Tuy nhiên, thực tiễn công tác quản lý nhà nước về luật sư trong thời gian qua nói chung, công tác thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực luật sư nói riêng cho thấy có địa phương còn chưa quan tâm đúng mức tới quản lý đối với tổ chức và hoạt động của luật sư, một bộ phận các tổ chức hành nghề luật sư còn có những vi phạm pháp luật, thậm chí là những vi phạm khá nghiêm trọng cần được chấn chỉnh, khắc phục kịp thời. Do đó, quản lý nhà nước về tổ chức và hoạt động của luật sư là vấn đề cần được tăng cường trong giai đoạn hiện nay. Thanh tra chuyên ngành về tổ chức và hoạt động của luật sư là công việc cần thiết, quan trọng để phục vụ cho yêu cầu quản lý.

Phần I

Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực Luật sư

Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tư pháp nói chung, trong hoạt động luật sư nói riêng là một trong những chế định quan trọng của pháp luật nhằm góp phần bảo đảm an toàn pháp lý trong hoạt động.

Tuy nhiên, trên thực tế việc xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động  luật sư vẫn chưa thực sự đi vào đời sống xã hội, chưa đáp ứng được mục tiêu đặt ra là răn đe, phòng ngừa vi phạm để từ đó nâng cao hiệu lực quản lý Nhà nước. Cho đến nay, các địa phương thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động tư pháp chưa nhiều; cơ quan thanh tra chuyên ngành tư pháp còn rất ít khi thực hiện thẩm quyền đó. Thực tiễn, khi phát hiện hành vi vi phạm hành chính trong hoạt động luật sư, một số người có thẩm quyền còn nhiều lúng túng khi vận dụng các quy định của pháp luật để xử phạt. Trong khi đó, ý thức chấp hành pháp luật của một bộ phận lớn những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong các hoạt động còn chưa cao. Để góp phần đáp ứng những đòi hỏi của thực tiễn; đưa những quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động vào thực tiễn đời sống xã hội, chuyên đề này sẽ đưa ra, thảo luận và phân tích một số nội dung cơ bản của việc xử phạt hành chính trong hoạt động luật sư như sau.

1. Cơ sở pháp lý

Vào những năm đầu của thập kỷ 90, các quy định của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 1995 và các văn bản pháp luật có liên quan mới chỉ dừng lại ở mức quy định có tính chất định hướng cho việc xử phạt vi phạm hành chính. Thời điểm đó, chưa có quy định chi tiết và hướng dẫn cụ thể để tiến hành xử phạt các vi phạm hành chính trong lĩnh vực tư pháp nói chung, trong hoạt động nói riêng. Sau khi Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002 (sau đây gọi tắt là Pháp lệnh) ra đời, thay thế Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 1995, Nghị định số 134/2003/NĐ-CP ngày 14/11/2003 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh được ban hành và đặc biệt Nghị định số 76/2006/NĐ-CP và Nghị định số 60/2009/NĐ-CP của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tư pháp (sau đây gọi tắt là Nghị định 76 và Nghị định 60) được ban hành đã cụ thể hoá các hành vi bị xử phạt trong lĩnh vực Tư pháp. Đây là văn bản tạo cơ sở pháp lý chi tiết, cụ thể nhất và trực tiếp nhất hiện nay cho việc tiến hành xử phạt các hành vi vi phạm hành chính trong hoạt động.

  Ngoài ra, còn phải kể đến một loạt các văn bản quan trọng khác liên quan đến những quy định về xử phạt vi phạm hành chính như Luật Thanh tra năm 2004, Nghị định số 74/2006/NĐ-CP quy định về tổ chức và hoạt động của Thanh tra Tư pháp; Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 2004 và các văn bản có liên quan khác.

2. Đối tượng xử phạt

Theo quy định tại khoản 1, Điều 2 Nghị định 60, đối tượng có thể bị xử phạt hành chính trong hoạt động  là rất rộng, bao gồm  các cá nhân, tổ chức có hành vi cố ý hoặc vô ý vi phạm các quy định của pháp luật về quản lý nhà nước trong lĩnh vực  mà không phải là tội phạm. Tuy nhiên, không phải bất cứ hành vi vi phạm các quy định của pháp luật về quản lý nhà nước trong lĩnh vực luật sư của các cá nhân, tổ chức mà không phải là tội phạm đều là đối tượng bị xử phạt. Cần nhấn mạnh rằng hành vi vi phạm hành chính phải được pháp luật quy định. Cụ thể trong hoạt động luật sư, chỉ có những hành vi được quy định từ Điều 23 đến hết Điều 26 của Nghị định số 60/2009/NĐ-CP mới bị xem xét, xử phạt theo quy định của pháp luật.

Đối với cá nhân, tổ chức nước ngoài có hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực tư pháp trên lãnh thổ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì cũng bị xử phạt theo quy định của pháp luật, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà nước ta là thành viên có quy định khác thì thực hiện theo điều ước quốc tế đó.

Một điểm quan trọng, cần lưu ý nữa là những hành vi vi phạm chế độ công vụ của cán bộ, công chức đang làm nhiệm vụ trong lĩnh vực luật sư, thanh tra viên tư pháp và những cán bộ, công chức có liên quan khác trong khi thi hành nhiệm vụ được giao trong lĩnh vực luật sư mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự thì bị xử lý kỷ luật theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức và không bị xử phạt như các cá nhân, tổ chức đề cập ở trên.

3. Hành vi vi phạm và hình thức xử phạt

Hành vi vi phạm hành chính là hành vi vi phạm các quy định của pháp luật về quản lý nhà nước do cá nhân, tổ chức thực hiện và vi phạm này không phải là tội phạm, tức là chưa đủ các yếu tố cấu thành tội phạm, trong đó yếu tố có tính chất quyết định là mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi vi phạm hành chính. Tương tự như hành vi phạm tội, hành vi vi phạm hành chính cũng là hành vi vi phạm các quy định của pháp luật về quản lý nhà nước và thường là phạm vào các điều cấm của pháp luật, song tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của vi phạm hành chính thấp hơn tội phạm. Đồng thời như đã trình bày ở trên, một trong những nguyên tắc cơ bản của xử lý vi phạm hành chính là hành vi vi phạm hành chính phải được pháp luật quy định, nói cách khác hành vi nào không được pháp luật về vi phạm hành chính quy định thì không bị coi là vi phạm hành chính.

  Trong hoạt động luật sư, các hành vi vi phạm hành chính và hình thức xử phạt những hành vi vi phạm hành chính đó đã được quy định cụ thể tại Điều 21 đến Điều 26 của Nghị định số 60/2009/NĐ-CP. Theo quy định đó, hành vi vi phạm hành chính trong hoạt động luật sư có áp dụng hình thức xử phạt tiền (thấp nhất là 500.000 đồng và cao nhất là 30.000.000 đồng), hình thức xử phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả. ời phải luật sư.

Vì một số nội dung như nguyên tắc xử phạt, thẩm quyền xử phạt, trình tự thủ tục xử phạt đã được trình bày tai chuyên đề xử phạt vi phạm hành chính và thanh tra chuyên ngành trên lĩnh vực công chứng nên tác giả đề nghị bạn đọc thảm khảo tại chuyên đề trên để tránh trùng lặp nội dung. Sau đây, tác giả xin trình bày phần quy trình nghiệp vụ thanh tra chuyên ngành trên lĩnh vực luật sư.

 

Phần II

Để đáp ứng yêu cầu của nhiều địa phương và có thêm tài liệu tham khảo về công tác chỉ đạo nghiệp vụ thanh tra của Thanh tra Tư pháp, trong phạm chuyên đề này, chúng tôi xin trao đổi cùng các bạn một số nội dung cơ bản về cơ sở pháp lý, quy trình và nghiệp vụ thực hiện một cuộc thanh tra chuyên ngành về tổ chức và hoạt động của luật sư như sau:

I. Cơ sở pháp lý và phạm vi thanh tra chuyên ngành  của Thanh tra Tư pháp trong lĩnh vực Luật sư

1. Thẩm quyền của Thanh tra Bộ

- Khoản 2 và 3, Điều 25 của Luật Thanh tra quy định nhiệm vụ, quyền hạn của Thanh tra Bộ:  

2. Thanh tra việc chấp hành pháp luật chuyên ngành của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phạm vi quản lý nhà nước theo ngành, lĩnh vực do bộ phụ trách.

3. Xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.”.

- Khoản 2, điều 83 của Luật Luật sư quy định:

“2. Bộ Tư pháp chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về luật sư và hành nghề luật sư, có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:…

i) Kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm, giải quyết khiếu nại, tố cáo về tổ chức luật sư và hành nghề luật sư;…:

 - Khoản 2 và 3, Điều 7 của Nghị định số 74/2006/NĐ-CP ngày 01/8/2006 quy định về tổ chức và hoạt động của Thanh tra Tư pháp trong đó quy định nhiệm vụ, quyền hạn của Thanh tra Bộ như sau:

2. Thanh tra chuyên ngành đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc chấp hành pháp luật chuyên ngành thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp theo quy định của pháp luật, bao gồm: kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật; phổ biến, giáo dục pháp luật; thi hành án dân sự; luật sư, chứng thực; hộ tịch; nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài; quốc tịch; lý lịch tư pháp; luật sư; tư vấn pháp luật; giám định tư pháp; bán đấu giá tài sản; trọng tài thương mại; trợ giúp pháp lý; đăng ký giao dịch bảo đảm; hợp tác với nước ngoài về pháp luật và công tác tư pháp khác.

3. Xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.”.

2.  Thẩm quyền của Thanh tra Sở

- Khoản 2, Điều 28 của Luật Thanh tra quy định nhiệm vụ, quyền hạn của Thanh tra Sở: “Thanh tra việc chấp hành pháp luật chuyên ngành của cơ quan, tổ chức, các nhân trong lĩnh vực quản lý do sở phụ trách”;

- Khoản 4, Điều 83, Luật Luật sư quy định: Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thực hiện quản lý nhà nước về luật sư và hành nghề luật sư tại địa phương, có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

"d) Kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm, giải quyết khiếu nại, tố cáo về tổ chức, hoạt động của Đoàn luật sư, tổ chức hành nghề luật sư;".

- Điểm h, khoản 2, Điều 25 của Nghị định số 28/2007/NĐ-CP ngày 26/02/2007 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật luật sư đã quy định Sở Tư pháp giúp Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện quản lý nhà nước về luật sư và hành nghề luật sư tại địa phương, có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây: “Thực hiện kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo về tổ chức, hoạt động của Đoàn luật sư, tổ chức hành nghề luật sư theo thẩm quyền hoặc theo uỷ quyền của Bộ trưởng Bộ Tư pháp hoặc Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; xử phạt vi phạm hành chính đối với luật sư, tổ chức hành nghề luật sư theo thẩm quyền.”;

- Khoản 2, Điều 10 của Nghị định số 74/2006/NĐ-CP ngày 01/8/2006 quy định về tổ chức và hoạt động của Thanh tra Tư pháp trong đó quy định nhiệm vụ, quyền hạn của Thanh tra Sở như sau: “ Thanh tra chuyên ngành đối với cơ quan, tổ chức cá nhân trong việc chấp hành pháp luật chuyên ngành thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Sở Tư pháp theo quy định của pháp luật gồm: kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật; phổ biến, giáo dục pháp luật; thi hành án dân sự cấp huyện (theo sự uỷ quyền của Bộ trưởng Bộ Tư pháp); luật sư, chứng thực; hộ tịch, quốc tịch; lý lịch tư pháp; nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài; luật sư; tư vấn pháp luật; giám định tư pháp; bán đấu giá tài sản; trọng tài thương mại; trợ giúp pháp lý và công tác tư pháp khác.”;

3. Phạm vi thanh tra chuyên ngành của Thanh tra Tư pháp trong lĩnh vực luật sư

Từ những quy định của pháp luật nêu trên, Thanh tra Bộ Tư pháp và Thanh tra Sở Tư pháp có thẩm quyền thanh tra chuyên ngành về tổ chức và hoạt động của Đoàn luật sư và tổ chức hành nghề luật sư trong phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp, Sở Tư pháp. Do đó, khi tiến hành thanh tra chuyên ngành đối với Đoàn luật sư và các tổ chức hành nghề luật sư, Đoàn thanh tra phải căn cứ khoản 3, Điều 4 của Luật Thanh tra năm 2004: “Thanh tra chuyên ngành là hoạt động thanh tra của cơ quan quản lý nhà nước theo ngành, lĩnh vực đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc chấp hành pháp luật, những quy định về chuyên môn - kỹ thuật, quy tắc quản lý của ngành, lĩnh vực thuộc thẩm quyền quản lý”. Theo đó, về phạm vi thanh tra đối với Đoàn luật sư và các tổ chức hành nghề luật sư chỉ giới hạn trong việc chấp hành pháp luật, những quy định chuyên môn, quy tắc quản lý của ngành Tư pháp.

Khi tiến hành thanh tra về tổ chức và hoạt động của luật sư, Đoàn thanh tra  cần chú ý:

+ Đối tượng của thanh tra chuyên ngành gồm: cán bộ, công chức  làm nhiệm vụ quản lý nhà nước trong lĩnh vực luật sư và các tổ chức, cá nhân có hoạt động trong lĩnh vực này.

+ Đối với sai phạm của cán bộ công chức làm nhiệm vụ quản lý nhà nước trong lĩnh vực luật sư thì xử lý theo Pháp luật về cán bộ, công chức.

+ Đối với hành vi vi phạm hành chính của các tổ chức, cá nhân hoạt động trong lĩnh vực luật sư thì xử lý theo Điều 23 đến Điều 26 của Nghị định 60/2009/NĐ-CP của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực Tư pháp.

+ Trong quá trình thanh tra, nếu tra phát hiện vụ việc có dấu hiệu tội phạm, theo quy định tại tiểu mục 2.1 của Thông tư liên tịch số 03/2006/TTLT/VKSNDTC-TTrCP-BCA-BQP ngày 23/03/2006 của Viện Kiểm sát nhân dân Tối cao, Thanh tra Chính phủ, Bộ Công an và Bộ Quốc phòng, trong thời hạn năm ngày, kể từ ngày phát hiện dấu hiệu tội phạm, phải chuyển hồ sơ vụ việc đó và bản kiến nghị khởi tố đến Cơ quan điều tra có thẩm quyền để xem xét khởi tố vụ án hình sự, đồng thời thông báo ngay bằng văn bản cho Viện kiểm sát cùng cấp biết.

II. Quy trình thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực Luật sư

  Quy trình thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực luật sư gồm 03 bước:

  + Chuẩn bị và quyết định thanh tra;

  + Trực tiếp thanh tra;

  + Kết thúc thanh tra.

Bước 1: Chuẩn bị và quyết định thanh tra

Chuẩn bị thanh tra và quyết định thanh tra nhằm thiết lập những nội dung, kế hoạch để tiến hành thanh tra, bao gồm các công việc sau:

1. Thu thập thông tin và tập hợp, nghiên cứu các văn bản pháp luật có liên quan

- Thông tin là cơ sở quan trọng để quyết định nội dung và kế hoạch thanh tra, do vậy khi thu thập thông tin cần nắm toàn diện các thông tin có liên quan đến mục đích, yêu cầu và đối tượng, sự việc cần thanh tra. Cụ thể, người ra Quyết định thanh tra chỉ đạo người sẽ được giao làm Trưởng Đoàn thanh tra liên hệ, có buổi làm việc trước khi thanh tra với Ban Chủ nhiệm Đoàn luật sư và các cá nhân tổ chức có liên quan khác để nắm thông tin tình hình về các cá nhân, tổ chức hành nghề luật sư. Số liệu phải thu thập là: có bao nhiêu luật sư, bao nhiêu văn phòng luật sư, Công ty Luật, tình hình hoạt động, của các cá nhân, tổ chức đó, tổ chức nào hoạt động có hiệu quả hoặc bị khiếu nại, tố cáo, hoặc có dấu hiệu vi phạm pháp luật. Đối với các Đoàn thanh tra của Bộ, ngoài làm việc với Ban Chủ nhiệm Đoàn luật sư, trước khi thanh tra cần phải làm việc với Vụ Bổ trợ Tư pháp, Sở Tư pháp, Phòng Bổ trợ tư pháp để nắm bắt thêm tình hình.

- Song song với việc thu thập thông tin, cần phải tập hợp đầy đủ và nghiên cứu kỹ các văn bản pháp luật có liên quan đến tổ chức và hoạt động của luật sư như: Luật Thanh tra, Nghị định số 74/2006/NĐ-CP, Quyết định số 2151/2006/QĐ -TTCP; Luật luật sư, Nghị định số 28/2007/NĐ-CP ngày 26/02/2007 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Luật sư, Thông tư số  02/2007/TT- BTP ngày 25/4/2007 của Bộ Tư pháp hướng dẫn một số quy định của Luật Luật sư, Nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Luật sư; Nghị định số 60/2009/NĐ-CP của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực Tư pháp; Nghị định số 11/2006/NĐ-CP ngày 18/01/2006 của Chính phủ về việc ban hành Quy chế hoạt động văn hoá và kinh doanh dịch vụ văn hoá công cộng; Nghị định Số 89/2002/ NĐ-CP ngày 07/11/2002 của Chính phủ về in, phát hành, quản lý và sử dụng hoá đơn;  Nghị định số 104/2007/NĐ-CP ngày 14/6/2007 của Chính phủ về kinh doanh dịch vụ đòi nợ...

2. Lập báo cáo khảo sát

Nghiên cứu, phân tích các thông tin đã thu thập được, lập báo cáo khảo sát theo nội dung và trình tự sau:

- Danh sách trích ngang các cá nhân, tổ chức hành nghề luật sư: có họ tên người đứng đầu tổ chức, tên tổ chức, địa chỉ, số điện thoại liên lạc

- Hoạt động, kết quả hoạt động và sự việc liên quan đến các quy định của ngành.

- Nhận định, đánh giá những vấn đề nổi cộm, khả năng và dấu hiệu vi phạm pháp luật.

- Những thuận lợi, khó khăn và tình hình thanh tra, kiểm tra, kiểm toán của các cơ quan, tổ chức đối với đối tượng thanh tra (để tránh thanh tra trùng lắp).

 - Đề xuất những nội dung cần thanh tra, trong đó nêu rõ nội dung trọng tâm, trọng điểm; những tổ chức, cơ quan, cá nhân cần đến thanh tra, xác minh.

3. Ban hành quyết định thanh tra

- Thứ nhất, ra quyết định thanh tra theo chương trình, kế hoạch: Điều 37 của Nghị định số 41/2005/NĐ-CP ngày 25/3/2005 của Chính Phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thanh tra đã quy định về quyết định thanh tra chuyên ngành theo chương trình, kế hoạch:

1. Căn cứ chương trình, kế hoạch thanh tra đã được Bộ trưởng, Giám đốc sở phê duyệt, Chánh Thanh tra bộ, Chánh Thanh tra sở ra quyết định thanh tra và thành lập Đoàn thanh tra để tiến hành thanh tra hoặc phân công Thanh tra viên chuyên ngành thực hiện nhiệm vụ thanh tra. Trường hợp cần thiết, Bộ trưởng, Giám đốc sở ra quyết định thanh tra và thành lập Đoàn thanh tra.

2. Trường hợp Chánh Thanh tra phân công nhiệm vụ cho Thanh tra viên chuyên ngành tiến hành thanh tra độc lập thì việc phân công phải bằng văn bản, trong đó nêu rõ phạm vi, nhiệm vụ, thời hạn tiến hành thanh tra.".

+ Với những quy định của pháp luật trên cho thấy chỉ trong trường hợp cần thiết thì Bộ trưởng, Giám đốc Sở mới trực tiếp ký quyết định thanh tra.

+ Chánh Thanh tra Bộ, Chánh Thanh tra Sở có thẩm quyền ra quyết định thanh tra và thành lập Đoàn thanh tra để tiến hành thanh tra hoặc phân công Thanh tra viên chuyên ngành thực hiện nhiệm vụ thanh tra theo chương trình, kế hoạch thanh tra đã được Bộ trưởng, Giám đốc Sở phê duyệt. Ví dụ tại thành phố Hà Nội: Chánh Thanh tra Sở Tư pháp thành phố Hà Nội hoặc Chánh Thanh tra Bộ Tư pháp có thẩm quyền ra quyết định thanh tra về tổ chức và hoạt động trong lĩnh vực luật sư bao gồm: Đoàn luật sư thành phố Hà Nội, phòng nghiệp vụ được Giám đốc Sở Tư pháp giao quản lý lĩnh vực luật sư, các tổ chức và cá nhân hành nghề luật sư tại thành phố Hà Nội nếu nội dung thanh tra  được Thanh tra Bộ, Thanh tra Sở Tư pháp đưa vào chương trình, kế hoạch thanh tra trong năm và đã được Bộ trưởng, Giám đốc Sở Tư pháp phê duyệt.

- Thứ hai, ra quyết định thanh tra chuyên ngành đột xuất: Khác với căn cứ và trình tự, thủ tục ban hành quyết định thanh tra chuyên ngành theo chương trình, kế hoạch, Điều 38 của Nghị định số 41/2005/NĐ-CP quy định việc tiến hành thanh tra chuyên ngành đột xuất được thực hiện như sau:

“1. Thanh tra chuyên ngành đột xuất được tiến hành khi phát hiện cơ quan, tổ chức, cá nhân có dấu hiệu vi phạm pháp luật; theo yêu cầu của việc giải quyết khiếu nại, tố cáo hoặc do Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước giao.

2. Chánh Thanh tra bộ, Chánh Thanh tra sở trình Bộ trưởng, Giám đốc sở quyết định việc thanh tra chuyên ngành đột xuất.

Chậm nhất sau 3 ngày, kể từ ngày nhận được đề nghị, Bộ trưởng, Giám đốc sở có trách nhiệm phê duyệt và thông báo cho Chánh Thanh tra bộ, Chánh Thanh tra sở.

3. Căn cứ vào quyết định phê duyệt của Bộ trưởng, Giám đốc sở, Chánh Thanh tra bộ, Chánh Thanh tra sở ra quyết định thanh tra và thành lập Đoàn thanh tra để tiến hành việc thanh tra. Trường hợp cần thiết, Bộ trưởng, Giám đốc sở ra quyết định thanh tra và thành lập Đoàn thanh tra.".

Như vậy, cũng chỉ trong trường hợp cần thiết thì Bộ trưởng, Giám đốc Sở mới trực tiếp ký quyết định thanh tra; Chánh Thanh tra Bộ, Chánh Thanh tra Sở có thẩm quyền ra quyết định thanh tra theo quyết định phê duyệt của Bộ trưởng, Giám đốc sở.

Tuy nhiên, khoản 4, Điều 38 Nghị định số 41/2005/NĐ- CP đã quy định một trường hợp đặc biệt như sau: “Trường hợp phát hiện vụ việc vi phạm pháp luật cần phải ngăn chặn kịp thời, Chánh Thanh tra Bộ, Chánh Thanh tra Sở ra quyết định thanh tra đồng thời báo cáo ngay với Bộ trưởng, Giám đốc sở.”.

Chánh Thanh tra Bộ, Chánh Thanh tra Sở báo cáo Bộ trưởng, Giám đốc Sở về kết quả khảo sát và trình Bộ trưởng, Giám đốc Sở dự thảo quyết định thanh tra để ra quyết định thanh tra; hoặc người được giao nhiệm vụ báo cáo Chánh Thanh tra Bộ và Thanh tra Sở kết quả khảo sát và trình Chánh Thanh tra Bộ, Chánh Thanh tra Sở dự thảo quyết định thanh tra để ra quyết định thanh tra.

Quyết định thanh tra theo mẫu số 01 (Ban hành kèm theo Quyết định số 1131/2008/QĐ-TTCP ngày 18/6/2008) và phải thể hiện rõ tên cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân là đối tượng thanh tra; nội dung, thời kỳ và thời hạn thanh tra; thành lập Đoàn thanh tra và các tiêu chí khác. Chúng tôi xin đưa ra đây Quyết định thanh tra chuyên ngành về lĩnh vực luật sư tại thành phố Hồ Chí Minh để chúng ta cùng tham khảo (Phụ lục 1 kèm theo).

Trong trường hợp cần trưng tập người của đơn vị, phòng ban khác vào làm thành viên Đoàn thanh tra thì Chánh Thanh tra phải có công văn đề nghị thủ trưởng đơn vị, phòng ban đó có văn bản cử người tham gia Đoàn thanh tra.

4. Kế hoạch tiến hành thanh tra

- Điểm a, khoản 1, Điều 8, Chương II của Quyết định số 2151/2006/QĐ- TTCP về Ban hành Quy chế hoạt động Đoàn thanh tra  ngày 10/11/2006 quy định: “Trưởng đoàn  thanh tra có nhiệm vụ tổ chức việc xây dựng kế hoạch tiến hành thanh tra trình Người ra quyết định thanh tra phê duyệt” .

Theo đó, sau khi có quyết định thanh tra, Trưởng Đoàn thanh tra (hoặc thanh tra viên tiến hành thanh tra độc lập) có trách nhiệm xây dựng kế hoạch tiến hành thanh tra trình người ra quyết định thanh tra phê duyệt. 

Kế hoạch tiến hành thanh tra theo mẫu số 22 (Ban hành kèm theo Quyết định số 1131/2008/QĐ-TTCP), phải gồm những nội dung cơ bản sau:

+ Mục đích, yêu cầu cuộc thanh tra;

+ Nội dung thanh tra, trong đó nêu rõ nội dung trọng tâm, trọng điểm;

+ Danh sách các cá nhân, tổ chức hành nghề luật sư được thanh tra, thời kỳ thanh tra, thời hạn thanh tra.

Lập kế hoạch chi tiết cho từng nội dung thanh tra, trong đó nêu rõ: những công việc cần triển khai, phương pháp tiến hành, nơi cần đến làm việc, thời gian triển khai, kết thúc; nhân sự Đoàn thanh tra (Trưởng Đoàn, phó Trưởng Đoàn và các thành viên), Trưởng đoàn thanh tra phân công nhiệm vụ cho tổ, nhóm (nếu có) và các thành viên Đoàn thanh tra.

Xin tham khảo Kế hoạch thanh tra chuyên ngành về lĩnh vực luật sư tại thành phố Hồ Chí Minh tại Phụ lục 3 của chuyên đề này.

5. Chuẩn bị triển khai thanh tra

Khi quyết định thanh tra được phát hành, Trưởng Đoàn thanh tra có trách nhiệm:

Khi quyết định thanh tra được phát hành, Trưởng Đoàn thanh tra có trách nhiệm:

- Họp Đoàn thanh tra, chuẩn bị các điều kiện cần thiết: Tổ chức họp Đoàn thanh tra để quán triệt kế hoạch thanh tra đã được phê duyệt, quy chế Đoàn thanh tra; bàn các biện pháp cụ thể để tổ chức thực hiện kế hoạch; giao nhiệm vụ cụ thể cho Phó Trưởng Đoàn (nếu có) và từng thành viên Đoàn thanh tra.  

- Đối với cuộc thanh tra có nhiều nội dung phức tạp hoặc cuộc thanh tra diện rộng hoặc thành phần Đoàn thanh tra có các thành viên là người của nhiều cơ quan, đơn vị tham gia, Trưởng Đoàn thanh tra hoặc người được người ra quyết định thanh tra giao nhiệm vụ, tiến hành quán triệt và tổ chức tập huấn những nội dung cần thiết, thống nhất phương pháp tiến hành. Nội dung chính của tập huấn gồm:

+ Quán triệt mục đích, yêu cầu, nội dung quyết định thanh tra và kế hoạch tiến hành cuộc thanh tra. Cần chú ý mục đích của thanh tra là phát huy và biểu dương tính tích cực, chủ động phòng ngừa, ngăn chặn và phát hiện các sai phạm và tiêu cực để uốn nắn, khắc phục kịp thời, thu thập đầy đủ các chứng cứ, tài liệu về các hành vi sai phạm của đối tượng thanh tra, báo cáo đầy đủ, trung thực, kiến nghị với người có thẩm quyền xử lý các hành vi sai phạm. Tuyệt đối tránh hiện tượng một số thành viên Đoàn Thanh tra hoặc Trưởng Đoàn thanh tra tự ý bỏ qua một số sai phạm, che chắn cho đối tượng thanh tra nhằm mục đích vụ lợi cá nhân;

+ Phổ biến chính sách, pháp luật, cơ chế quản lý các lĩnh vực liên quan đến nội dung thanh tra;

+ Tìm hiểu và phổ biến đặc điểm và tình hình hoạt động của đối tượng thanh tra;

+ Thống nhất nội quy làm việc của đoàn thanh tra.

+ Trong trường hợp cần thiết, cần có sự tham gia, hướng dẫn của các chuyên gia, thảo luận, tháo gỡ các vướng mắc nhằm tăng cường kiến thức nghiệp vụ chuyên sâu về công tác nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài.

+ Chuẩn bị đầy đủ các mẫu Biên bản làm việc, Biên bản vi phạm hành chính, Quyết định xử phạt vi phạm hành chính, quán triệt quy trình xử phạt hành chính, phương thức vận dụng các quy định hiện hành của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực luật sư.

- Thông báo bằng văn bản (bao gồm cả đề cương yêu cầu đối tượng thanh tra báo cáo), gửi quyết định thanh tra, kế hoạch thanh tra cho đối tượng thanh tra và yêu cầu đối tượng thanh tra chuẩn bị những công việc liên quan tới buổi công bố quyết định thanh tra; nội dung, biểu mẫu yêu cầu đối tượng thanh tra chuẩn bị và báo cáo Đoàn thanh tra; thành phần dự họp công bố quyết định thanh tra; thời gian, địa điểm công bố quyết định thanh tra.

Để dễ dàng thực hiện, chúng tôi xin minh họa bằng 02 Công văn của Đoàn thanh tra dưới đây:

+ Công văn gửi đồng chí Giám đốc Sở Tư pháp thành phố Hồ Chí Minh và ông Chủ nhiệm Đoàn luật sư thành phố Hồ Chí Minh (Phụ lục 3 kèm theo).

+ Công văn gửi các tổ chức hành nghề luật sư, tư vấn pháp luật (Phụ lục 4 kèm theo).

- Chuẩn bị phương tiện (ô tô), thiết bị (máy quay phim, máy ghi âm, máy ảnh kỹ thuật số để chụp được tài liệu), kinh phí và những điều kiện vật chất  cần thiết khác phục vụ cho hoạt động của Đoàn thanh tra. 

Bước 2: Tiến hành thanh tra

1. Công bố quyết định thanh tra

Chậm nhất mười lăm ngày kể từ ngày ký quyết định thanh tra, Trưởng Đoàn thanh tra có trách nhiệm công bố quyết định thanh tra với đối tượng thanh tra. 

Thành phần tham dự cuộc họp công bố Quyết định thanh tra gồm: Đoàn thanh tra, Lãnh đạo Sở Tư pháp, toàn thể công chức Phòng Bổ trợ tư pháp - Sở Tư pháp và đại diện Ban Chủ nhiệm Đoàn luật sư.

Thực hiện công bố đầy đủ nội dung quyết định thanh tra và nêu rõ mục đích, yêu cầu, cách thức làm việc, kế hoạch tiến hành thanh tra. Trưởng Đoàn thanh tra phải giải thích: việc thanh tra là do kế hoạch hay đột xuất, cơ sở pháp lý của việc tiến hành thanh tra chuyên ngành; nhiệm vụ, quyền hạn của Đoàn thanh tra, thời hạn thanh tra, địa điểm và phương pháp làm việc của Đoàn thanh tra, quyền và trách nhiệm của đối tượng thanh tra.

Yêu cầu đối tượng thanh tra báo cáo Đoàn thanh tra những nội dung mà Trưởng Đoàn thanh tra đã thông báo và những nội dung khác Đoàn thanh tra thấy cần thiết.

Lập biên bản cuộc họp công bố quyết định thanh tra. Biên bản được ký giữa Trưởng Đoàn thanh tra và đại diện cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân là đối tượng thanh tra.

2. Thực hiện thanh tra

Thực hiện thanh tra là quá trình sử dụng các phương pháp thanh tra, phát hiện, làm rõ các vấn đề, sự việc để kết luận chính xác, trung thực, khách quan. Khi bắt đầu làm việc với người đứng đầu tổ chức luật sư, Trưởng Đoàn thanh tra cần giải thích rõ cho họ biết được các cơ sở pháp lý, quyền, nghĩa vụ của người đứng đầu tổ chức luật sư, cơ sở pháp lý của việc xem xét các hợp đồng dịch vụ pháp lý để họ có nhận thức đầy đủ, đúng đắn về quản lý nhà nước đối với luật sư, từ đó  yên tâm và có thiện chí làm việc với Đoàn thanh tra. Sau đó, Đoàn thanh tra tiến hành theo các bước sau:

2.1. Thu thập thông tin

2.1.1. Yêu cầu đối tượng thanh tra cung cấp tài liệu liên quan đến nội dung thanh tra. Tài liệu gồm: Báo cáo bằng văn bản theo yêu cầu của Đoàn thanh tra, báo cáo quyết toán, các báo cáo thu, chi tài chính, báo cáo tình hình sử dụng hoá đơn, sổ sách kế toán gồm sổ theo dõi các tài khoản 111, 311, 511, biểu mẫu, chứng từ kế toán và tài liệu liên quan; báo cáo tổng kết, phân tích đánh giá, kết luận của các cơ quan đã kiểm tra, các báo cáo thống kê, tổng hợp về công tác nghiệp vụ, và tài liệu khác có liên quan.

- Yêu cầu đối tượng thanh tra cung cấp chứng chỉ hành nghề luật sư, thẻ luật sư, Giấy đăng ký hoạt động của tổ chức hành nghề luật sư, các báo cáo định kỳ theo yêu cầu của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền, các văn bản thông báo cho Sở Tư pháp và Đoàn luật sư về việc thay đổi (nếu có) trụ sở, tên gọi, thành viên, lĩnh vực hoạt động, thông báo thành lập chi nhánh, văn phòng giao dịch.

2.1.2. Tiếp nhận hồ sơ, tài liệu và báo cáo do đối tượng thanh tra cung cấp. Đoàn thanh tra có trách nhiệm kiểm đếm, bảo quản, khai thác, sử dụng tài liệu đúng mục đích, không để thất lạc tài liệu.

2.1.3. Trường hợp cần giữ nguyên trạng tài liệu, Trưởng Đoàn thanh tra ra quyết định niêm phong một phần hoặc toàn bộ tài liệu có liên quan tới nội dung thanh tra. Việc niêm phong, mở niêm phong khai thác tài liệu hoặc huỷ bỏ niêm phong thực hiện theo đúng quy định của pháp luật.

2.2. Nghiên cứu tại chỗ, phân tích, xem xét, xử lý thông tin và số liệu để phát hiện những vấn đề có mâu thuẫn; nhận định những việc làm đúng, những sai phạm, những sơ hở, bất cập của cơ chế, chính sách, chế độ; làm rõ bản chất, nguyên nhân và trách nhiệm của tổ chức, cá nhân đối với từng sai phạm

- Phân tích các báo cáo, tài liệu thu thập được để nhận diện vấn đề, sự việc.

- Đối chiếu số liệu giữa sổ tổng hợp với báo cáo; đối chiếu số liệu giữa sổ chi tiết với sổ tổng hợp; đối chiếu giữa chứng từ kế toán với việc phản ánh trên sổ kế toán.

- Kiểm tra, xác định tính hợp pháp, hợp lý của chứng từ kế toán và các tài liệu có liên quan. Xác định sự phù hợp về trình tự thủ tục của chứng từ kế toán để tìm ra số liệu tổng doanh thu dịch vụ pháp lý.

-  Kiểm tra, xác định tính trung thực của chứng từ, tài liệu:

Xem xét, đối chiếu số lượng hoá đơn, chứng từ kế toán với số lượng hợp đồng dịch vụ pháp lý để phát hiện số tiền thu không có hợp đồng dịch vụ pháp lý bằng văn bản theo quy định tại Điều 26 của Luật luật sư (hoặc có  thể đối  tượng thanh tra có hợp đồng dịch vụ pháp lý nhưng lại giấu đi vì  nhiều  lý do khác nhau).

- Trong quá trình thanh tra phát hiện có dấu hiệu sửa chữa, làm giả  hoặc không có đầy đủ các giấy phép hoạt động, chứng chỉ hành nghề luật sư, thẻ luật sư thì Trưởng Đoàn thanh tra ra quyết định niêm phong, tạm giữ, tạm đình chỉ hành vi sai trái hoặc báo người có thẩm quyền quyết định. Việc kiểm kê, niêm phong, tạm giữ, tạm đình chỉ thực hiện theo đúng quy định của pháp luật.

2.3. Ký bản xác nhận hoặc biên bản làm việc về tình hình, số liệu theo từng nội dung, sự việc dự kiến kết luận với đối tượng thanh tra

2.4. Đối chiếu tình hình, số liệu đã ký xác nhận, đã thu thập được, các hành vi vi phạm theo quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực này

2.5. Củng cố chứng cứ, cơ sở pháp lý để kết luận đúng, sai, nguyên nhân sai phạm và trách nhiệm của tập thể, cá nhân đối với từng sai phạm

- Yêu cầu giải trình: đối với những sự việc, tài liệu phản ánh chưa rõ, chưa đủ cơ sở kết luận, Đoàn thanh tra chuẩn bị chi tiết nội dung yêu cầu đối tượng thanh tra giải trình bằng văn bản (có chữ ký của người giải trình).

- Đối thoại, chất vấn: trường hợp giải trình của đối tượng chưa rõ, tiến hành tổ chức đối thoại, chất vấn đối tượng thanh tra để làm rõ thêm đúng, sai về nội dung và trách nhiệm của tập thể, cá nhân.

Người tổ chức đối thoại, chất vấn phải chuẩn bị chi tiết nội dung đối thoại, câu hỏi chất vấn; câu hỏi có trọng tâm, trọng điểm để đối tượng trả lời. Người tiến hành đối thoại, chất vấn phải chủ động, tập trung vào nội dung chủ định, không đi vào nội dung, sự việc không liên quan.

Kết thúc đối thoại, chất vấn lập biên bản, ghi đầy đủ, chính xác những sự việc hai bên đã trao đổi; trường hợp cần thiết thì ghi âm lại toàn bộ cuộc đối thoại, chất vấn.

- Thẩm tra, xác minh: những chứng cứ và giải trình của đối tượng thanh tra chưa rõ, thành viên Đoàn thanh tra kịp thời báo cáo Trưởng Đoàn để thẩm tra, xác minh.

Trước khi thực hiện thẩm tra, xác minh phải lập kế hoạch. Kết quả việc thẩm tra, xác minh được lập biên bản kèm theo đầy đủ tài liệu chứng minh.

- Làm việc với cơ quan quản lý có liên quan: làm việc với cơ quan chủ quản về những sự việc liên quan đến chỉ đạo, quyết định của cấp trên, những sự việc dự kiến kết luận mà pháp luật chưa quy định hoặc quy định chưa rõ.

- Làm việc với cơ quan toà án địa phương (nếu các tỉnh phía Bắc thì phải làm việc với toà án tp Hà Nội, nếu các tỉnh phía nam thì phải làm việc với TAND tp Hồ Chí Minh) để có danh sách các vụ án có tên Luật sư tham gia tranh tụng. Từ đó xác định số lượng vụ việc phải ký kết hợp đồng dịch vụ pháp lý. Nếu luật sư nào tham gia tố tụng mà không đưa ra cho đoàn Thanh tra xem xét hợp đồng dịch vụ pháp lý thì có thể xử lý theo hành vi cung cấp dịch vụ pháp lý mà không ký hợp đồng dịch vụ pháp lý…

Kết thúc làm việc phải lập biên bản, trường hợp không đến làm việc trực tiếp thì có yêu cầu bằng văn bản.

- Làm việc với người có liên quan: trường hợp có người phản ánh sự việc liên quan đến nội dung thanh tra, Trưởng Đoàn thanh tra nghiên cứu, đề xuất, báo cáo người ra quyết định thanh tra có kế hoạch nghe ý kiến phản ánh của người có liên quan và phải được ghi chép đầy đủ.

2.6. Trưng cầu giám định

Đối với những vấn đề về chuyên môn, kỹ thuật của các lĩnh vực khác nhau nhưng Đoàn thanh tra không đủ khả năng kết luận về chuyên môn, kỹ thuật đó thì Trưởng Đoàn thanh tra báo cáo người ra quyết định thanh tra quyết định trưng cầu giám định. Việc trưng cầu giám định thực hiện theo quy định của pháp luật.

2.7. Hoàn thiện số liệu, chứng cứ

Sau khi làm rõ nguyên nhân đúng, sai, tiến hành rà soát, hoàn thiện hồ sơ chứng lý, thu thập bổ sung tài liệu, chứng cứ và ký kết với đối tượng thanh tra các biên bản làm việc hoặc bản xác nhận số liệu còn thiếu.

2.8. Xử phạt vi phạm hành chính

Trong quá trình thanh tra, phát hiện vi phạm hành chính phải xử phạt theo quy định của pháp luật, thì thanh tra viên hoặc Trưởng Đoàn thanh tra lập biên bản vi phạm hành chính, ra quyết định xử phạt hành chính hoặc chuyển đến người có thẩm quyền xử phạt theo quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính.

Cơ sở pháp lý để xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động hành nghề luật sư là Điều 21 và Điều 22 của Nghị định số 76/2006/NĐ-CP. Tuy nhiên, hiện nay, do Nghị định số 76/2006/NĐ-CP có nhiều bất cập, nhiều hành vi vi phạm chưa được quy định nên đang chuẩn bị được thay thế bằng một Nghị định mới, trong đó chế định này quy định tăng thêm khá nhiều các hành vi vi phạm và được tách làm 04 Điều, bao gồm: nhóm hành vi vi phạm về hồ sơ cấp Chứng chỉ hành nghề luạt sư; nhóm hành vi vi phạm quy định trong hoạt động hành nghề của luật sư; nhóm hành vi vi phạm quy định về tổ chức hoạt động của tổ chức hành nghề luật sư và nhóm hành vi vi phạm quy định về quản lý nhà nước của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư. Đồng thời, mức phạt chính, hình thức xử phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả.

3. Bàn giao hồ sơ, tài liệu

Ngay sau khi kết thúc công việc, người được giao nhiệm vụ có trách nhiệm:

- Bàn giao các biên bản làm việc, bản xác nhận số liệu và toàn bộ chứng cứ thu thập được cho Trưởng Đoàn thanh tra; tài liệu được lập thành danh mục, đánh số thứ tự.

Lập báo cáo tóm tắt sự việc, đề xuất kết luận và kiến nghị xử lý, nêu rõ căn cứ của đề xuất.

- Giao trả hồ sơ tài liệu không cần giữ cho đối tượng thanh tra; việc giao trả được lập thành biên bản .

4. Lập biên bản thanh tra

Trưởng Đoàn thanh tra lập biên bản thanh tra với người đứng đầu tổ chức được thanh tra. Biên bản thanh tra nêu rõ kết quả từng nội dung thanh tra; nguyên nhân, chứng cứ để kết luận.

5. Gia hạn thanh tra

Trường hợp cần thiết phải tăng thêm thời hạn thanh tra, Trưởng Đoàn thanh tra báo cáo người ra quyết định thanh tra quyết định gia hạn và chỉ tiến hành khi quyết định được ban hành.

6. Thực hiện chế độ thông tin, báo cáo trong quá trình thanh tra

6.1. Báo cáo của thành viên Đoàn thanh tra

Trong quá trình thanh tra, các thành viên, tổ trưởng, nhóm trưởng (nếu có) có trách nhiệm thường xuyên báo cáo Trưởng Đoàn về tình hình, kết quả công việc được phân công và những vấn đề cần xin ý kiến chỉ đạo.

6.2. Báo cáo của Trưởng Đoàn thanh tra

- Định kỳ hằng tuần, Trưởng Đoàn thanh tra có trách nhiệm báo cáo tình hình, kết quả thanh tra cho thủ trưởng cơ quan thanh tra và người ra quyết định thanh tra. Báo cáo những thuận lợi, khó khăn, những nơi đã và đang làm việc, nội dung thanh tra, kết quả thanh tra, những vấn đề cần phải xin ý kiến chỉ đạo và kế hoạch tuần tiếp theo.

- Trường hợp phát sinh những vấn đề khó khăn, vướng mắc vượt khả năng và thẩm quyền của Trưởng Đoàn thì Trưởng Đoàn có trách nhiệm báo cáo kịp thời người ra quyết định và thủ trưởng cơ quan thanh tra cùng cấp xin ý kiến chỉ đạo. 

Bước 3: Kết thúc thanh tra

1. Thực hiện thời hạn thanh tra

Trưởng Đoàn thanh tra tổ chức thanh tra đảm bảo kết thúc thanh tra tại đơn vị theo đúng thời hạn quy định trong quyết định thanh tra và quyết định gia hạn (nếu có).

2. Báo cáo kết quả thanh tra và dự thảo kết luận thanh tra

Chậm nhất mười lăm ngày kể từ ngày kết thúc thanh tra tại đơn vị, Trưởng Đoàn thanh tra phải có báo cáo kết quả thanh tra và dự thảo kết luận thanh tra gửi người ra quyết định thanh tra.

Trong quá trình lập báo cáo và dự thảo kết luận thanh tra, nếu có những vấn đề còn vướng mắc về xử lý, Trưởng Đoàn chủ động trao đổi, tham khảo ý kiến của các cơ quan có liên quan để đảm bảo cho việc kết luận được chính xác, khách quan.

Báo cáo kết quả thanh tra (do Trưởng Đoàn ký) phản ánh đầy đủ kết quả những nội dung công việc đã thanh tra; những nội dung chưa tiến hành hoặc tiến hành ngoài quyết định và kế hoạch thanh tra được duyệt, nguyên nhân; những ý kiến không thống nhất của đối tượng thanh tra hoặc của thành viên Đoàn thanh tra; những đề xuất về chính sách, chế độ và quản lý. Mỗi nội dung kết luận phải nêu rõ sự việc, căn cứ đúng, sai, nguyên nhân, trách nhiệm, hình thức xử lý, thời hạn chấp hành.

Dự thảo kết luận thanh tra chỉ phản ánh nội dung kết luận và kiến nghị xử lý. Mỗi nội dung kết luận phải nêu rõ sự việc, căn cứ đúng, sai, nguyên nhân, trách nhiệm, hình thức xử lý, thời hạn chấp hành.

Báo cáo kết quả thanh tra và dự thảo kết luận thanh tra trình người ra kết luận thanh tra phải có đầy đủ ý kiến tham gia bằng văn bản của các thành viên trong Đoàn thanh tra. Ý kiến tham gia phải khẳng định có đồng ý hay không đồng ý với báo cáo, dự thảo kết luận của Trưởng Đoàn về nội dung công việc của bản thân mình trực tiếp làm và các nội dung do người khác thực hiện; trường hợp không đồng ý thì phải nêu rõ nguyên nhân, chứng lý.

3. Kết luận và lưu hành kết luận thanh tra

Chậm nhất mười lăm ngày kể từ ngày nhận được báo cáo kết quả thanh tra, người ra quyết định thanh tra xem xét nội dung báo cáo và ra kết luận thanh tra.

Trước khi trình người ra kết luận, bộ phận hoặc người được giao nhiệm vụ tiến hành rà soát dự thảo kết luận, tham mưu giúp người ra kết luận quyết định.

Trong quá trình ra kết luận thanh tra, người ra quyết định thanh tra yêu cầu Trưởng Đoàn thanh tra, thành viên Đoàn thanh tra hoặc đối tượng thanh tra giải trình để làm rõ thêm những vấn đề mà báo cáo của Trưởng Đoàn chưa rõ. Trường hợp cần thiết, người ra quyết định thanh tra yêu cầu tiến hành thanh tra bổ sung để có đủ căn cứ kết luận.

Trước khi ra kết luận người kết luận thanh tra có thể tổ chức làm việc với đối tượng thanh tra về dự thảo kết luận thanh tra hoặc gửi dự thảo kết luận thanh tra yêu cầu đối tượng thanh tra trả lời bằng văn bản, nêu rõ những nội dung chưa thống nhất, nguyên nhân và chứng cứ.

Khi có kết luận chính thức, người ra kết luận thanh tra tổ chức công bố hoặc gửi kết luận thanh tra cho đối tượng thanh tra.

Người ra kết luận thanh tra có thể uỷ quyền tổ chức làm việc với đối tượng thanh tra về dự thảo kết luận thanh tra hoặc công bố kết luận thanh tra.

Kết thúc làm việc về dự thảo kết luận hoặc công bố kết luận thanh tra phải lập biên bản ghi ý kiến hai bên. 

Việc gửi kết luận thanh tra thực hiện theo quy định tại Điều 43 Luật Thanh tra và Điều 35 Nghị định số 41/2005/NĐ-CP ngày 25/3/2005 của Chính phủ. Đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến việc xử lý sau thanh tra hoặc có trách nhiệm thực hiện kết luận thanh tra, thấy không cần thiết gửi toàn bộ kết luận thì trích nội dung kết luận có liên quan hoặc có văn bản đối với từng sự việc gửi tới cơ quan, tổ chức, cá nhân đó.

4. Bàn giao, lưu trữ hồ sơ thanh tra

 Sau khi lưu hành kết luận thanh tra, trong thời hạn hai ngày làm việc, Trưởng Đoàn có trách nhiệm bàn giao hồ sơ cuộc thanh tra cho những bộ phận, người được giao nhiệm vụ theo quy định của pháp luật.

Việc bàn giao hồ sơ, tài liệu phải được lập thành biên bản, lưu cùng hồ sơ cuộc thanh tra.

5. Họp rút kinh nghiệm Đoàn thanh tra

Trưởng Đoàn có trách nhiệm triệu tập các thành viên trong đoàn họp rút kinh nghiệm, đánh giá những ưu, nhược điểm trong quá trình điều hành, quá trình thanh tra của từng người, rút ra những bài học kinh nghiệm, kiến nghị khen thưởng người làm tốt và xử lý những cán bộ có sai phạm (nếu có).

Cuộc họp rút kinh nghiệm được thực hiện ngay sau khi lưu hành kết luận thanh tra và lập thành biên bản lưu hồ sơ thanh tra. 

III. Các hành vi vi phạm phát hiện qua thanh tra 

1. Hành vi vi phạm quy định về hồ sơ đề nghị cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư, Giấy đăng ký hành nghề luật sư với tư cách cá nhân, Giấy phép hành nghề tại Việt Nam của luật sư nước ngoài 

1.1. Tự ý sửa chữa, tẩy xoá hoặc có hành vi khác làm sai lệch nội dung các giấy tờ trong hồ sơ đề nghị cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư, Giấy đăng ký hành nghề luật sư với tư cách cá nhân, Giấy phép hành nghề tại Việt Nam của luật sư nước ngoài;

1.2. Tự ý sửa chữa, tẩy xoá hoặc có hành vi khác làm sai lệch nội dung Chứng chỉ hành nghề luật sư, Giấy đăng ký hành nghề luật sư với tư cách cá nhân, Giấy phép hành nghề tại Việt Nam của luật sư nước ngoài.

1.3 Hành vi làm giả hoặc sử dụng các giấy tờ giả mạo trong hồ sơ đề nghị cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư, Giấy đăng ký hành nghề luật sư với tư cách cá nhân, Giấy phép hành nghề tại Việt Nam của luật sư nước ngoài.

2. Hành vi vi phạm quy định trong hoạt động hành nghề của luật sư

2.1. Không thông báo cho khách hàng về quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm nghề nghiệp của mình trong việc thực hiện dịch vụ pháp lý cho khách hàng;

2.2. Không thông báo bằng văn bản cho cơ quan có thẩm quyền, Đoàn luật sư về việc được cấp Giấy đăng ký hành nghề luật sư với tư cách cá nhân; thay đổi nội dung đăng ký hành nghề luật sư;

2.3. Luật sư hành nghề với tư cách cá nhân không thực hiện chế độ báo cáo theo đúng quy định về tình hình tổ chức hoạt động; không lập, quản lý, sử dụng các loại sổ sách, biểu mẫu theo quy định.

2,4. Luật sư hành nghề với tư cách cá nhân hoạt động không theo đúng lĩnh vực hành nghề ghi trong Giấy đăng ký hành nghề luật sư;

2.5. Đồng thời thành lập hoặc tham gia thành lập hai hay nhiều tổ chức hành nghề luật sư;

2.6. Cho người khác sử dụng Chứng chỉ hành nghề luật sư, Giấy đăng ký hành nghề luật sư với tư cách cá nhân hoặc Giấy phép hành nghề tại Việt Nam của luật sư nước ngoài để hành nghề luật sư;

2.7. Sử dụng Chứng chỉ hành nghề luật sư; Giấy đăng ký hành nghề luật sư với tư cách cá nhân hoặc Giấy phép hành nghề tại Việt Nam của luật sư nước ngoài không phải của mình để hành nghề luật sư;

2.8. Chuyển giao vụ việc mà mình đã nhận cho luật sư khác làm thay khi chưa được sự đồng ý của khách hàng, trừ trường hợp bất khả kháng.

2.9. Thực hiện dịch vụ pháp lý mà không ký kết hợp đồng bằng văn bản hoặc có ký kết hợp đồng nhưng nội dung không đúng quy định;

2.10. Sách nhiễu, lừa dối, ép buộc khách hàng đưa thêm tiền hoặc lợi ích vật chất khác ngoài khoản thù lao và chi phí đã thỏa thuận trong hợp đồng dịch vụ pháp lý;

2.11. Từ chối thực hiện trợ giúp pháp lý miễn phí theo quy định của pháp luật khi được yêu cầu;

2.12. Tự ý sửa chữa, tẩy xoá hoặc có hành vi khác làm sai lệch nội dung Giấy chứng nhận tham gia tố tụng, Giấy phép hành nghề tại Việt Nam của luật sư nước ngoài, Giấy phép hành nghề luật sư với tư cách cá nhân;

2.13. Làm giả Giấy chứng nhận tham gia tố tụng, Giấy phép hành nghề tại Việt Nam của luật sư nước ngoài, Giấy phép hành nghề luật sư với tư cách cá nhân;

2.14. Luật sư hành nghề với tư cách cá nhân không đăng ký hành nghề tại cơ quan có thẩm quyền; không mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp theo quy định của pháp luật về kinh doanh bảo hiểm;

2.15. Luật sư hành nghề khi chưa được cấp Giấy đăng ký hành nghề luật sư với tư cách cá nhân hoặc Giấy phép hành nghề tại Việt Nam của luật sư nước ngoài;

2.16. Hoạt động không theo đúng lĩnh vực hành nghề ghi trong Giấy đăng ký hành nghề luật sư với tư cách cá nhân.

2.17. Cung cấp dịch vụ pháp lý cho khách hàng có quyền lợi đối lập nhau trong cùng một vụ, việc;

2.18. Cố ý cung cấp tài liệu, vật chứng giả, sai sự thật;

2.19. Xúi giục khách hàng khai sai sự thật hoặc xúi giục khách hàng khiếu nại, tố cáo, khiếu kiện trái pháp luật;

2.20. Tiết lộ thông tin về vụ, việc, về khách hàng mà mình biết được trong khi hành nghề, trừ trường hợp được khách hàng đồng ý bằng văn bản hoặc pháp luật có quy định khác;

2.21. Móc nối, quan hệ với người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng, cán bộ, công chức khác để làm trái quy định của pháp luật trong việc giải quyết vụ, việc;

2.22. Lợi dụng việc hành nghề luật sư, danh nghĩa luật sư để gây ảnh hưởng xấu đến an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân;

2.23. Luật sư nước ngoài hoạt động không theo đúng hình thức hành nghề của luật sư nước ngoài đã được quy định;

2.24. Luật sư nước ngoài tư vấn pháp luật Việt Nam khi chưa có bằng cử nhân luật của Việt Nam và chưa đáp ứng đầy đủ các yêu cầu tương tự như đối với một luật sư Việt Nam;

2.25. Luật sư nước ngoài tham gia tố tụng với tư cách là người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự, người đại diện, người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự trước cơ quan tiến hành tố tụng của Việt Nam;

2.26. Luật sư nước ngoài hành nghề tại Việt Nam khi Giấy phép hành nghề tại Việt Nam của luật sư nước ngoài đã hết hạn;

2.27. Không đủ điều kiện hành nghề luật sư theo quy định của pháp luật mà hành nghề luật sư dưới bất kỳ hình thức nào.

3. Hành vi vi phạm quy định về hoạt động của tổ chức hành nghề luật sư 

3.1. Không thông báo bằng văn bản hoặc thông báo không đúng thời hạn cho cơ quan có thẩm quyền, Đoàn luật sư về việc đặt cơ sở hành nghề luật sư ở nước ngoài; chấm dứt hoạt động của cơ sở hành nghề luật sư ở nước ngoài;

3.2. Đăng ký thay đổi nội dung đăng ký hoạt động với cơ quan có thẩm quyền không theo đúng thời hạn quy định;

3.3. Không thông báo bằng văn bản hoặc thông báo không đúng thời hạn cho cơ quan có thẩm quyền, Đoàn luật sư sau khi được cấp Giấy đăng ký hoạt động của tổ chức hành nghề luật sư; tạm ngừng và tiếp tục hoạt động của tổ chức hành nghề luật sư; chấm dứt hoạt động của tổ chức hành nghề luật sư; Giấy đăng ký hoạt động Chi nhánh của tổ chức hành nghề luật sư; việc thay đổi nội dung đăng ký hoạt động của tổ chức hành nghề luật sư; thay đổi nội dung đăng ký hoạt động của Chi nhánh; địa chỉ của Văn phòng giao dịch;

3.4. Không thực hiện chế độ báo cáo theo đúng quy định về tình hình tổ chức hoạt động; không lập, quản lý, sử dụng các loại sổ sách, biểu mẫu theo quy định;

3.5. Không công bố hoặc công bố không đúng nội dung, thời hạn, số lần, hình thức công bố theo quy định đối với nội dung đăng ký hoạt động, nội dung thay đổi hoạt động của tổ chức hành nghề luật sư;

3.6. Tự ý sửa chữa, tẩy xoá hoặc có hành vi khác làm sai lệch nội dung Giấy đăng ký hoạt động của tổ chức hành nghề luật sư, Giấy đăng ký hoạt động Chi nhánh của tổ chức hành nghề luật sư.

3.7.  Làm giả hoặc sử dụng các giấy tờ giả mạo trong hồ sơ đề nghị đăng ký hoạt động, hồ sơ đề nghị đăng ký thay đổi nội dung hoạt động của tổ chức hành nghề luật sư, Chi nhánh của tổ chức hành nghề luật sư; hồ sơ đề nghị cấp Giấy phép thành lập chi nhánh, Công ty luật nước ngoài tại Việt Nam; Giấy phép thành lập chi nhánh của Công ty luật nước ngoài tại Việt Nam;

3.8. Cho người không phải là luật sư thực hiện hoạt động hành nghề dưới danh nghĩa tổ chức hành nghề luật sư của mình;

3.9. Hoạt động không theo đúng lĩnh vực hành nghề ghi trong Giấy đăng ký hoạt động của tổ chức hành nghề luật sư, Giấy phép thành lập của Chi nhánh, Công ty luật nước ngoài tại Việt Nam hoặc hoạt động không đúng trụ sở đã đăng ký; không có biển hiệu hoặc sử dụng biển hiệu trái với quy định của pháp luật;

3.10. Văn phòng giao dịch của tổ chức hành nghề luật sư thực hiện việc cung cấp dịch vụ pháp lý;

3.11. Không cử luật sư của tổ chức mình tham gia tố tụng theo phân công của Đoàn luật sư;

3.12. Không cho phép hoặc không tạo điều kiện cho luật sư của tổ chức mình thực hiện trợ giúp pháp lý miễn phí;

3.13. Không mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cho luật sư của tổ chức mình theo quy định của pháp luật về kinh doanh bảo hiểm.

3.14. Thu thù lao luật sư không đúng theo quy định của pháp luật hoặc hợp đồng dịch vụ pháp lý đã được ký kết;

3.15. Cho cá nhân, tổ chức khác sử dụng Giấy đăng ký hoạt động, Giấy phép thành lập, Giấy đăng ký hoạt động của Chi nhánh, Công ty luật nước ngoài tại Việt Nam để hành nghề luật sư;

3.16. Để cá nhân, tổ chức khác thực hiện dịch vụ pháp lý tại Văn phòng giao dịch của mình;

3.17. Thay đổi nội dung hoạt động của tổ chức hành nghề luật sư; Chi nhánh, Công ty luật nước ngoài khi chưa được cấp lại Giấy đăng ký hoạt động theo quy định;

3.18. Chi nhánh, Công ty luật nước ngoài hành nghề tại Việt Nam cử luật sư nước ngoài tham gia tố tụng với tư cách là người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự, người đại diện, người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự trước cơ quan tiến hành tố tụng của Việt Nam.

3.19.  Không đủ điều kiện hành nghề luật sư theo quy định của pháp luật mà hành nghề luật sư dưới bất kỳ hình thức nào;

3.20. Không đăng ký hoạt động với cơ quan có thẩm quyền về hoạt động của tổ chức hành nghề luật sư; Chi nhánh của tổ chức hành nghề luật sư; Chi nhánh, Công ty luật nước ngoài; Chi nhánh của Công ty luật nước ngoài tại Việt Nam;

3.21. Hoạt động khi chưa được cấp Giấy đăng ký hoạt động;

3.22. Lợi dụng việc hành nghề luật sư để gây ảnh hưởng xấu đến an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.

4.           Hành vi vi phạm quy định về quản lý nhà nước của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư

4.1. Không báo cáo cơ quan có thẩm quyền về Đề án tổ chức Đại hội nhiệm kỳ, phương án xây dựng Ban Chủ nhiệm, Hội đồng khen thưởng, kỷ luật nhiệm kỳ mới trước khi tổ chức Đại hội nhiệm kỳ;

4.2. Không gửi cơ quan có thẩm quyền về báo cáo kết quả Đại hội nhiệm kỳ, các giấy tờ khác theo quy định và báo cáo kết quả Đại hội để bãi nhiệm và bầu mới hoặc bầu thay thế Chủ nhiệm, bầu bổ sung ủy viên Ban Chủ nhiệm, Hội đồng khen thưởng, kỷ luật để trình cơ quan có thẩm quyền phê chuẩn kết quả Đại hội theo thẩm quyền;

4.3. Không thực hiện báo cáo năm về tình hình tổ chức, hoạt động của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư cho cơ quan có thẩm quyền, tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư;

4.4. Không phân công tổ chức hành nghề luật sư cử luật sư hoặc trực tiếp cử luật sư hành nghề với tư cách cá nhân tham gia tố tụng theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng;

4.5. Không gửi quy định, quyết định, nghị quyết được thông qua của tổ chức xã hội- nghề nghiệp của luật sư cho cơ quan có thẩm quyền, tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư;

4.6. Không gửi cơ quan có thẩm quyền hồ sơ đề nghị phê duyệt điều lệ theo quy định;

4.7. Tự ý sửa chữa, tẩy xoá hoặc có hành vi khác làm sai lệch nội dung giấy tờ trong hồ sơ đề nghị phê duyệt điều lệ, hồ sơ đề nghị phê chuẩn kết quả Đại hội;

4.8. Làm giả hoặc sử dụng các giấy tờ giả mạo trong hồ sơ đề nghị phê duyệt điều lệ, hồ sơ đề nghị phê chuẩn kết quả Đại hội;

4.9. Lợi dụng danh nghĩa của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư để gây ảnh hưởng xấu đến an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.

Hoàng Quốc Hùng - Thanh tra Bộ Tư pháp

Nguồn :http://moj.gov.vn/

(MKLAW FIRM: Bài viết được đăng tải nhằm mục đích giáo dục, phổ biến, tuyên truyền pháp luật và chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước không nhằm mục đích thương mại. Thông tin nêu trên chỉ có giá trị tham khảo và có thể một số thông tin pháp lý đã hết hiệu lực tại thời điểm  hiện tại vì vậy Quý khách khi đọc thông tin này cần tham khảo ý kiến luật sư, chuyên gia tư vấn trước khi áp dụng vào thực tế.)