhiệm, gây lãng phí thì phải bồi thường và bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc xử lý kỷ luật (Điều 60).

-  Người đại diện phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp phải có trách nhiệm theo dõi, giám sát tình hình hoạt động, kinh doanh của doanh nghiệp; nếu thiếu trách nhiệm, gây lãng phí cho doanh nghiệp và Nhà nước thì phải bồi thường và bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc xử lý kỷ luật; phải chịu trách nhiệm về những vấn đề đã biểu quyết đối với các quyết định của doanh nghiệp có vốn góp của Nhà nước; định kỳ báo cáo việc sử dụng vốn góp của Nhà nước với cơ quan, tổ chức có thẩm quyền (Điều 61).

  7. Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong sản xuất và tiêu dùng của nhân dân (Chương VIII)

Trong quá trình nghiên cứu, xây dựng Luật, có một số ý kiến đề nghị không đưa lĩnh vực này vào đối tượng điều chỉnh của Luật vì khu vực dân cư chỉ có thể quy định các biện pháp khuyến khích, không thể có chế tài xử lý vi phạm được, trong khi đó hầu hết các đạo luật thông thường đều quy định mang tính bắt buộc và có chế tài xử lý vi phạm. Tuy nhiên, khi thông qua Luật tại kỳ họp thứ 8, Quốc hội khoá XI, đa số các Đại biểu Quốc hội đã nhất trí đưa khu vực dân cư vào đối tượng điều chỉnh của Luật vì cần phải kế thừa quy định của Pháp lệnh năm 1998; đồng thời, tiết kiệm là "Quốc sách" nên phải điều chỉnh đối với tất cả các đối tượng, bao gồm cả khu vực dân cư.

Trong Chương này đã thiết kế 4 điều quy định mang tính khuyến khích, hướng dẫn việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong sản xuất và tiêu dùng của nhân dân, cụ thể như sau:

- Nhà nước khuyến khích toàn dân thực hành tiết kiệm trong sản xuất và tiêu dùng, tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên và các nguồn lực để dành vốn đầu tư, phát triển sản xuất, kinh doanh, tham gia mua công trái xây dựng Tổ quốc, tín phiếu, trái phiếu, cổ phiếu, gửi tiền tiết kiệm và các hình thức đầu tư sinh lợi khác mà pháp luật không cấm (Điều 62).

-  Khi xây dựng nhà ở, mua sắm phương tiện, thiết bị dùng cho đời sống sinh hoạt và tiêu dùng hàng ngày phải tiết kiệm, chống lãng phí (Điều 63).

- Đối với các hoạt động văn hoá như việc cưới, việc tang, lễ hội...phải tránh xa hoa, lãng phí, bảo đảm giữ gìn thuần phong, mỹ tục, xây dựng nếp sống văn minh, lành mạnh (Điều 64). Theo đó, Luật cũng đã giao Bộ Văn hoá – Thông tin có trách nhiệm giúp Chính phủ xây dựng quy chế mẫu về hương ước trong việc tổ chức các hoạt động văn hoá này. Về vấn đề này, vừa qua Thủ tướng Chính phủ cũng đã ban hành Quyết định số 308/2005/QĐ-TTg ngày 25/11/2005 ban hành Quy chế về  việc việc cưới, việc tang và lễ hội để chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương tổ chức hướng dẫn nhân dân thực hiện.

Đáng chú ý là tại Điều 65 đã có quy định các cơ quan, tổ chức nhà nước và các tổ chức đoàn thể cần đưa thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trở thành nội dung xem xét, đánh giá, xếp loại cán bộ, công chức, viên chức và thành viên của các tổ chức.

III. TRÁCH NHIỆM CỦA CƠ QUAN, TỔ CHỨC TRONG THỰC HÀNH TIẾT KIỆM, CHỐNG LÃNG PHÍ (CHƯƠNG IX)

Chương này có 13 điều quy định về trách nhiệm của Chính phủ; trách nhiệm chung của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; trách nhiệm cụ thể của 7 Bộ liên quan trực tiếp đến các lĩnh vực thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật là: Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Xây dựng, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Nội vụ, Bộ Lao động Thương binh - Xã hội và Bộ Văn hoá - Thông tin; trách nhiệm của Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân các cấp; trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận. Ngoài ra, Chương này cũng quy định về trách nhiệm của cơ quan thanh tra, kiểm toán nhà nước, cơ quan điều tra trong việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí.

- Về trách nhiệm của Chính phủ, tại Điều 66 của Luật đã quy định rõ trách nhiệm trong việc ban hành các VBQPPL, chính sách, biện pháp thực hành tiết kiệm, chống lãng phí hoặc trình Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội ban hành; thực hiện sửa đổi, bổ sung, ban hành kịp thời các định mức kinh tế - kỹ thuật, định mức, tiêu chuẩn, chế độ sử dụng ngân sách nhà nước, tiền, tài sản nhà nước thuộc thẩm quyền để phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ, bảo đảm tiết kiệm, chống lãng phí.

Bên cạnh đó, Chính phủ còn có trách nhiệm chỉ đạo tổ chức công tác thanh tra, kiểm tra việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí đối với các bộ, ngành, địa phương, các cơ quan, đơn vị, tổ chức. Đối với các hành vi vi phạm phải xử lý kịp thời, nghiêm minh và công khai việc xử lý đối với hành vi vi phạm pháp luật về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí theo thẩm quyền. Đây được coi là vấn đề cốt lõi để ngăn chặn và đẩy lùi tình trạng lãng phí hiện nay.

Để đảm bảo chỉ đạo, tổ chức thực hiện Luật một cách thường xuyên, liên tục; tránh tình trạng triển khai thực hiện luật theo kiểu “phong trào”, Luật đã quy định rõ trách nhiệm của Chính phủ trong việc tổ chức xây dựng và phê duyệt Chương trình tổng thể về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí hằng năm và dài hạn để làm cơ sở cho các bộ, ngành và địa phương xây dựng và tổ chức thực hiện chương trình của mình; hằng năm tổng hợp từ tổng kết, đánh giá từ các bộ, ngành, địa phương về kết quả thực hành tiết kiệm, chống lãng phí để báo cáo Quốc hội  tại kỳ họp cuối năm; đồng thời, Chính phủ sẽ xét khen thưởng các bộ, ngành, địa phương thực hiện tốt, đối với các bộ, ngành, địa phương không thực hiện hoặc chậm chễ trong việc sơ kết, tổng kết việc thực hiện chương trình thì sẽ bị xử lý. 

Để đưa Luật vào cuộc sống, việc tăng cường tuyên truyền, vận động toàn dân thực hành tiết kiệm, chống lãng phí cũng đặt ra hết sức quan trọng, theo đó Luật cũng đã quy định trách nhiệm của Chính phủ trong việc phối hợp với Mặt trận Tổ quốc và chỉ đạo các cơ quan thông tin đại chúng tăng cường công tác này.

- Về trách nhiệm của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, tại Điều 67 của Luật có quy định chung như sau: (1) cụ thể hoá, xây dựng và hướng dẫn thực hiện chính sách, biện pháp thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và chỉ đạo cơ quan, tổ chức cấp dưới triển khai thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; (2) rà soát hệ thống định mức kinh tế - kỹ thuật thuộc thẩm quyền quản lý; sửa đổi, bổ sung, ban hành hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành kịp thời, phù hợp với tình hình thực tiễn, tiến bộ khoa học và công nghệ, bảo đảm tiết kiệm, chống lãng phí; (3) xây dựng và thực hiện chương trình thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, định kỳ báo cáo Chính phủ kết quả thực hiện; tổ chức thực hiện công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm và công khai việc xử lý vi phạm về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong lĩnh vực quản lý và đối với các cơ quan, tổ chức thuộc thẩm quyền quản lý.

Ngoài ra, để nâng cao quyền giám sát thực hành tiết kiệm, chống lãng phí của công dân và các cơ quan, tổ chức, Luật cũng đã quy định trách nhiệm của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ phải tạo mọi điều kiện cần thiết phát huy quyền giám sát này; đồng thời, cũng quy định phải chịu trách nhiệm về kết quả thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong phạm vi, lĩnh vực quản lý được giao.

So với Pháp lệnh năm 1998, trước đây mới chỉ quy định trách nhiệm của 2 Bộ là Bộ Tài chính và Bộ Nội vụ, Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí lần này đã bổ sung thêm trách nhiệm của các bộ, ngành cụ thể có liên quan trực tiếp. Đây cũng là một điểm mới nhằm nâng cao trách nhiệm của các Bộ quản lý ngành, lĩnh vực thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật.

- Về trách nhiệm của Hội đồng nhân dân các cấp, tại Điều 75, ngoài việc quy định trách nhiệm của Hội đồng nhân dân các cấp trong việc sửa đổi, bổ sung, ban hành các định mức, tiêu chuẩn, chế độ theo thẩm quyền được phân cấp và phù hợp với khả năng của ngân sách địa phương; quyết định dự toán và phân bổ ngân sách địa phương theo định mức, tiêu chuẩn, chế độ do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành; phê chuẩn quyết toán ngân sách địa phương bảo đảm yêu cầu thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, Hội đồng nhân dân còn có trách nhiệm xây dựng và quyết định các biện pháp thực hành tiết kiệm, chống lãng phí tại địa phương; giám sát việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí ở địa phương; giám sát việc thực hiện công khai các lĩnh vực tại địa phương. 

- Về trách nhiệm của Uỷ ban nhân dân các cấp, tại Điều 75 quy định Uỷ ban nhân dân có trách nhiệm: (1) xây dựng và thực hiện chương trình thực hành tiết kiệm, chống lãng phí hằng năm và dài hạn; quyết định theo thẩm quyền và tổ chức thực hiện các biện pháp thực hành tiết kiệm, chống lãng phí ở địa phương; (2) tổ chức thực hiện các quy định về quản lý ngân sách, quản lý đầu tư xây dựng, quản lý tài sản nhà nước; kiểm tra việc sử dụng vốn và tài sản nhà nước tại doanh nghiệp theo quy định về phân cấp quản lý; (3) thực hiện công khai đối với các lĩnh vực theo thẩm quyền và theo phân cấp tại địa phương; bảo đảm việc thực hiện quyền giám sát thực hành tiết kiệm, chống lãng phí của công dân và các cơ quan, tổ chức có liên quan; (4) chỉ đạo, tổ chức công tác thanh tra, kiểm tra, đánh giá và định kỳ báo cáo tình hình thực hành tiết kiệm, chống lãng phí ở địa phương với Hội đồng nhân dân cùng cấp tại các kỳ họp, Uỷ ban nhân dân cấp trên hoặc Chính phủ. Xử lý nghiêm minh, kịp thời theo đúng thẩm quyền và thực hiện công khai việc xử lý đối với hành vi vi phạm pháp luật về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí tại địa phương; (5) Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các cấp có nhiệm vụ tổ chức thực hiện quy định tại Điều này và phải chịu trách nhiệm về kết quả thực hành tiết kiệm, chống lãng phí tại địa phương.

- Về trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên của Mặt trận được quy định tại Điều 77 là: (1) tổ chức tuyên truyền, vận động và hướng dẫn nhân dân thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong sản xuất và tiêu dùng; (2) giám sát việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí tại cơ quan, tổ chức sử dụng ngân sách nhà nước, tiền, tài sản nhà nước; giám sát việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong sản xuất và tiêu dùng của nhân dân; giám sát việc xử lý hành vi gây lãng phí;

- Về trách nhiệm của cơ quan thanh tra, Kiểm toán Nhà nước, cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân, Toà án nhân dân. Việc tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm trong việc quản lý, sử dụng ngân sách, tiền và tài sản nhà nước của các cơ quan, đơn vị, tổ chức luôn là một biện pháp quan trọng để kịp thời phát hiện, ngăn chặn các hành vi vi phạm, gây lãng phí. Để tách biệt trách nhiệm của ba cơ quan này trong quá trình kiểm tra, kiểm toán và xử lý vi phạm tại Điều 78 quy định như sau: (1) cơ quan thanh tra có trách nhiệm thanh tra, phát hiện hành vi vi phạm quy định của pháp luật về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí để xử lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật; (2) cơ quan Kiểm toán Nhà nước trong việc thực hiện chức năng kiểm toán nếu phát hiện hành vi gây lãng phí thì phải kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật; kết quả kiểm toán có liên quan đến hành vi vi phạm pháp luật về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí phải được công khai; (3) cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân, Toà án nhân dân trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp với các cơ quan, tổ chức hữu quan xử lý kịp thời, nghiêm minh hành vi vi phạm pháp luật về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí.

IV. KHIẾU NẠI, TỐ CÁO, KHEN THƯỞNG VÀ XỬ LÝ VI PHẠM (CHƯƠNG IX)

Chương này có 6 Điều, ngoài các quy định chung về khiếu nại, tố cáo, còn quy định về chế độ khen thưởng và về xử lý vi phạm trong việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, cụ thể như sau:

Về khen thưởng, ngoài các quy định khen thưởng chung theo Luật Thi đua khen thưởng đối với tổ chức, cá nhân có thành tích trong việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; trong việc phát hiện, ngăn ngừa các hành vi gây lãng phí, tại Điều 80 còn quy định cụ thể biện pháp sử dụng từ kết quả tiết kiệm được để thưởng bằng vật chất cho các tổ chức, cá nhân có thành tích trong việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí.

Về chế tài xử lý vi phạm, Pháp lệnh năm 1998 có một điều quy định về chế tài xử lý hành vi vi phạm và ở một số điều có quy định chung và hầu hết đều giống nhau là: “...thì bị xử lý theo quy định của pháp luật”, nhưng trong thực tế chưa có văn bản quy phạm pháp luật nào quy định về chế tài xử lý, nên không thể xử lý được, các vụ việc bị phát hiện mới chỉ dừng lại ở mức kiến nghị xử lý hoặc xử lý không nghiêm, không triệt để. Đây là một trong những nguyên nhân làm hạn chế tính khả thi của Pháp lệnh. Bên cạnh đó, Pháp lệnh cũng thiếu quy định cụ thể về trách nhiệm cá nhân hoặc chưa tách biệt được trách nhiệm của tập thể với cá nhân trong việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, nhất là trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, đơn vị, tổ chức nên không quy được trách nhiệm của các chủ thể hành vi để áp dụng các chế tài xử lý.

Khắc phục những hạn chế trên của Pháp lệnh, tại Chương I của Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí đã có 02 điều quy định về trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức (Điều 8) và trách nhiệm của cán bộ, công chức, viên chức nhà nước (Điều 9) trong việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, trong đó, người đứng đầu các cơ quan, tổ chức ngoài việc phải chịu trách nhiệm cá nhân nếu tự mình có vi phạm gây lãng phí còn phải xây dựng, thực hiện các biện pháp thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và chịu trách nhiệm về tình trạng lãng phí không chỉ trong cơ quan, tổ chức của mình mà trong phạm vi cả lĩnh vực được giao quản lý. Những quy định này được tiếp tục cụ thể hoá tại các điều quy định về trách nhiệm của người đứng đầu các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các cấp.

Về các chế tài áp dụng, tại các điều quy định về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong các lĩnh vực đã quy định rõ các chế tài xử lý vi phạm quy định về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và gắn với từng hành vi và chủ thể hành vi vi phạm gây lãng phí, trong đó bồi thường là biện pháp xuyên suốt và quan trọng để áp dụng cho hầu hết các hành vi vi phạm gây lãng phí, đây là điểm mới của Luật được dư luận đồng tình ủng hộ vì biện pháp xử lý về kinh tế thường có hiệu quả cao hơn nhiều so với các chế tài về hành chính nếu hành vi vi phạm chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.

Cùng với việc buộc phải bồi thường thiệt hại, các đối tượng vi phạm còn bị xử lý kỷ luật hoặc xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm và chủ thể của hành vi, quy định này phù hợp với các quy định hiện hành về xử lý kỷ luật và xử phạt vi phạm hành chính (theo quy định hiện hành, cán bộ, công chức có vi phạm trong thi hành công vụ sẽ bị kỷ luật, tổ chức cá nhân khác vi phạm thì bị xử lý vi phạm hành chính).

Riêng về chế tài truy cứu trách nhiệm hình sự, Luật có bố trí một điều riêng (Điều 84) quy định chế tài này để bao quát hết các trường hợp vi phạm gây lãng phí ở mức độ nghiêm trọng.

Như vậy, với các cấp độ xử lý khác nhau được quy định tại Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, có thể nói các chế tài xử lý vi phạm của Luật đã khá cụ thể để có thể áp dụng với các chủ thể hành vi vi phạm tạo cơ sở pháp lý để Chính phủ ban hành Nghị định về bồi thường, xử lý kỷ luật và xử phạt vi phạm hành chính.

V. ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH

Luật quy định có hiệu lực thi hành từ ngày 01/6/2006. Đồng thời giao Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật này. Theo đó Chính phủ đã giao Bộ Tài chính xây dựng trình Chính phủ ban hành 02 Nghị định: (1) Nghị định hướng dẫn chi tiết một số điều của Luật; (2) Nghị định về bồi thường, xử lý kỷ luật và xử phạt vi phạm hành chính.

Tóm lại, cùng với việc mở rộng phạm vi các lĩnh vực thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí cũng đã đưa ra nhiều cơ chế, biện pháp như quy định rõ nguyên tắc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; quy định về các yêu cầu cơ bản và trách nhiệm sửa đổi, bổ sung, ban hành định mức, tiêu chuẩn, chế độ để làm thước đo cho việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; quy định cụ thể, rõ ràng về trách nhiệm của cá nhân, đặc biệt là người đứng đầu cơ quan, tổ chức, trách nhiệm của người quản lý, sử dụng ngân sách nhà nước, tiền, tài sản nhà nước; quy định quyền giám sát của các tổ chức, cá nhân và việc công khai, bảo đảm quyền giám sát và có cơ chế bảo vệ người thực hiện quyền giám sát. Đồng thời, các chế tài xử lý vi phạm đã được cụ thể hoá gắn với từng hành vi và chủ thể hành vi vi phạm... Đó là những nội dung quan trọng góp phần bảo đảm tính khả thi của luật. Tuy nhiên, để Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí thực sự đi vào cuộc sống, cần phải có sự quan tâm của các cấp, các ngành, các cơ quan, đơn vị, tổ chức, đoàn thể và coi đây là nhiệm vụ thường xuyên nhằm đưa tiết kiệm thực sự trở thành "quốc sách", đóng góp nguồn lực cho công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước.

 

 

                                                                       

 

 

NỘI DUNG CHỦ YẾU CỦA CHƯƠNG TRÌNH HÀNH ĐỘNG

 

CỦA CHÍNH PHỦ TRIỂN KHAI THỰC HIỆN

LUẬT THỰC HÀNH TIẾT KIỆM, CHỐNG LÃNG PHÍ

 

 

            Ngày 29/11/2005, Quốc hội khoá XI, kỳ họp thứ 8 đã thông qua Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí (có hiệu lực thi hành  từ ngày 01/6/2006). Việc ban hành Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí bên cạnh ý nghĩa nâng tầm pháp lý thay cho Pháp lệnh cùng tên ban hành năm 1998, còn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đưa thực hành tiết kiệm, chống lãng phí lên ngang tầm một “quốc sách”; đồng thời cũng đặt ra những yêu cầu cao hơn trong việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí của toàn bộ nền kinh tế, từ các cơ quan Nhà nước đến các đơn vị, tổ chức kinh tế và toàn dân. Trong bối cảnh bước vào năm đầu tiên thi hành Luật, nhiều công việc phải được triển khai một cách khẩn trương đồng bộ; từ việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thực hiện Luật đến việc rà soát, bổ sung, sửa đổi, ban hành mới các định mức tiêu chuẩn chế độ liên quan đến quản lý, sử dụng ngân sách nhà nước, tiền và tài sản nhà nước… làm căn cứ thực hiện, kiểm tra, đánh giá, giám sát thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. Bên cạnh đó, việc có sự chuyển biến rõ rệt trong thực hành tiết kiệm, chống lãng phí ngay trong ngày đầu thi hành Luật cũng có ý nghĩa hết sức quan trọng, tạo đà cho các năm sau. Từ mục đích, yêu cầu và ý nghĩa nói trên, ngày 26/01/2006 Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số 25/2006/QĐ-TTg ban hành Chương trình hành động của Chính phủ về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí.

 

Về mục tiêu, Chương trình hành động của Chính phủ xác định hướng tới các mục tiêu sau:

Một là, ngăn chặn và đẩy lùi lãng phí đang diễn trong các lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội hiện nay, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng các nguồn lực của đất nước cho phát triển kinh tế - xã hội.

Hai là, nâng cao ý thức trách nhiệm của các cấp, các ngành, các cơ quan, đơn vị, tổ chức, cán bộ, công chức, viên chức và của công dân về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí.

Ba là, làm căn cứ cho các cấp, các ngành xây dựng chương trình về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí thuộc lĩnh vực và phạm vi quản lý; đưa thực hành tiết kiệm, chống lãng phí thành nhiệm vụ thường xuyên của các cấp, các ngành từ trung ương đến địa phương và từng cơ quan, đơn vị, tổ chức.

Chương trình hành động của Chính phủ cũng xác định các yêu cầu cụ thể là: (1) Xây dựng và ban hành đầy đủ, kịp thời các văn bản quy phạm pháp luật để hướng dẫn thực hiện Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. (2) Cụ thể hoá các nhiệm vụ, biện pháp thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong các lĩnh vực thuộc phạm vi được điều chỉnh của Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. (3) Thực hiện ngay và có hiệu quả một số giải pháp, nhiệm vụ, tạo chuyển biến mạnh mẽ về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong năm 2006.

Sau đây là các nội dung chủ yếu của Chương trình:

Thứ nhất, ban hành đồng bộ các văn bản quy phạm pháp luật để hướng dẫn, triển khai thực hiện Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí.

Để Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí đi vào cuộc sống ngay sau khi có hiệu lực (kể từ ngày 01 tháng 6 năm 2006), cùng với hệ thống các văn bản pháp luật đã được ban hành và phải thực hiện nghiêm chỉnh, cần tiếp tục hoàn thiện các văn bản pháp luật về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. Tại Mục I Phần B Chương trình hành động của Chính phủ về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí đã quy định trong quý I và quý II năm 2006, Chính phủ phải ban hành 02 Nghị định sau: (1) Nghị định của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; (2) Nghị định của Chính phủ quy định về bồi thường thiệt hại, xử lý kỷ luật và xử phạt vi phạm hành chính trong thực hành tiết kiệm chống lãng phí.

Bên cạnh đó, các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong phạm vi, lĩnh vực quản lý của mình có trách nhiệm thực hiện việc rà soát các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến các quy định của Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí để có ngay kế hoạch bổ sung, sửa đổi, ban hành theo thẩm quyền hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành; loại bỏ các quy định không phù hợp với yêu cầu thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, các quy định không chặt chẽ, gây lãng phí ngân sách nhà nước, tiền, tài sản, lao động, thời gian lao động và tài nguyên thiên nhiên.

Thứ hai, tổ chức học tập, nghiên cứu, quán triệt Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí.

            Việc học tập, quán triệt Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí đến từng cán bộ, công chức, viên chức và nhân dân nhằm tăng cường hiểu biết pháp luật, nâng cao nhận thức, có những hành động, việc làm cụ thể tạo chuyển biến thực sự trong lề lối làm việc, cải cách hành chính và thực hành tiết kiệm, chống lãng phí là hết sức cần thiết. Tại Mục II Phần B Chương trình hành động của Chính phủ về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí đã quy định:

1. Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương phối hợp với các đoàn thể, tổ chức quần chúng có trách nhiệm tổ chức học tập, quán triệt Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, Chương trình hành động của Chính phủ, Chương trình thực hành tiết kiệm, chống lãng phí của cấp mình, ngành mình, đơn vị mình đến từng cán bộ, công chức, viên chức, hội viên thuộc phạm vi quản lý nhằm tăng cường hiểu biết pháp luật, nâng cao nhận thức, có những hành động, việc làm cụ thể tạo chuyển biến thực sự trong lề lối làm việc, cải cách hành chính và thực hành tiết kiệm, chống lãng phí.

Bộ Tư pháp phối hợp với Bộ Tài chính có kế hoạch hướng dẫn triển khai đợt học tập, nghiên cứu, quán triệt Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong cán bộ, công chức, viên chức.

2. Các cơ quan thông tấn báo chí đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục về pháp luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trên các phương tiện thông tin đại chúng với các hình thức thích hợp và có hiệu quả; nêu gương người tốt, việc tốt trong việc thực thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; kịp thời phê phán, lên án các cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm, gây lãng phí.

Thứ ba, hoàn thiện hệ thống định mức, tiêu chuẩn, chế độ làm cơ sở thực hành tiết kiệm chống lãng phí.

Trong hệ thống các quy định pháp luật về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, định mức, tiêu chuẩn, chế độ được xác định là cơ sở để thực hiện, là chuẩn mực để quản lý, kiểm tra và là căn cứ để giám sát, đánh giá việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. Tại Điều 5 của Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí đã quy định về nguyên tắc để ban hành các định mức, tiêu chuẩn, chế độ làm cơ sở cho việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. Việc cần phải làm ngay là phải tiến hành rà soát các định mức, tiêu chuẩn, chế độ trong các lĩnh vực, đặc biệt tập trung vào lĩnh vực quản lý, sử dụng ngân sách nhà nước; đầu tư xây dựng cơ bản; quản lý, sử dụng trụ sở làm việc, nhà công vụ, công trình phúc lợi công cộng và tài sản công khác; khai thác, quản lý, sử dụng tài nguyên thiên nhiên; để có kế hoạch sửa đổi, bổ sung, ban hành theo thẩm quyền hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành.

Yêu cầu đặt ra là không để xảy ra tình trạng không có định mức, tiêu chuẩn, chế độ hoặc định mức, tiêu chuẩn, chế độ có nhưng lại quá lạc hậu không phù hợp với thực tế. Việc sửa đổi, bổ sung định mức, tiêu chuẩn, chế độ, định mức kinh tế - kỹ thuật trong các lĩnh vực còn phải bảo đảm phù hợp với yêu cầu thực tế, tiến bộ khoa học, công nghệ và khả năng của ngân sách nhà nước trong từng thời kỳ. Trên cơ sở đó, tại Mục III Phần B Chương trình hành động của Chính phủ về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí đã quy định:

1. Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tổng rà soát các định mức, tiêu chuẩn, chế độ trong các lĩnh vực, đặc biệt tập trung vào lĩnh vực quản lý, sử dụng ngân sách nhà nước; đầu tư xây dựng cơ bản; quản lý, sử dụng trụ sở làm việc, nhà công vụ, công trình phúc lợi công cộng và tài sản công khác; khai thác, quản lý, sử dụng tài nguyên thiên nhiên; lập danh mục các định mức, tiêu chuẩn, chế độ, định mức kinh tế - kỹ thuật còn thiếu hoặc không còn phù hợp trong các lĩnh vực chuyên ngành để có kế hoạch sửa đổi, bổ sung, ban hành theo thẩm quyền hoặc trình cơ quan có thẩm quyền ban hành. Trong năm 2006, hoàn thành về cơ bản việc sửa đổi, bổ sung, ban hành định mức, tiêu chuẩn, chế độ, định mức kinh tế - kỹ thuật làm cơ sở để thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và xử lý các vi phạm; quản lý nghiêm ngặt việc thực hiện các định mức, tiêu chuẩn, chế độ đã ban hành; công khai định mức, tiêu chuẩn, chế độ, định mức kinh tế - kỹ thuật để tạo điều kiện cho việc giám sát việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí.

2. Việc sửa đổi, bổ sung định mức, tiêu chuẩn, chế độ, định mức kinh tế - kỹ thuật trong các lĩnh vực phải bảo đảm phù hợp với yêu cầu thực tế, tiến bộ khoa học, công nghệ và khả năng của ngân sách nhà nước trong từng thời kỳ.

Thứ tư, thực hiện công khai tạo điều kiện kiểm tra, giám sát việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí.

Tại điều 6 của Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí đã quy định rõ các lĩnh vực phải thực hiện công khai và các hình thức công khai để tạo điều kiện cho việc kiểm tra, giám sát thực hành tiết kiệm, chống lãng phí.  Để triển khai quy định này của Luật, tại Mục IV Phần B Chương trình hành động của Chính phủ về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí đã quy định trách nhiệm của Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong việc chỉ đạo, hướng dẫn các đơn vị thuộc phạm vi quản lý thực hiện các quy định về công khai để tạo điều kiện cho việc kiểm tra, thanh tra, giám sát thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; đồng thời, tăng cường kiểm tra việc thực hiện các quy định của pháp luật về công khai, đưa công tác công khai về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí thành nề nếp trong các cơ quan, đơn vị, tổ chức nhà nước.

Theo đó, Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị, tổ chức nhà nước phải thực hiện công khai theo đúng quy định của pháp luật, trước hết tập trung thực hiện công khai việc sử dụng ngân sách nhà nước và các nguồn tài chính được giao (nếu có); công khai mua sắm, sử dụng trang thiết bị làm việc, phương tiện đi lại; công khai quản lý, sử dụng trụ sở làm việc, nhà công vụ, công trình phúc lợi công cộng và các tài sản khác trong cơ quan, đơn vị, tổ chức.

Chương trình hành động của Chính phủ cũng quy định trách nhiệm của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong việc báo cáo tình hình thực hiện công khai trong các đơn vị thuộc phạm vi quản lý và kết quả giám sát việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, gửi Bộ Tài chính để tổng hợp, định kỳ hàng năm báo cáo Chính phủ.

Thứ năm, về công tác kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm quy định về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí.

Kiểm tra, thanh tra thực hành tiết kiệm, chống lãng phí là một trong những nội dung hết sức quan trọng trong công tác thanh tra, kiểm tra nói chung và công tác thanh tra, kiểm tra hành chính và thanh tra chuyên ngành nói riêng. Vấn đề được đặt ra là cần xác định kiểm tra thực hành tiết kiệm, chống lãng phí là công việc thường xuyên của từng cơ quan, đơn vị; của cơ quan quản lý cấp trên đối với cấp dưới; thanh tra thực hành tiết kiệm, chống lãng phí phải được đưa thành nội dung kế hoạch thanh tra các cấp, các ngành nhằm phát hiện, ngăn ngừa kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. Trên cơ sở đó, tại Mục V Phần B Chương trình hành động của Chính phủ về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí đã quy định trong năm 2006, công tác kiểm tra, thanh tra thực hành tiết kiệm chống lãng phí tập trung vào 7 lĩnh vực có nhiều bức xúc sau:

1. Quản lý, sử dụng đất đai;

2. Các dự án đầu tư sử dụng ngân sách nhà nước hoặc có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước;

3. Quản lý, sử dụng trụ sở làm việc, nhà công vụ, công trình phúc lợi công cộng;

4. Các Chương trình Quốc gia;

5. Quản lý, sử dụng các nguồn viện trợ, tài trợ của nước ngoài;

6. Mua sắm, trang bị, quản lý, sử dụng phương tiện đi lại;

7. Mua sắm, trang bị, quản lý, sử dụng trang thiết bị làm việc;

Chương trình hành động của Chính phủ còn xác định rõ trách nhiệm của Thanh tra Chính phủ trong việc hướng dẫn thực hiện công tác thanh tra và báo cáo Chính phủ kết quả thanh tra thực hành tiết kiệm, chống lãng phí tại phiên họp cuối năm. Đồng thời yêu cầu các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chỉ đạo các đơn vị trong phạm vi, lĩnh vực quản lý của mình xử lý dứt điểm các vi phạm trong thực hành tiết kiệm, chống lãng phí đã phát hiện qua kiểm tra, thanh tra những năm qua. Kịp thời xử lý vi phạm theo đúng quy định của pháp luật; công bố công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng đối với cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm, gây lãng phí ngân sách nhà nước, tiền, tài sản nhà nước, lao động, thời gian lao động, tài nguyên thiên nhiên và việc xử lý các hành vi vi phạm đó. Đối với trường hợp vi phạm thuộc thẩm quyền xử lý của Thủ tướng Chính phủ thì đề xuất gửi Bộ Nội vụ để tổng hợp báo cáo Thủ tướng Chính phủ xử lý kịp thời.

Thứ sáu, tổ chức thực hiện có hiệu quả thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong các lĩnh vực.

Bên cạnh các quy định về  thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong các lĩnh vực, Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí cũng quy định rõ trách nhiệm các cấp, các ngành trong việc tổ chức, triển khai thực hiện. Để đạt được kết quả cụ thể về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, vấn đề được đặt ra là trong từng lĩnh vực cần phải có kế hoạch, biện pháp triển khai cụ thể, trong đó chọn lựa các nội dung trọng tâm, trọng điểm có yêu cầu  phải làm ngay và có chuyển biến ngay trong năm 2006; có những nội dung thuộc về dài hạn cần phải nghiên cứu để thực hiện có hiệu quả. Yêu cầu xuyên suốt đó là phải đạt được mục tiêu thực hành tiết kiệm, chống lãng phí ngay cả trong trước mắt lẫn trong lâu dài ở mọi ngành, mọi cấp, mọi lĩnh vực liên quan đến quản lý, sử dụng vốn, tài sản, tiền của ngân sách nhà nước; lao động, thời gian lao động cũng như tài nguyên thiên nhiên. Tại Mục VI Phần B Chương trình hành động của Chính phủ đã xác định các công việc phải triển khai trong các lĩnh vực như sau:

Một là, trong quản lý, sử dụng ngân sách nhà nước, các công việc phải triển khai gồm:

1. Đối với các nhiệm vụ phải tập trung thực hiện ngay trong năm 2006, Chương trình đã xác định:

Bộ Tài chính có trách nhiệm:

- Thực hiện và hoàn thành việc phân bổ, giao dự toán ngân sách nhà nước năm 2006 theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước, bảo đảm khớp đúng dự toán được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao cả về tổng mức và chi tiết. Trước ngày 31 tháng 3 năm 2006 báo cáo Chính phủ để trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội kết quả phân bổ ngân sách nhà nước năm 2006, thực hiện điều chỉnh, cắt giảm dự toán chi của đơn vị đối với những khoản ngân sách chưa được phân bổ. Việc bổ sung ngân sách ngoài dự toán được giao phải thực hiện theo đúng quy định của pháp luật.

- Triển khai thực hiện chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về sử dụng biên chế và kinh phí quản lý hành chính đối với tất cả các cơ quan hành chính; thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính đối với tất cả các đơn vị sự nghiệp công lập theo đúng quy định của Chính phủ.

- Ban hành định mức, tiêu chuẩn, chế độ trang thiết bị và phương tiện làm việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị nhà nước và cán bộ, công chức, viên chức.

- Thực hiện công khai trong quản lý, sử dụng tài sản nhà nước và công khai kế hoạch mua sắm tài sản nhà nước trong cơ quan, đơn vị, tổ chức nhà nước.

- Chủ trì phối hợp với các cơ quan liên quan xây dựng Đề án cơ chế thí điểm sử dụng phương tiện đi lại đưa đón hàng ngày theo 02 phương thức: Thuê phương tiện đi lại của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ và khoán kinh phí trực tiếp cho người có tiêu chuẩn, chế độ sử dụng phương tiện đi lại để thực hiện thí điểm trong quý I năm 2006 ở một số bộ, ngành, địa phương có đủ điều kiện và có đăng ký làm thí điểm. Từ ngày 01 tháng 6 năm 2006, tạm dừng việc mua sắm mới phương tiện đi lại ở cơ quan, đơn vị, tổ chức nhà nước. Trường hợp thực sự cần thiết phải mua sắm phục vụ cho công tác quốc phòng, an ninh, đối ngoại của nhà nước, Bộ Tài chính đề xuất báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét quyết định.

Bộ Công nghiệp có trách nhiệm xây dựng trình Chính phủ phê duyệt Chương trình tiết kiệm điện để thực hiện trên phạm vi cả nước và yêu cầu thực hiện ngay trong quý II năm 2006.

Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương phải hoàn thành việc rà soát, bố trí, sắp xếp lại số phương tiện đi lại hiện có thuộc phạm vi quản lý của mình theo đúng định mức, tiêu chuẩn, chế độ quy định, thực hiện điều chuyển từ nơi thừa sang nơi thiếu; đồng thời gửi báo cáo kết quả đến Bộ Tài chính để tổng hợp chung, công việc này phải được thực hiện trong quý II năm 2006.

Ngoài ra, chương trình còn quy định từ năm 2006, khi tổ chức hội nghị, tổng kết, lễ kỷ niệm, tất cả các cơ quan, đơn vị, tổ chức có sử dụng ngân sách nhà nước phải kết hợp các nội dung này để nâng cao hiệu quả, triệt để tiết kiệm, chống lãng phí. Các cơ quan, đơn vị, tổ chức không được sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước để chi tiếp khách, quà biếu, quà tặng không đúng chế độ quy định.

2. Đối với các công việc dài hạn, Chương trình hành động của Chính phủ về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí yêu cầu các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương:

- Thực hiện nghiêm các quy định của Luật ngân sách nhà nước trong tất cả các khâu: lập, thẩm định, phê duyệt, phân bổ dự toán, quản lý, sử dụng, kiểm soát chi và quyết toán kinh phí ngân sách nhà nước. Thủ trưởng cơ quan, đơn vị, tổ chức có sử dụng ngân sách nhà nước chịu trách nhiệm giải trình việc quản lý, sử dụng ngân sách nhà nước được giao theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

- Đẩy mạnh thực hiện các cơ chế quản lý tài chính mới để thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, đặc biệt là thực hiện chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về sử dụng biên chế và kinh phí quản lý hành chính trong các cơ quan hành chính nhà nước. Đối với các đơn vị sự nghiệp công lập, phải chuyển sang thực hiện cơ chế tự chủ tài chính gắn với tự chịu trách nhiệm theo quy định của Chính phủ; đồng thời, mở rộng và đẩy mạnh thực hiện xã hội hoá đối với các lĩnh vực sự nghiệp.

 - Rà soát các nhiệm vụ khoa học và công nghệ, tập trung bố trí ngân sách nhà nước cho những nhiệm vụ khoa học và công nghệ trọng điểm cần ưu tiên đã được cấp có thẩm quyền tuyển chọn và phê duyệt (trừ những nhiệm vụ khoa học và công nghệ phải giao trực tiếp); không bố trí kinh phí cho các nhiệm vụ khoa học và công nghệ chưa đủ thủ tục. Thực hiện đình chỉ và chuyển kinh phí của các đề tài, dự án khoa học và công nghệ triển khai không đúng tiến độ, không có hiệu quả cho các đề tài, dự án khoa học và công nghệ khác có hiệu quả, cần đẩy nhanh tiến độ. Thu hồi nộp ngân sách nhà nước kinh phí sử dụng không đúng mục đích, sai chế độ quy định.

Thực hiện cơ chế đấu thầu tuyển chọn cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân thực hiện các đề tài nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ. Riêng đối với các đề tài nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ được nhà nước hỗ trợ một phần kinh phí thì thực hiện theo cơ chế khoán kinh phí đối với phần kinh phí do ngân sách nhà nước cấp.

Rà soát, bảo đảm các điều kiện để thực hiện các chương trình mục tiêu theo đúng tiến độ quy định và có hiệu quả; tổ chức lồng ghép các chương trình có cùng tính chất, thực hiện trên cùng một địa bàn; giảm chi phí quản lý chương trình, chi phí trung gian, tập trung kinh phí chương trình cho đối tượng được thụ hưởng theo quy định.

Hai là, trong quản lý đầu tư xây dựng, một lĩnh vực được xác định có nhiều bức xúc và được quan tâm của dư luận. Các văn bản quy phạm pháp luật chuyên ngành cũng như Luật thực hành tiết kiệm chống lãng phí đã có quy định các biện pháp cụ thể để thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. Trên cơ sở đó, tại Chương trình hành động của Chính phủ xác định:

1. Chống lãng phí trong đầu tư xây dựng là nội dung trọng tâm yêu cầu tất cả các cấp, các ngành phải thực hiện nghiêm túc và có hiệu quả. Các cơ quan, đơn vị quản lý, phê duyệt, triển khai dự án đầu tư phải thực hiện đúng quy trình, quy chế quản lý đầu tư hiện hành của nhà nước, thực hiện đầu tư có tập trung, không dàn trải để bảo đảm yêu cầu thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; xác định rõ trách nhiệm của mỗi cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân gây lãng phí trong tất cả các khâu của quá trình đầu tư.

Người đứng đầu cơ quan quản lý đầu tư, cơ quan phê duyệt dự án đầu tư, đơn vị thực hiện dự án đầu tư sử dụng ngân sách nhà nước phải chịu trách nhiệm trước Chính phủ, trước pháp luật về tình trạng lãng phí xảy ra đối với công trình, dự án đầu tư do mình quản lý, phê duyệt và thực hiện.  

2. Thực hiện việc rà soát lại danh mục dự án đầu tư trong kế hoạch, ra quyết định tạm đình chỉ hoặc đình chỉ dự án đầu tư không nằm trong quy hoạch, kế hoạch được cấp có thẩm quyền phê duyệt, chưa xác định rõ hoặc không có hiệu quả đầu tư, chưa cân đối đủ nguồn vốn, không đảm bảo các tiêu chuẩn kỹ thuật và các quy định của Quy chế quản lý đầu tư xây dựng.

3. Năm 2006, tập trung thực hiện các nhiệm vụ sau:

- Phân bổ kế hoạch vốn đầu tư năm 2006 bảo đảm tập trung, tránh dàn trải và đúng thời gian quy định của pháp luật. Bố trí vốn đầu tư năm 2006 của các địa phương phải bảo đảm nguyên tắc thứ tự ưu tiên như sau:

(1) Thanh toán trả nợ khối lượng dự án của các năm trước và các dự án đã hoàn thành quyết toán vốn đầu tư, trả nợ vốn tín dụng ưu đãi, thu hồi những khoản đã ứng thực hiện những năm trước, bảo đảm đến hết năm 2006 xử lý dứt điểm nợ đối với dự án đầu tư theo đúng Nghị quyết số 36/2004/QH11 ngày 3 tháng 12 năm 2004 của Quốc hội về công tác đầu tư xây dựng cơ bản có sử dụng vốn nhà nước.

(2) Bố trí vốn đối ứng cho các dự án ODA, các dự án cấp bách phòng, chống thiên tai, dịch bệnh phát sinh bất thường.

(3) Bố trí vốn cho các dự án đầu tư chuyển tiếp theo đúng tiến độ được cấp có thẩm quyền phê duyệt.

(4) Bố trí vốn cho các dự án khởi công mới khi có đủ điều kiện thủ tục đầu tư. Nghiêm cấm chuyển nguồn vốn đầu tư của dự án sử dụng vốn vay thành vốn ngân sách nhà nước cấp.

- Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện rà soát, tổ chức, sắp xếp lại các Ban quản lý dự án đầu tư theo hướng tinh giản, gọn nhẹ, đủ năng lực chuyên môn;  tách bạch các đơn vị tư vấn đầu tư và xây dựng với chủ đầu tư, chủ dự án để ngăn chặn các hiện tượng tiêu cực, gây lãng phí trong quá trình đầu tư xây dựng.

Trước 31 tháng 3 năm 2006, Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư tổng hợp các trường hợp phân bổ kế hoạch vốn đầu tư không đúng quy định; đồng thời, hai Bộ thống nhất đề xuất báo cáo Thủ tướng Chính phủ để có biện pháp xử lý.

- Bộ Xây dựng có trách nhiệm:

(1) Đẩy mạnh thực hiện Chỉ thị số 21/2005/CT-TTg ngày 15 tháng 6 năm 2005 của Thủ tướng Chính phủ về việc triển khai thực hiện Nghị quyết của Quốc hội về công tác đầu tư xây dựng cơ bản sử dụng vốn nhà nước và chống lãng phí, thất thoát trong đầu tư xây dựng;

(2) Trong quý II năm 2006, Bộ Xây dựng trình Chính phủ ban hành quy định tách các đơn vị tư vấn đầu tư và xây dựng để chuyển sang hoạt động độc lập.

(3) Trình Thủ tướng Chính phủ ban hành quy định về tổ chức lễ động thổ, lễ khởi công, lễ khánh thành công trình của địa phương, bảo đảm nguyên tắc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí để thực hiện từ ngày 01 tháng 6 năm 2006;

(4) Khẩn trương rà soát, sửa đổi, bổ sung quy chuẩn, tiêu chuẩn, định mức kinh tế - kỹ thuật trong xây dựng; rà soát điều kiện năng lực của các chủ thể tham gia xây dựng và nâng cao hiệu quả hoạt động của mạng lưới kiểm định chất lượng xây dựng trên phạm vi toàn quốc, bảo đảm thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong đầu tư xây dựng.

Ba là, trong quản lý, sử dụng đất đai, trụ sở làm việc, nhà công vụ, Chương trình hành động của Chính phủ quy định:

1. Các cơ quan, đơn vị, tổ chức phải quản lý, sử dụng đúng mục đích, có hiệu quả và bảo đảm thực hành tiết kiệm đối với đất đai, trụ sở làm việc, nhà công vụ được giao. Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong phạm vi quản lý của mình thực hiện việc kiểm tra, rà soát diện tích đất đai, trụ sở làm việc, nhà công vụ đang quản lý để bổ trí sử dụng hợp lý, đúng chế độ, tiêu chuẩn quy định để bảo đảm thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. Không cấp thêm đất, không bố trí xây dựng trụ sở làm việc khi chưa hoàn thành việc sắp xếp sử dụng theo đúng tiêu chuẩn, diện tích đã có. Trong năm 2007, Bộ Tài chính trình Thủ tướng Chính phủ ban hành quy chế  quản lý nhà công vụ để áp dụng thống nhất trong cả nước.

2. Các cơ quan, đơn vị, tổ chức nhà nước phải thực hiện rà soát diện tích sử dụng đất được nhà nước giao không thu tiền sử dụng đất để xác định giá trị quyền sử dụng đất tính vào giá trị tài sản của đơn vị. Thủ trưởng cơ quan, đơn vị, tổ chức có trách nhiệm bảo toàn quỹ đất được giao, bảo đảm sử dụng đất đúng mục đích và chịu trách nhiệm về việc quản lý, sử dụng theo quy định của pháp luật.

Đối với đất giao Tổng công ty, công ty nhà nước sử dụng, trong quý IV năm 2006, giao Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành trình Chính phủ quy định về việc xác định giá trị quyền sử dụng đất để tính vào giá trị tài sản của Tổng công ty, công ty nhà nước và thực hiện việc quản lý đất theo chế độ quản lý tài sản nhà nước trong quý IV năm 2006.

3. Thực hiện bố trí sắp xếp lại nhà đất thuộc sở hữu Nhà nước trên phạm vi toàn quốc trong năm 2006 theo nguyên tắc: thu hồi diện tích trụ sở làm việc sử dụng không đúng mục đích được giao để thực hiện điều chuyển từ nơi thừa sang nơi thiếu. Đồng thời giao Bộ Tài chính chủ trì phối hợp với các cơ quan liên quan trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định về việc xử lý, bố trí, sắp xếp lại nhà đất thuộc sở hữu nhà nước, yêu cầu thực hiện ngay trong quý I năm 2006.

Bốn là, trong quản lý, khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên, để đảm bảo thực hành tiết kiệm, chống lãng phí theo đúng các quy định của Luật, Chương trình hành động của Chính phủ yêu cầu các Bộ, ngành được giao quản lý các lĩnh vực liên quan đến tài nguyên thiên nhiên có trách nhiệm soát xét lại quy hoạch, kế hoạch quản lý, khai thác, sử dụng từng loại tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là các tài nguyên: đất, nước, rừng, khoáng sản để thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; rà soát, ban hành các quy chế, quy định về tái tạo, bảo vệ phát triển các nguồn tài nguyên thiên nhiên.

Đồng thời giao Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì phối hợp với các cơ quan liên quan, trong năm 2006 trình Thủ tướng Chính phủ Đề án về chính sách khuyến khích các tổ chức, cá nhân thực hiện tái chế, tái sử dụng tài nguyên và các nguồn năng lượng có thể tái tạo được để thực hành tiết kiệm, bảo vệ môi trường sinh thái.

Năm là, trong đào tạo, quản lý, sử dụng lao động và thời gian lao động trong khu vực nhà nước, Chương trình hành động của Chính phủ về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí giao trách nhiệm cụ thể như sau:

1. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Nội vụ có trách nhiệm soát xét lại các quy định về đào tạo, quản lý, sử dụng lao động, thời gian lao động trong khu vực nhà nước để sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện; không để xảy ra tình trạng mất cân đối giữa đào tạo với sử dụng; tuyển dụng không phù hợp với nhu cầu sử dụng; sử dụng cán bộ, công chức, viên chức không đúng với chuyên môn, ngành nghề được đào tạo, không phát huy hết năng lực, sở trường; lãng phí thời gian, nguồn lực lao động.

2. Bộ Nội vụ quy định, hướng dẫn các cơ quan, đơn vị, tổ chức nhà nước xây dựng cơ cấu ngạch công chức, viên chức hợp lý để sử dụng có hiệu quả đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức hiện có; thực hiện tinh giản biên chế đối với các cán bộ, công chức, viên chức không đủ năng lực, không đáp ứng được yêu cầu chuyên môn và vi phạm kỷ luật lao động.

3. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội xây dựng chương trình đào tạo, sử dụng đội ngũ công nhân có trình độ tay nghề cao, nâng cao chất lượng lao động để áp ứng yêu cầu của thị trường lao động trong nước và ngoài nước.

4. Năm 2006, các cơ quan, đơn vị, tổ chức nhà nước phải tăng cường việc giám sát thực hiện các quy chế, nội quy về kỷ luật lao động, đặc biệt là các quy định về sử dụng thời gian lao động.

5. Bộ Nội vụ phối hợp với Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam phát động phong trào “Tám giờ làm việc có chất lượng, hiệu quả” trong cán bộ, công chức, viên chức; xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm kỷ luật giờ giấc làm việc.

Sáu là, trong quản lý, sử dụng vốn và tài sản tại công ty nhà nước, Chương trình hành động của Chính phủ chỉ rõ:

1. Các Tổng công ty, công ty nhà nước căn cứ Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và các quy định của Nhà nước xây dựng, ban hành các cơ chế, quy chế, các định mức, tiêu chuẩn, chế độ để quản lý, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực được Nhà nước giao; Thực hiện kiểm toán bắt buộc và công khai tài chính; phát hiện kịp thời, xử lý theo đúng quy định của pháp luật đối với các hành vi gây lãng phí vốn, tài sản, lao động, tài nguyên thiên nhiên.

2. Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, theo chức năng, nhiệm vụ được giao phải tăng cường giám sát đối với Tổng công ty, công ty nhà nước trong việc quản lý, sử dụng các nguồn lực được Nhà nước giao; giám sát việc thực hiện trách nhiệm của đại diện Chủ sở hữu tại Tổng công ty, công ty nhà nước trong việc quyết định đầu tư, bảo lãnh vay, phê duyệt chủ trương mua, bán, vay, cho vay, thuê và cho thuê theo thẩm quyền đã được quy định tại Nghị định số 132/2005/NĐ-CP về thực hiện các quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu nhà nước đối với công ty nhà nước; giám sát việc ký kết và thực hiện các hợp đồng kinh tế ký kết trong đầu tư xây dựng, sản xuất - kinh doanh và về chi phí quản lý doanh nghiệp của công ty nhà nước.

Bảy là, đối với sản xuất và tiêu dùng của nhân dân, Chương trình hành động của Chính phủ xác định phải đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến sâu rộng trong các tầng lớp nhân dân, cán bộ, công chức, viên chức về ý thức thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong sản xuất và tiêu dùng, dành nguồn lực đầu tư vào sản xuất, kinh doanh. Khuyến khích nhân dân tích cực tham gia các cuộc vận động mua công trái xây dựng tổ quốc, trái phiếu xây dựng các công trình hạ tầng kinh tế - xã hội; các phong trào đền ơn đáp nghĩa. Đồng thời, phải triển khai cuộc vận động thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong các đoàn thể, tổ chức quần chúng; các thôn, xóm, ấp, bản, làng, cụm dân cư; tập trung vào việc xây dựng nếp sống mới, xoá bỏ các hủ tục lạc hậu, gây lãng phí. Phê phán các biểu hiện xa hoa lãng phí trong xã hội; đưa kết quả thực hành tiết kiệm chống lãng phí thành nội dung xem xét đánh giá cán bộ, công chức, viên chức và thành viên của mỗi tổ chức. Trong năm 2006, Bộ Văn hoá - Thông tin có trách nhiệm hướng dẫn việc triển khai quy chế thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội theo quy định tại Quyết định số 308/2005/QĐ-TTg ngày 25 tháng 11 năm 2005 của Thủ tướng Chính phủ; hướng dẫn các cơ quan thông tin đại chúng biểu dương kịp thời các gương tốt và tạo dư luận xã hội, lên án, phê phán các hành vi vi phạm quy chế của Nhà nước về việc cưới, việc tang và lễ hội.

Để việc tổ chức thực hiện chương trình đạt kết quả tốt, tạo chuyển biến tích cực trong thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong năm 2006 và các năm tiếp sau, Chương trình hành động của Chính phủ giao cho các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương căn cứ Chương trình hành động của Chính phủ xây dựng Chương trình hành động cụ thể của mình. Trong chương trình hành động của mỗi cấp, mỗi ngành, bên cạnh việc triển khai thực hiện tốt Chương trình hành động của Chính phủ, cần xác định một số nhiệm vụ cụ thể thuộc phạm vi, lĩnh vực quản lý, quy định cụ thể thời hạn thực hiện và hoàn thành; phân công người chịu trách nhiệm từng khâu công việc để tập trung chỉ đạo quyết liệt, tạo chuyển biến ngay trong năm 2006.

Chương trình hành động của Chính phủ cũng xác định việc báo cáo kết quả thực hiện hàng quý về Bộ Tài chính để tổng hợp trình Thủ tướng Chính phủ làm cơ sở thông báo công khai và hàng năm trước ngày 15 tháng 9 các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương gửi báo cáo về Bộ Tài chính để tổng hợp, trình Chính phủ báo cáo Quốc hội tại kỳ họp cuối năm theo quy định của Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí.

 

 

 

Phần thứ hai

 

TƯ LIỆU THAM KHẢO

 

 

BÁC HỒ NÓI VỀ THỰC HÀNH TIẾT KIỆM,

 

CHỐNG LÃNG PHÍ

 

 

Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí là vấn đề luôn được Chủ tịch Hồ Chí Minh quan tâm và đã trở thành một nội dung trong hệ thống tư tưởng của Người. Trong suốt cuộc đời cách mạng, Người không chỉ là một tấm gương ngời sáng, một mẫu mực về “cần, kiệm, liêm, chính” mà còn để lại cho chúng ta những lời dạy vô giá về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong các tác phẩm, các bài viết, bài nói chuyện của Người.

 

            Ngày nay trong công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, tiết kiệm, chống lãng phí luôn là chủ trương lớn của Đảng và trở thành “quốc sách” đã được luật hoá nên việc học tập và làm theo những lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh là hết sức cần thiết và có ý nghĩa quan trọng. Dưới đây chúng tôi xin trích dẫn một số lời dạy của Bác Hồ về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí:

            - “...chúng ta còn phải cần kiệm bỏ hết mọi xa xỉ để lấy tiền cống hiến cho quỹ kháng chiến.

            Nhiều sức, giàu của, mới có thể kháng chiến lâu dài...”

(Toàn dân kháng chiến, Hồ Chí Minh tuyển tập,

NXB Chính trị quốc gia năm 2002, Tập 2, tr.31)

            - “Việc gì cũng phải từ việc dễ đến việc khó, từ việc gấp đến việc hoãn, từ việc ít tốn tiền đến việc tốn nhiều tiền. Nói tóm lại: kế hoạch phải thiết thực, phải làm được. Chớ làm kế hoạch đẹp mặt, to tát, kể hàng triệu nhưng không thực hiện được.”

(Thanh Hoá kiểu mẫu, Hồ Chí Minh tuyển tập,

NXB Chính trị quốc gia năm 2002, Tập 2, tr.107)

            - “Lúc này đang kháng chiến, cái gì cũng hiếm. Kháng chiến thắng lợi rồi, thì phải kiến thiết. Lúc kháng chiến cũng như khi kiến quốc, dân ta cần phải tiết kiệm, những cái gì không cần thiết làm thì phải bớt đi, bỏ đi, mới có thể tự cấp, tự túc.”

(Đời sống mới, Hồ Chí Minh toàn tập,

NXB Chính trị quốc gia năm 1995, Tập 5, tr.97)

- “...Cần, Kiệm, Liêm, Chính là nền tảng của Đời sống mới, nền tảng của Thi đua ái quốc.  

 
            Trời có bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông.
            Đất có bốn phương: Đông, Tây, Nam, Bắc
            Người có bốn đức: Cần, Kiệm, Liêm, Chính.
            Thiếu một mùa, thì không thành trời.
            Thiếu một phương, thì không thành đất.
            Thiếu một đức, thì không thành người.

...

CẦN với KIỆM, phải đi đôi với nhau, như hai chân của con người.

CẦN mà không KIỆM, "thì làm chừng nào xào chừng ấy". Cũng như một cái thùng không có đáy; nước đổ vào chừng nào, chảy ra hết chừng ấy, không lại hoàn không.

KIỆM mà không CẦN, thì không tǎng thêm, không phát triển được. Mà vật gì đã không tiến tức phải thoái. Cũng như cái thùng chỉ đựng một ít nước, không tiếp tục đổ thêm vào, lâu ngày chắc nước đó sẽ hao bớt dần, cho đến khi khô kiệt.

...

Thời giờ cũng cần phải tiết kiệm như của cải.

Tiết kiệm thời giờ của mình, lại phải tiết kiệm thời giờ của người. Không nên ngồi lê, nói chuyện phiếm, làm mất thời giờ của người khác.

Tiết kiệm không phải là bủn xỉn.

Khi không nên tiêu xài thì một đồng xu cũng không nên tiêu. Khi có việc đáng làm, việc ích lợi cho đồng bào, cho Tổ quốc, thì dù bao nhiêu công, tốn bao nhiêu của, cũng vui lòng. Như thế mới đúng là kiệm.

Tiết kiệm nghĩa là:

1 giờ làm việc xong công việc của 2, 3 giờ.

1 người làm bằng 2, 3 người.

1 đồng dùng bằng giá trị 2, 3 đồng.

Cho nên, muốn tiết kiệm có kết quả tốt, thì phải khéo tổ chức.

Vì vậy, góp sức làm việc (lao động tập đoàn), và hợp tác xã, là một cách tiết kiệm tốt nhất.

Các cơ quan tiết kiệm tiền công và của công, để đỡ tốn ngân quỹ;

Chiến sĩ thi đua tiết kiệm thuốc đạn, bằng cách bắn phát nào trúng phát ấy;

Công nhân thi đua tiết kiệm nguyên liệu;

Học sinh thi đua tiết kiệm giấy bút;

Đồng bào hậu phương thi đua tiết kiệm tiền bạc và lương thực, để giúp đỡ bộ đội;

Mỗi người, thi đua tiết kiệm thời giờ;

Thì kết quả thi đua tiết kiệm cũng bằng kết quả thi đua tăng gia sản xuất.

Một mặt, chúng ta thi đua KIỆM.

Một mặt, chúng ta thi đua CẦN.

Kết quả CẦN cộng với kết quả KIỆM là: bộ đội sẽ đầy đủ, nhân dân sẽ ấm no, kháng chiến sẽ mau thắng lợi, kiến quốc sẽ mau thành công, nước ta sẽ mau giàu mạnh ngang hàng với các nước tiền tiến trên thế giới.

Kết quả chữ CẦN chữ KIỆM to lớn như vậy đó.

Cho nên người yêu nước thì phải thi đua thực hành tiết kiệm.

...

CẦN, KIỆM, LIÊM, là gốc rễ của CHÍNH. Nhưng một cây cần có gốc rễ, lại cần có ngành, lá, hoa, quả mới là hoàn toàn. Một người phải Cần, Kiệm, Liêm, nhưng còn phải CHÍNH mới là người hoàn toàn..."

(CẦN KIỆM LIÊM CHÍNH, Hồ Chí Minh toàn tập,

NXB Chính trị quốc gia năm 1995, Tập 5, tr.631)

            - “Không tiêu hoang phí tiền riêng của các chú cũng chưa phải là Kiệm. Các chú còn phải biết tiết kiệm của công, dạy cho bộ đội biết tiết kiệm của công, thì mới thật là Kiệm.”

(Bài nói chuyện tại Trường Chính trị trung cấp quân đội,

Hồ Chí Minh tuyển tập, NXB Chính trị quốc gia năm 2002, Tập 2, tr.480)

- “Tăng gia sản xuất phải đi đôi với tiết kiệm. Phải tiết kiệm sức lao động, phải tiết kiệm thì giờ, phải tiết kiệm tiền của, để tăng gia. Tiết kiệm giúp cho  tăng gia và tăng gia giúp cho tiết kiệm, để đi đến kết quả tốt.

Tuy không trộm cắp của công như tham ô, nhưng lãng phí cũng làm cho nhân dân và Chính phủ thiệt thòi, hao tổn, kết quả thì lãng phí cũng có tội như tham ô.”

(Bài nói chuyện nhân dịp tết năm Nhâm Thìn (1952), Hồ Chí Minh

tuyển tập, NXB Chính trị quốc gia năm 2002, Tập 2, tr.488-489)

- “Tiết kiệm không phải là bủn xỉn, không phải là “xem đồng tiền to bằng cái nống[1]”, gặp việc đáng làm cũng không làm, đáng tiêu cũng không tiêu. Tiết kiệm không phải là ép bộ đội, cán bộ và nhân dân nhịn ăn, nhịn mặc. Trái lại, tiết kiệm cốt để giúp vào tăng gia sản xuất, mà tăng gia sản xuất là để dần dần nâng cao mức sống của bộ đội, cán bộ và nhân dân. Nói theo lối khoa học, thì tiết kiệm là tích cực, chứ không phải là tiêu cực.

Tất cả mọi người đều phải tiết kiệm. Trước nhất là các cơ quan, các bộ đội, các xí nghiệp.

...

Trong quân đội có quân nhu, quân giới, vận tải,v.v. là những cơ quan cần phải tiết kiệm đã đành. Các chiến sỹ cũng cần tiết kiệm và cũng có thể tiết kiệm.

...

Nếu cán bộ tư pháp nâng cao năng suất, làm việc mau chóng, thì sẽ giúp cho những đồng bào có việc đến tư pháp tiết kiệm được ngày giờ, để tăng gia sản xuất.

Nói tóm lại: Ai cũng có thể và cũng nên tiết kiệm.

            Muốn thành công trong việc tăng gia sản xuất và tiết kiệm cũng phải nhổ cỏ cho sạch, nghĩa là phải tẩy sạch nạn tham ô, lãng phí và bệnh quan liêu. Nếu không, thì nó sẽ làm hại đến công việc của ta.

            ...

            Tham ô, lãng phí và bệnh quan liêu, dù cố ý hay không, cũng là bạn đồng minh của thực dân và phong kiến. Vì nó làm chậm trễ công cuộc kháng chiến và kiến quốc của ta. Nó làm hỏng tinh thần trong sạch và ý chí khắc khổ của cán bộ ta. Nó phá hoại đạo đức cách mạng của ta là cần, kiệm, liêm, chính.

            …chống tham ô, lãng phí và bệnh quan liêu cũng quan trọng và cần kíp như việc đánh giặc trên mặt trận. Đây là mặt trận tư tưởng và chính trị.

...

Cách mạng là tiêu diệt những cái gì xấu, xây dựng những cái gì tốt. Chúng ta làm cách mạng để tiêu diệt chế độ thực dân, phong kiến, để xây dựng dân chủ mới.

Chúng ta muốn xây dựng một xã hội mới, một xã hội tự do bình đẳng, một xã hội cần, kiệm, liêm, chính – cho nên chúng ta phải tẩy cho sạch hết những thói xấu của xã hội cũ.”

             (Thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí, chống bệnh quan liêu,

Hồ Chí Minh toàn tập, NXB Chính trị quốc gia năm 1995, Tập 6, tr.484)

            - “Để cho dân hăng hái và có sẵn mà đóng góp cho kháng chiến, thì phải bồi dưỡng lực lượng của dân. Muốn bồi dưỡng lực lượng của dân, thì phải động viên, tổ chức, giúp đỡ, hướng dẫn dân tăng gia sản xuất và tiết kiệm. Phải dùng lực lượng của dân bồi dưỡng lực lượng cho dân. Phải dùng lực lượng của dân nhiều hơn yêu cầu đóng góp.”

(Báo cáo tại Hội nghị lần thứ ba của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, khoá II, Hồ Chí Minh tuyển tập, NXB Chính trị quốc gia năm 2002, Tập 2, tr.524)

            - “Nói chung tiết kiệm là cái gì? Tiết kiệm sức người như dân công, tiết kiệm tiền, tiết kiệm của. Mọi thứ đều phải tiết kiệm, tăng gia mà không tiết kiệm thì vô ích. Tiết kiệm mà không tăng gia thì lấy gì mà tiết kiệm? Mục đích tiết kiệm không phải là bớt ăn, mà là thêm ăn, làm cho bộ đội no. Nói chung, các cơ quan đều phải tiết kiệm. Riêng cơ quan cung cấp tổ chức còn kềnh càng, thừa người, phải sắp xếp cho gọn gàng, hợp lý, mọi người đều có công việc thiết thực, những người thừa phải đưa đi chỗ thiếu, những người ở lại phải thi đua nâng cao năng suất của mình. Thế là tinh giản, tinh là năng suất lên cao, làm cho mau cho tốt, giản là vừa phải, không kềnh càng, tránh hình thức.”

(Bài nói tại Hội nghị cung cấp toàn quân lần thứ nhất,

Hồ Chí Minh tuyển tập, NXB Chính trị quốc gia năm 2002, Tập 2, tr.557)

            - “Quan liêu, tham ô, lãng phí là tội ác. Phải tẩy sạch nó để thực hiện cần kiệm liêm chính, để đẩy mạnh thi đua sản xuất và tiết kiệm, để đưa kháng chiến đến thắng lợi, kiến quốc đến thành công, để xây dựng thuần phong mỹ tục trong toàn dân, toàn quốc. Đó là một nhiệm vụ quan trọng của mỗi người chúng ta.”

(Chống quan liêu, tham ô, lãng phí, Hồ Chí Minh tuyển tập,

NXB Chính trị quốc gia năm 2002, Tập 2, tr.567-568)

            - “Phải biết giáo dục, lãnh đạo, giúp đỡ nhân dân tăng gia sản xuất và tiết kiệm. Phải tiết kiệm là vì nếu được bữa nào xào bữa ấy, thì sẽ thiếu thốn. Nếu cán bộ khéo lãnh đạo và thiết thực giúp đỡ đồng bào và đồng bào cố gắng tăng gia sản xuất và tiết kiệm thì dân sẽ no ấm, mọi việc trôi chảy, thuế khoá dễ thu, tài chính dồi dào, dân no thì nước giàu, vì nước ta là nước nông nghiệp, mọi việc đều dựa vào nông nghiệp. Nếu cán bộ không biết lãnh đạo và thiết thực giúp đỡ dân tăng gia sản xuất và tiết kiệm, nếu đảng viên không xung phong gương mẫu, thì việc gì cũng sẽ khó làm. Cho nên chính sách tăng gia sản xuất và tiết kiệm là một chính sách căn bản của chúng ta. Tăng gia sản xuất và tiết kiệm để nâng cao đời sống của nhân dân, khôi phục kinh tế, mở mang văn hoá và đề phòng đói, chống đói. Trách nhiệm của các cấp uỷ và cán bộ là phải hết sức chú ý đến sản xuất và tiết kiệm. Các đảng viên phải gương mẫu trong việc đó.”

(Bài nói chuyện tại Hội nghị sản xuất cứu đói, Hồ Chí Minh tuyển tập, NXB Chính trị quốc gia năm 2002, Tập 3, tr.55)

            - “...nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân ta là ra sức tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm để xây dựng miền Bắc tiến dần lên chủ nghĩa xã hội, làm cơ sở vững mạnh cho công cuộc thống nhất nước nhà. Đó là một nhiệm vụ cực kỳ vẻ vang. Chúng ta, tất cả đảng viên, đoàn viên, tất cả cán bộ trong Đảng và ngoài Đảng cần phải quyết tâm suốt đời phục vụ Đảng, phục vụ nhân dân. Đó là phẩm chất cao quý của người cách mạng, đó là đạo đức cách mạng, đó là tính đảng, tính giai cấp, nó bảo đảm cho sự thắng lợi của Đảng, của giai cấp, của nhân dân.”

(Đạo đức cách mạng, Hồ Chí Minh tuyển tập,

NXB Chính trị quốc gia năm 2002, Tập 3, tr.218)

            - “Nhiệm vụ hiện nay của Đảng ta là lãnh đạo nhân dân đẩy mạnh thi đua tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm để xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, làm cơ sở vững chắc cho cuộc đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà.”

(Bài nói tại Lễ kỷ niệm 30 năm thành lập Đảng,

Hồ Chí Minh tuyển tập, NXB Chính trị quốc gia năm 2002, Tập 3, tr.287)

            - “Hiện nay ta đang tiến lên chủ nghĩa xã hội. Muốn tiến lên chủ nghĩa xã hội, trước hết phải thi đua tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm. Nếu không kiên quyết chống bệnh quan liêu, mệnh lệnh, lãng phí, tham ô, thì nó sẽ cản trở, phá hoại ta tiến lên chủ nghĩa xã hội.

            Vì vậy các cơ quan thanh tra nhà nước chẳng những kiểm tra chống lãng phí, tham ô mà còn phải chống bệnh quan liêu, mệnh lệnh để giúp các cơ quan nhà nước cải tiến công tác, giữ gìn kỷ luật, thực hành dân chủ, góp phần củng cố bộ máy nhà nước.”

(Nói chuyện tại Hội nghị cán bộ thanh tra, Hồ Chí Minh tuyển tập,

NXB Chính trị quốc gia năm 2002, Tập 3, tr.310)

            - “Trong hoàn cảnh miền Bắc ta, để đạt mục đích đó, chúng ta cần phải chịu khó, chịu khổ, ra sức phấn đấu, thực hiện khẩu hiệu cần kiệm xây dựng nước nhà, xây dựng chủ nghĩa xã hội. Rồi chúng ta sẽ sung sướng.”

(Bài nói chuyện tại Đại hội Đảng Bộ Hà Nội, Hồ Chí Minh tuyển tập,

NXB Chính trị quốc gia năm 2002, Tập 3, tr.339)

            - “Đã có quyền hạn làm chủ, thì phải làm trọn nghĩa vụ của người chủ. Nghĩa vụ đó là: cần kiệm xây dựng nước nhà, xây dựng chủ nghĩa xã hội, nhằm mục đích không ngừng nâng cao đời sống vật chất và văn hoá của nhân dân, trước hết là nhân dân lao động.

            Muốn đạt mục đích ấy, thì phải thi đua sản xuất nhiều, nhanh, tốt, rẻ và thực hành tiết kiệm.”

(Bài nói chuyện tại Đại hội Công đoàn toàn quốc lần thứ II,

Hồ Chí Minh tuyển tập, NXB Chính trị quốc gia năm 2002, Tập 3, tr.343)

            - “Chúng ta chỉ có thể xây dựng chủ nghĩa xã hội bằng cách tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm. Sản xuất mà không tiết kiệm thì khác nào gió vào nhà trống. Cho nên phải biết giữ gìn của công. Tham ô, lãng phí tài sản của Nhà nước, của tập thể, của nhân dân là hành động trộm cắp, mà ai cũng phải thù ghét, phải trừ bỏ. Phải biết quý trọng sức người là vốn quý nhất của ta. Chúng ta cần hết lòng chăm sóc sức khoẻ và sử dụng thật hợp lý sức lao động của nhân dân ta.”

(Xây dựng những con người của chủ nghĩa xã hội, Hồ Chí Minh tuyển tập, NXB Chính trị quốc gia năm 2002, Tập 3, tr.364)

            - “Trong phong trào thi đua, chúng ta cần phải làm đúng khẩu hiệu nhiều, nhanh, tốt, rẻ. Nâng cao không ngừng năng suất lao động, kết quả sẽ nhiều và nhanh. Nhưng nếu sản xuất ra nhiều mà phẩm chất kém, thì sẽ gây nhiều lãng phí cho Nhà nước, cho nhân dân. Vì vậy, khi sản xuất phải bảo đảm chất lượng cho tốt.

            Nếu sản xuất ra nhiều và tốt, nhưng giá đắt quá, ít người mua được, thì hàng hoá sẽ ứ đọng, sản xuất sẽ bế tắc và không nâng cao được đời sống của nhân dân. Vì vậy, sản xuất đã phải tốt lại phải rẻ. Muốn đạt mục đích đó thì phải ra sức tiết kiệm. Tiết kiệm tiền vốn, tiết kiệm sức người, tiết kiệm thời gian, tiết kiệm lương thực, tiết kiệm nguyên liệu, vật liệu. Nếu mỗi năm chúng ta tiết kiệm được từ 5 đến 10%, thì chúng ta sẽ có thêm khoảng 100 triệu đồng để xây dựng thêm nhà máy, để sản xuất thêm, để nâng cao thêm đời sống của nhân dân.”

(Lời khai mạc Đại hội liên hoan anh hùng, chiến sỹ thi đua toàn quốc lần thứ III, Hồ Chí Minh tuyển tập, NXB Chính trị quốc gia năm 2002, Tập 3, tr.415)

            - “Chống lãng phí – Lãng phí và tham ô tuy khác nhau ở chỗ lãng phí thì không trực tiếp ăn cắp, ăn trộm của công, nhưng kết quả tai hại đến tài sản của Nhà nước, của tập thể thì lãng phí cũng có tội.

            …

            Nói tóm lại, lãng phí là vì thiếu tinh thần trách nhiệm, không có ý thức quý trọng sức của, sức người của Nhà nước, của nhân dân.”

(Bài nói chuyện tại Hội nghị cán bộ cao cấp của Đảng và Nhà nước,

Hồ Chí Minh tuyển tập, NXB Chính trị quốc gia năm 2002, Tập 3, tr.419)

            - “Tham ô, lãng phí: Vì thiếu đạo đức cách mạng, thiếu tinh thần trách nhiệm mà đâm ra hư hỏng như ăn cắp của công, vung phí tiền bạc và vật liệu của Nhà nước và của tập thể, làm hại đến việc phát triển kinh tế và văn hoá để nâng cao đời sống của nhân dân.

            …

            Năm nay, toàn Đảng ta cần ra sức làm tốt hai cuộc vận động lớn:

            1. Cuộc vận động “nâng cao tinh thần trách nhiệm, tăng cường quản lý kinh tế tài chính, cải tiến kỹ thuật, chống tham ô, lãng phí, quan liêu.”...

(Đoàn kết tiến lên giành thắng lợi mới, Hồ Chí Minh tuyển tập,

NXB Chính trị quốc gia năm 2002, Tập 3, tr.447)

            - “Trong cuộc vận động này điểm 1 là: nâng cao tinh thần trách nhiệm là làm cho mọi người hiểu rõ mình có trách nhiệm cần kiệm xây dựng nước nhà. Mọi người có trách nhiệm tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm, để Nhà nước có thể vừa tích luỹ thêm tiền vốn xây dựng, vừa cải thiện dần đời sống của nhân dân. Mọi người còn có trách nhiệm lao động sản xuất sao cho xứng đáng với đồng bào miền Nam đang hy sinh xương máu, anh dũng chiến đấu chống chế độ phát xít Mỹ - Diệm.

            Trong công cuộc xây dựng nước nhà, việc quản lý kinh tế tài chính là cực kỳ quan trọng. Nếu quản lý không chặt chẽ, thì cái gì thiếu không biết, cái gì thừa không hay, công việc sẽ bị bế tắc.

            Cho nên điểm 2 của cuộc vận động là: tăng cường và củng cố các việc quản lý: quản lý sản xuất, quản lý vật tư, quản lý lao động, quản lý kỹ thuật, quản lý tiền bạc,v.v.. Phải tăng cường việc quản lý từ trung ương đến địa phương. Các xí nghiệp, công trường, nông trường… đều phải thực hiện việc quản lý một cách nghiêm chỉnh.”

(Bài nói tại Hội nghị phổ biến Nghị quyết của Bộ Chính trị về cuộc

vận động: “Nâng cao tinh thần trách nhiệm, tăng cường quản lý

 kinh tế tài chính, cải tiến kỹ thuật, chống tham ô, lãng phí, quan liêu”,

Hồ Chí Minh tuyển tập, NXB Chính trị quốc gia năm 2002, Tập 3, tr.465)

            - “Phải động viên công nhân, nông dân và các tầng lớp nhân dân khác tích cực tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm. Không những chúng ta phải có chính sách tiết kiệm tiêu dùng, mà cần phải hết sức chú trọng tiết kiệm trong việc dùng vật tư của Nhà nước, tiết kiệm sức người, sức của của nhân dân. Hiện nay việc sử dụng sức người, sức của còn lãng phí nhiều, nghe thấy rất đau xót. Làm lãng phí sức người sức của như vậy là có tội với đồng bào. Các cấp, các ngành và mỗi cán bộ, đảng viên cần phải nâng cao hơn nữa tinh thần trách nhiệm trong việc sử dụng sức người, sức của của nhân dân.”

(Lời phát biểu trong Phiên họp bế mạc Hội nghị lần thứ 12

của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Hồ Chí Minh tuyển tập,

NXB Chính trị quốc gia năm 2002, Tập 3, tr.589)

            Những lời dạy kể trên của Bác đã chỉ ra vai trò, ý nghĩa, nội dung và biện pháp thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. Những lời dạy đó còn cho thấy những phẩm chất đạo đức mà chúng ta cần phải trau dồi để thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trở thành ý thức tự giác của mỗi người, tiết kiệm thực sự trở thành “quốc sách” trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước./.

(Sưu tầm, biên tập)

 

NGHỊ QUYẾT CỦA ĐẢNG TA TỪ NĂM 1986 ĐẾN NAY

 

VỀ CÔNG TÁC TIẾT KIỆM, CHỐNG LÃNG PHÍ

 

 

            “Tập trung sức thực hiện ba chương trình kinh tế lớn: sản xuất lương thực-thực phẩm, sản xuất hàng tiêu dùng và sản xuất hàng xuất khẩu, cố gắng cân đối đủ nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu, chủ yếu cho ba chương trình kinh tế, tiếp tục kiềm chế và khắc phục các yếu tố phát sinh lạm phát cao, hạn chế bội chi ngân sách, không để tăng giá đột biến; thực hành triệt để tiết kiệm, giải quyết có trọng điểm các vấn đề xã hội, trước hết đẩy mạnh sản xuất phát triển, thu hút thêm lao động, giảm bớt khó khăn về đời sống, nhất là đời sống những người hưởng lương trong khu vực hành chính, sự nghiệp, các lực lượng vũ trang, người về hưu, các đối tượng thuộc diện chính sách xã hội, nâng cao chất lượng các hoạt động giáo dục, văn hóa, y tế, chú trọng các vùng dân tộc, miền núi, biên giới; bảo đảm quốc phòng, an ninh, giữ gìn trật tự và an toàn xã hội.”

 

(Hội nghị Ban Chấp hànhTrung ương Đảng lần thứ mười, ĐHĐBTQ lần thứ VI Đảng CSVN; trong cuốn Tìm hiểu lịch sử Đảng CSVN qua các Đại hội

và Hội nghị Trung ương 1930 - 2002, NXB Lao động năm 2003, tr.1152)

“Đổi mới cơ bản tổ chức và cơ chế quản lý doanh nghiệp nhà nước để vừa bảo đảm quyền tự chủ kinh doanh của doanh nghiệp trong cơ chế thị trường, vừa bảo đảm sự kiểm soát của Nhà nước. Nguyên nhân cơ bản của tình trạng nhiều doanh nghiệp nhà nước làm ăn kém hiệu quả, tiêu cực và lãng phí lớn là do tài sản của Nhà nước không có người làm chủ trực tiếp, có trách nhiệm và lợi ích rõ ràng đối với việc sử dụng có hiệu quả các tài sản đó; công nhân viên chức làm việc tại doanh nghiệp không có động lực thường xuyên và bền vững để gắn bó thiết thân với sự phát triển của doanh nghiệp, không có quyền hạn vật chất và tổ chức đủ mạnh để tham gia định đoạt các quyết sách làm ăn, ngăn chặn từ gốc tệ tham nhũng, làm thất thoát, hư hỏng tài sản công. Phải tìm giải pháp khắc phục bằng được tình trạng đó.

(Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Khoá VII), Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ Khoá VII, tr.36-37)

“Tiếp tục cải cách sâu sắc và toàn diện hệ thống tài chính - tiền tệ.

Xử lý tốt các quan hệ sau đây theo hướng tăng tích lũy cho đầu tư phát triển, bảo đảm quản lý thống nhất nền tài chính quốc gia: tích lũy và tiêu dùng; tài chính nhà nước và tài chính của doanh nghiệp, của dân cư; ngân sách trung ương và ngân sách địa phương; chi tiêu thường xuyên với chi đầu tư phát triển và bảo đảm quốc phòng, an ninh; huy động vốn trong nước và vốn bên ngoài; đáp ứng các nhu cầu trước mắt với tiết kiệm và đầu tư phát triển vì lợi ích lâu dài; quyền tự chủ tài chính của doanh nghiệp với sự kiểm kê, kiểm soát chặt chẽ về mặt tài chính của Nhà nước”.

(Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương (Khoá VII), Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ Khoá VII, tr.44)

“Khẩn trương ban hành các quy định cụ thể, áp dụng các biện pháp kiểm tra và xử lý nghiêm minh trong việc thực hiện chủ trương tiết kiệm của Đảng và Nhà nước.

            Tăng cường các biện pháp hành chính - kinh tế đồng bộ, từ khâu lập luận chứng kinh tế - kỹ thuật, thiết kế đến tổ chức thi công công trình để thực hiện tiết kiệm nghiêm ngặt trong lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước. Làm rõ trách nhiệm của các cấp có thẩm quyền và các cán bộ chịu trách nhiệm đối với từng công trình, từng hạng mục và xử lý kịp thời, nghiêm minh đối với bất cứ tổ chức, cá nhân nào có vi phạm.

            Tiếp tục cụ thể hóa, công khai hóa và chỉ đạo thực hiện chặt chẽ các quy định tiết kiệm chi tiêu thường xuyên từ ngân sách. Chi ngân sách năm 1999 phải triệt để tiết kiệm ngay từ khi dự toán, giảm chi tiêu dùng để tăng vốn đầu tư phát triển; bố trí nguồn dự phòng cao hơn; tiếp tục thực hiện chủ trương tiết kiệm 10% dự toán đã được duyệt của các đối tượng hưởng ngân sách.

            Ban Chấp hành Trung ương tán thành về nguyên tắc các biện pháp, các quy định về chi tiêu ngân sách nhà nước nhằm thực hành tiết kiệm, chống lãng phí do Ban Cán sự Đảng Chính phủ trình Trung ương và giao Bộ Chính trị xem xét, quyết định việc tổ chức thực hiện ngay trong năm 1999. Đồng thời cần tăng cường công tác kiểm tra, tạo điều kiện để nhân dân giám sát thực hiện, xử lý kịp thời và kiên quyết các vi phạm của tất cả các cơ quan và cá nhân. Các đồng chí Ủy viên Trung ương, thủ trưởng các cơ quan thuộc Trung ương và địa phương phải gương mẫu thực hiện và chỉ đạo thực hiện nghiêm túc các quy định tiết kiệm của Đảng và Nhà nước”.

(Nghị quyết Hội nghị lần thứ sáu (lần 1)Ban Chấp hành Trung ương Đảng(Khoá VIII) về nhiệm vụ kinh tế - xã hội năm 1999, Các Nghị quyết của Trung ương Đảng 1996- 1999, NXB Chính trị quốc gia 2000, tr.202)

           

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 


 

 

 

KINH NGHIỆM CÁC NƯỚC

 

 

 

1. Thực hành tiết kiệm năng lượng ở một số nước châu Á

 

            Giá dầu mỏ tăng cao gây sức ép đối với các nền kinh tế thế giới nói chung và châu Á nói riêng. Nhiều nước châu Á có kế hoạch phát triển các nguồn năng lượng thay thế nhằm giảm sự phụ thuộc dầu mỏ, khí đốt; đồng thời thi hành các biện pháp nhằm tiết kiệm năng lượng.

            Nhật Bản được đánh giá là một trong số các nước tiết kiệm năng lượng nhất thế giới. Mới đây, Chính phủ Nhật Bản phát động một chiến dịch, kêu gọi công dân tiết kiệm năng lượng bắt đầu từ mỗi gia đình, theo đó thay thế các thiết bị, đồ dùng điện, ô-tô cũ, bằng các loại sản phẩm mới, coi đó là một phần của lòng yêu nước và ngăn chặn sự nóng lên toàn cầu. Các công ty lớn của Nhật Bản hưởng ứng chiến dịch tiết kiệm năng lượng bằng việc sản xuất và bán ra các sản phẩm tiết kiệm điện mới nhất của họ.

            Là nước có nền kinh tế lớn thứ hai thế giới tiêu thụ nhiều năng lượng, nhưng Nhật Bản hoàn toàn không có dầu mỏ và khí đốt. 96% năng lượng sử dụng trong nền kinh tế và phục vụ sinh hoạt hằng ngày ở Nhật Bản phải nhập khẩu. Việc phụ thuộc lớn nguồn năng lượng bên ngoài khiến cho nước này nhận thức được tầm quan trọng của tiết kiệm sử dụng năng lượng có hiệu quả cao. Pháp và Ðức phải sử dụng tới 50% năng lượng nhiều hơn so với Nhật Bản để sản xuất tương đương 1 USD trong các hoạt động kinh tế; Anh: gần gấp hai lần, Mỹ: gần gấp ba, còn Trung Quốc gấp tám lần Nhật Bản.

            Từ năm 1973 đến nay sản xuất công nghiệp của Nhật Bản tăng gần gấp ba lần, nhưng mức năng lượng sử dụng hầu như không đổi. Ðể sản xuất khối lượng sản phẩm công nghiệp bằng Nhật Bản, Trung  Quốc phải sử dụng lượng năng lượng gấp 11,5 lần. Các nhà máy sản xuất giấy của Nhật Bản đầu tư cho những thùng kim loại có thể đốt nóng bằng giấy thải, củi và nhựa phế thải. Trong vòng hai năm, có tới một nửa sản lượng điện sử dụng trong các nhà máy giấy được sản xuất từ rác thải.

            Hai tháng trước đây, Thủ tướng Koizumi phát động một chiến dịch trong toàn quốc nhằm thực hiện mục tiêu của Nghị định thư Kyoto về cắt giảm 6% lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính mức của năm 1990 vào năm 2012, với việc chính phủ chi hàng tỷ USD nhằm thực hiện mục tiêu này. Công việc kinh doanh của các công ty dịch vụ năng lượng cũng trở nên sôi động ở Nhật Bản, khuyến khích việc cắt giảm chi phí về năng lượng.

            Trong lĩnh vực giao thông và sinh hoạt đời sống, nhu cầu sử dụng năng lượng cao hơn nhiều so với lĩnh vực công nghiệp. Ðể tiết kiệm và sử dụng năng lượng có hiệu quả, Chính phủ Nhật Bản chủ trương tăng thuế nhiên liệu lên 1,25 USD một lít xăng, mức cao nhất trong một thập niên; đồng thời giảm thuế đối với ô-tô cỡ nhỏ và loại xe mới có các bộ phận không đồng bộ nhưng tiết kiệm nhiên liệu, trên cơ sở kết hợp giữa một động cơ chạy xăng và một động cơ chạy điện. Việc bán loại xe này ở Nhật Bản đang tăng mạnh.

            Nhật Bản cũng trợ cấp khoảng 1,3 tỷ USD để lắp đặt hệ thống năng lượng mặt trời cho 160 nghìn gia đình. Hiện nay việc cung cấp năng lượng mặt trời với chi phí cao hơn từ hai đến ba lần việc cung cấp điện năng cho các hộ gia đình. Nhưng các chủ sở hữu nhà cho rằng cùng với thời gian, nguồn năng lượng này sẽ trang trải những phí tổn về thiết bị sử dụng năng lượng mặt trời. Chính phủ Nhật Bản muốn miễn thuế cho cố gắng phát triển nguồn năng lượng này; vạch kế hoạch tăng sản lượng năng lượng mặt trời lên 15 lần trong thập kỷ này. Với chủ trương tiết kiệm dầu mỏ phải bắt đầu từ mỗi gia đình, Nhật Bản chủ trương cắt giảm việc sử dụng năng lượng đối với bốn loại đồ dùng gia đình thông dụng. Chủ trương nói trên được các hãng sản xuất đồ dùng điện của Nhật Bản hưởng ứng, với việc sản xuất và bán ra các sản phẩm mới tiết kiệm năng lượng.

            Ngoài Nhật Bản, các nước có nguồn năng lượng nội địa ít cũng thi hành chính sách tiết kiệm năng lượng. Tại Singapore, nơi máy điều hòa không khí chiếm tới 60% chi phí năng lượng của mỗi gia đình, một đạo luật mới được ban hành khuyến khích việc tiết kiệm năng lượng thông qua việc sử dụng kính cửa sổ phủ phản quang và kết nối hệ thống hạ nhiệt của ngôi nhà với hệ thống làm hạ nhiệt của hàng xóm, nơi nước được làm lạnh qua đêm.

            Ở Hồng Công, ngày càng nhiều tòa nhà được lắp đặt hệ thống quạt "thông minh", trong đó máy tính giảm thiểu số lần dừng không cần thiết. Chính quyền Hồng Công cũng khuyến khích việc sản xuất và sử dụng loại ô-tô kết hợp động cơ chạy xăng với động cơ chạy điện.

            Ðầu tháng sáu năm nay, Trung Quốc đã thành lập Ban chỉ đạo năng lượng quốc gia do Thủ tướng Ôn Gia Bảo làm Trưởng ban. Hội nghị lần thứ nhất Ban chỉ đạo công tác năng lượng quốc gia xác định công tác năng lượng của Trung Quốc trong thời kỳ trước mắt bao gồm tăng cường nghiên cứu, hoàn thiện quy hoạch tổng thể phát triển trung hạn và dài hạn năng lượng; phân phối hợp lý nguồn năng lượng và phát triển các nguồn năng lượng mới và năng lượng có khả năng tái sinh, triệt để tiết kiệm năng lượng... Tuần tiết kiệm năng lượng trong toàn quốc kết thúc ngày 18-6 vừa qua.

            Hưởng ứng sự kiện này các bộ, cơ quan ở Bắc Kinh, mặc dù không bị cắt điện cũng không bật máy điều hòa không khí khi nhiệt độ ngoài trời là 33○C. Chiến lược tiết kiệm năng lượng của Chính phủ Trung Quốc góp phần làm tăng nhận thức của người dân về vấn đề này. Ở Thượng Hải, 40% những người được hỏi ý kiến nói họ muốn mua các đồ dùng và thiết bị điện tiết kiệm năng lượng. Chính quyền các thành phố Bắc Kinh và Thượng Hải đã yêu cầu lãnh đạo các nhà máy đóng trên địa bàn thành phố trong hai tháng 7 và 8 có kế hoạch cắt giảm giờ sản xuất, đóng cửa một tuần luân phiên, giảm số lượng đèn chiếu sáng đường phố nhằm tránh mất điện và giảm sức ép thiếu điện.

            Ở Thái-lan, Chính phủ phát động chiến dịch tiết kiệm năng lượng trong toàn quốc vào ngày 1-6 vừa qua và kéo dài trong ba tháng, kêu gọi nhân dân hưởng ứng thông qua việc thực hiện các biện pháp tiết kiệm điện như tắt đèn chiếu sáng và máy điều hòa không khí vào những thời điểm được yêu cầu. Chính phủ Thái-lan đang cân nhắc khả năng tiến hành các biện pháp tiết kiệm năng lượng bắt buộc trong toàn quốc, như hạn chế nhập khẩu năng lượng và phân phối năng lượng sử dụng cá nhân nếu chiến dịch tiết kiệm năng lượng được phát động đầu tháng 6-2005 không mang lại hiệu quả mong muốn. Dự kiến từ ngày 1-7 tới, Thái-lan sẽ thả nổi giá khí đốt hiện vẫn được trợ giá 2,7 baht/kg. Giá điện và nhiên liệu cũng sẽ được điều chỉnh tăng lên.

(Báo Nhân dân điện tử, ngày 28-06-2005)

2. Tiết kiệm điện qua ví dụ của nước Nhật

            Tiết kiệm điện bao hàm một nghĩa rộng, liên quan đến nhiều cấp bậc từ những cá thể, hộ gia đình cho đến cả một nền công nghiệp. Bài viết này giới thiệu về cách làm của đất nước Nhật Bản như là một ví dụ tham khảo để ta có thể hiểu chính xác hơn về “Tiết Kiệm Điện”. Nhật là một ví dụ cần học hỏi khi đất nước này vẫn đảm bảo tốt an toàn điện với trên 20% khả năng dự phòng, dù 82% điện của nước này phụ thuộc vào nhiên liệu ngoại nhập.

            Những giải pháp tình thế được hướng dẫn cụ thể, tuyên truyền bằng nhiều hình thức, công khai nguy cơ thiếu điện

Nhìn các công ty Nhật công khai thông tin về nguy cơ thiếu điện ngay khi nhìn thấy nguy cơ, ta có thể hiểu được sự tôn trọng của các công ty điện lực với khách hàng như thế nào: Khi đã thấy rõ nguy cơ thiếu điện do nhu cầu tăng cao vào mùa hè, hay khi nhiều nhà máy phải đóng cửa, các công ty điện lực thường thông báo rất rõ trên các phương tiện thông tin đại chúng, và có thư gửi đến từng cơ quan và gia đình để xin lỗi và kêu gọi họ tiết kiệm điện.

Một vài giải pháp tiết kiệm điện mang tính tình thế như: khuyến khích không sử dụng máy điều hòa hoặc điều chỉnh nhiệt độ trên 28 độ C, các công sở và hộ gia đình giảm điện chiếu sáng, sử dụng các bóng đèn ít tốn điện, các công ty cho phép nhân viên không mặc Veston và không thắt cà vạt khi đi làm. Thủ tướng Koizumi đích thân kêu gọi: “Công nhân viên chức chính phủ sẽ không bỏ cà vạt trừ khi ông chủ của họ làm như thế. Tôi muốn các bộ trưởng không thắt cà vạt và mặc áo vest mùa hè này để tiết kiệm năng lượng. Tôi cũng không thắt cà vạt và bỏ áo vest". Với những việc làm cụ thể và thiết thực, và sự hợp tác của khách hàng đã giúp các công ty điện lực nhiều lần vượt qua khó khăn, ngay cả khi các nhà máy điện nguyên tử bị chính phủ yêu cầu đóng cửa để kiểm tra độ an toàn. Người ta lập các trang web, các áp phích tuyên truyền, các phim hoạt hình và truyện tranh vui nhộn thay cho các chỉ thị và lời kêu gọi khô khan, biến chủ đề tiết kiệm điện trở nên gần gũi và dễ hiểu với dân chúng hơn.

Sử dụng có hiệu quả các nguồn nhiên liệu và giảm tối đa tổn thất
            Tiết kiệm điện không dừng lại ở những việc liên quan đến tiêu thụ điện như trên, mà còn là việc sử dụng có hiệu quả các nguồn nhiên liệu phát điện và giảm tối đa tổn thất trong truyền tải điện. Chính nhờ có sự cạnh tranh giữa các công ty điện mà các yếu tố này được xem như những yếu tố mang tính sống còn, vì chúng góp phần quan trọng quyết định giá điện, một tiêu chí vô cùng quan trọng mang lại lợi thế cạnh tranh rất cao.

Từ lâu, Nhật áp dụng các chu trình khép kín gồm phát điện, và sử dụng có hiệu quả nhiệt còn lại sau khi phát điện (giống như khí nóng thoát ra từ ống pô xe máy) vào các mục đích khác như đun nước, sưởi ấm vào mùa đông. Chu trình này được áp dụng cho các nhà máy phát điện chạy khí hóa lỏng (hay dầu) dùng cho các khách sạn lớn, trường học hay khu công nghiệp.

Tương tự như vậy, các nhà máy nhiệt điện đốt khí hóa lỏng được chuyển từ chu trình đơn sang chu trình hổn hợp: khí nóng từ quá trình đốt sau khi làm quay tuốc bin khí để phát điện, lại được tận dụng để đun nóng nước làm quay tuốc bin hơi nước và phát điện thêm một lần nữa, giúp nâng cao hiệu suất của nhà máy.
            Các giải pháp tương tự ở qui mô hộ gia đình cũng được phát huy tối đa. Ví dụ như việc phát triển pin nhiên liệu dùng cho các hộ gia đình, kết hợp với việc đun nóng nước (một nhu cầu tối thiểu của hầu hết gia đình Nhật) đang được nghiên cứu và khuyến khích. Các công ty cung cấp các giải pháp này đang ăn nên làm ra (vì các hộ gia đình luôn muốn sử dụng có hiểu quả nhất chi phí mua năng lượng).
            Nhật còn đi đầu thế giới trong việc sử dụng nhiệt lượng của hơi nước thải ra nhà máy điện nguyên tử cho việc biến nước biển thành nước sinh hoạt. Có đến 10 trong 50 nhà máy điện nguyên tử của Nhật Bản được thiết kế kết hợp giữa phát điện và biến nước biển thành nước ngọt.

Phối hợp tốt giữa các nguồn điện để đạt được hiệu suất tối đa

Ở một bậc cao hơn, tiết kiệm điện có nghĩa là tối ưu hóa việc hòa trộn các nguồn điện sau cho đạt được hiệu xuất cao nhất cho từng nguồn năng lượng và cho cả hệ thống điện. Tương tự như Việt Nam, Nhật Bản cũng có sự chênh lệch lớn về nhu cầu điện năng giữa giờ cao điểm và thấp điểm. Việc phát triển các nguồn điện thông thường để đáp ứng nhu cầu lúc cao điểm thì sẽ gây lãng phí vào giờ thấp điểm.
            Một trong những giải pháp điều chỉnh chiến lược của Nhật là sử dụng thủy điện tích năng: Nước được bơm lên cao vào ban đêm bằng điện dư thừa vào giờ thấp điểm (ban đêm), và cho chảy xuống phát ra điện vào giờ cao điểm (ban ngày). Việc sử dụng thủy điện tích năng giúp cho các nhà máy điện nguyên tử và nhiệt điện có thể vận hành liên tục mà không phải tắt máy vào giờ thấp điểm, do đó mà nâng cao hiệu suất của từng nhà máy. (Xem ảnh dưới)

Từ lâu, thủy điện không còn là nguồn điện chính của Nhật Bản nữa, vì họ không trở thành nạn nhân mỗi khi ông trời trở chứng. Đối với Nhật, điện nguyên tử đóng vai trò quan trọng nhất, tiếp theo mới là nhiệt điện và thủy điện.
Kể từ khi sau khi Nhật ký hiệp định Kyoto về giảm khí thải nhà kính, chính phủ luôn khuyến khích việc nghiên cứu, phát triển và sử dụng các nguồn điện “sạch” như phong điện, điện mặt trời. Các nguồn năng lượng này khi đứng một mình không được ổn định lắm: điện mặt trời phụ thuộc vào nắng, phong điện phụ thuộc vào gió. Tuy nhiên, Nhật đã có “thuốc chữa” cho các bệnh “chập chờn của các loại hình năng lượng này qua một cơ chế đặc biệt mà có thể gọi nôm na là: “Thiếu thì mua thêm, dư thì bán đi”. Bằng cách này, các công ty điện có thể tích cóp điện từ những đơn vị phát điện nhỏ nhất, kể cả từng hộ gia đình theo kiểu góp gió thành bão.

(Xem ảnh dưới)

 

            Một ví dụ về hệ thống điện mặt trời: Khi điện mặt trời không đủ dùng cho nhà A vào ban đêm hay khi trời nhiều mây, điện sẽ được bổ sung từ lưới (mua thêm điện). Ngược lại, lượng điện mặt trời dư thừa của nhà A khi nắng tốt sẽ được hòa trộn vào điện lưới (bán điện, hay cấp điện cho nhà B).

 

Qua các ví dụ về cách mà Nhật Bản tiết kiệm điện, có thể thấy rằng tiết kiệm điện không chỉ đơn thuần là việc giảm tiêu dùng điện, mà còn liên qua đến các giải pháp sử dụng có hiệu quả cũng như phối hợp tốt giữa các nguồn điện ở cấp độ quản l‎y vĩ mô, để đạt được hiệu xuất cao nhất cho toàn hệ thống. Những khuyến khích, vận động tiết kiệm điện thường đi đôi với công tác tư vấn, hướng dẫn và dịch vụ thì người sử dụng điện mới có thể cộng tác tối đa. Tiết kiệm điện là một quá trình liên tục và lâu dài, không chỉ mang lại lợi ích cho người sử dụng, mà còn có ‎ý nghĩa quan trọng đến an ninh năng lượng của quốc gia và góp phần giải quyết vấn đề môi trường toàn cầu.

(Hội thanh niên sinh viên Việt Nam tại Nhật Bản- VYSA, tháng 6 năm 2005)

3. Tiết kiệm năng lượng ở CHLB Đức

Sau khi xảy ra cuộc khủng hoảng năng lượng trên thế giới, chính phủ Đức đã bỏ rất nhiều công sức vào việc thúc đẩy phát triển kỹ thuật năng lượng có khả năng tái sinh. Tính đến nay, Đức đã đầu tư khoảng 1,74 tỷ euro vào lĩnh vực này.

Năm 2000, Đức ban bố Luật phát triển năng lượng có khả năng tái sinh. Theo luật này các công ty nghiên cứu phát triển nguồn năng lượng được chính phủ trợ cấp kinh phí làm cho việc nghiên cứu phát triển và sử dụng nhiều loại năng lượng có khả năng tái sinh ở Đức thu được kết quả nổi bật. Năm 2003, Đức đã hoàn thành kế hoạch phát điện bằng năng lượng mặt trời tại 100 nóc nhà và còn tăng cường các biện pháp khác để phát triển và đưa vào sử dụng nguồn năng lượng này. Hiện nay, Đức là nước đứng đầu thế giới sử dụng năng lượng gió. Sản lượng điện bằng sức gió của Đức chiếm khoảng một phần ba tổng sản lượng điện bằng sức gió của thế giới và 4% tổng sản lượng sản xuất ra trong nước. Đức đang đẩy mạnh phát triển công nghiệp điện bằng sức gió tại các khu vực ven biển.

Bên cạnh việc khai thác, Chính phủ còn đưa ra những biện pháp sử dụng tiết kiệm năng lượng như trợ cấp kinh phí, tuyên truyền và tư vấn kỹ thuật thúc đẩy nâng cao hiệu suất sử dụng đồng thời đẩy mạnh tiết kiệm năng lượng trên mọi lĩnh vực. Năm 2002, Đức công bố những quy định pháp luật về tổng thể cung cấp điện, nước nóng. Theo quy định này, công ty năng lượng sẽ tiến hành đồng thời việc cung cấp điện và nước nóng nằm nâng cao hiệu suất sử dụng năng lượng. Theo khung tiêu chuẩn của EU, Đức tiến hành phân cấp các loại đồ điện gia đình bán trên thị trường và các sản phẩm sẽ được dán nhãn phẩm cấp chất lượng tiết kiệm điện năng để thúc đẩy các nhà sản xuất nâng cao kỹ thuật tiết kiệm năng lượng.

Trong lĩnh vực giao thông, ngành công nghiệp ôtô của Đức không ngừng đưa ra những kỹ thuật mới về sử dụng tiết kiệm năng lượng. Do áp dụng những kỹ thuật này, năm 2002 tỷ lệ tiêu hao xăng của loại xe mới so với năm 1990 trung bình giảm hơn 20%. Năm nay Đức ra quy cách tiêu chuẩn tiêu hao xăng dầu của các loại xe mới, chỉ có xe nào đạt tiêu chuẩn mới được dán nhãn đạt tiêu chuẩn tiết kiệm xăng dầu để đưa ra thị trường. Năm 2002, Chính phủ đưa ra Dự luật tiết kiệm năng lượng trong đó quy định các công trình xây dựng mới phải phù hợp với tiêu chuẩn tiêu hao năng lượng thấp. Căn cứ dự luật này, những năm gần đây, Đức còn áp dụng biện pháp thay đổi hệ thống sưởi và cấp nước nóng đối với khu nhà xây dựng đã lâu năm, giảm được đáng kể nguồn năng lượng tiêu hao.

Theo thống kê số thiết bị đồ điện gia đình để ở chế độ tạm nghỉ không hoạt động (không rút giắc cắm khỏi ổ điện) tiêu hao một lượng điện chiếm tới 11% lượng điện các thiết bị gia đình trong cả nước sử dụng. Vì vậy, Chính phủ và cơ quan bảo vệ môi trường đã thông qua các biện pháp đẩy mạnh tuyên truyền kêu gọi mọi người khi không sử dụng các thiết bị đồ điện trong nhà rút giắc cắm ra khỏi ổ.                                                                                                       

 

Mục lục

 

 

 

 

 

 

Trang

 

Phần thứ nhất

GIỚI THIỆU LUẬT THỰC HÀNH TIẾT KIỆM, CHỐNG LÃNG PHÍ

3

Sự cần thiết ban hành Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí

3

Nội dung cơ bản của Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí

9

I. Những quy định chung

10

II. Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong các lĩnh vực

19

III. Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức trong thực hành tiết kiệm, chống lãng phí

30

IV. Khiếu nại, tố cáo, khen thưởng và xử lý vi phạm

34

V. Điều khoản thi hành

35

Nội dung cơ bản của Chương trình hành động của Chính phủ triển khai thực hiện Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí

37

Phần thứ hai

TƯ LIỆU THAM KHẢO

51

Một số lời dạy của Bác Hồ về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí

51

Nghị quyết của Đảng ta từ năm 1986 đến nay về công tác tiết kiệm và chống lãng phí

62

Kinh nghiệm các nước

65

 

 

 

[1] . Tiếng địa phương, nghĩa là "cái nong"

 

(MKLAW FIRM: Bài viết được đăng tải nhằm mục đích giáo dục, phổ biến, tuyên truyền pháp luật và chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước không nhằm mục đích thương mại. Thông tin nêu trên chỉ có giá trị tham khảo và có thể một số thông tin pháp lý đã hết hiệu lực tại thời điểm  hiện tại vì vậy Quý khách khi đọc thông tin này cần tham khảo ý kiến luật sư, chuyên gia tư vấn trước khi áp dụng vào thực tế.)