Khái quát về vấn nạn tham nhũng ở Việt Nam hiện nay

Như nhiều quốc gia đang phát triển khác, Việt Nam cũng đang phải đối mặt với nhiều vấn đề phát triển, trong đó có vấn nạn tham nhũng. Ở các nước đang phát triển nói chung, Việt Nam nói riêng, tham nhũng thường bắt nguồn từ những căn nguyên:

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi:  1900 6162

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi:  1900 6162

Thứ nhất, những thiếu hụt hoặc bất cập từ sự chưa hoàn thiện của thể chế mà tập trung chủ yếu là cơ chế chính sách và pháp luật.

Đã hơn 20 năm Việt Nam tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, kết quả đạt được thật đáng khích lệ, song những vấn đề còn tồn đọng cũng đáng kể, nổi bật đó là những thiếu hụt, bất cập về cơ chế, chính sách và hệ thống pháp luật. Về cơ bản, những thể chế này đã được hình thành và đang có những tác động nhiều chiều đến sự phát triển của quốc gia, nhưng vẫn thiếu, chậm, chưa đồng bộ, thiếu nhất quán và một số mặt chưa phù hợp, đã gây cản trở sự phát triển.

Thiếu hụt, bất cập của cơ chế, chính sách thông thường và phổ biến là tạo ra những “lỗ hổng” để các dạng thao túng kinh tế, thao túng chính trị hoành hành, ví như sự thiếu rõ ràng, chặt chẽ trong tổ chức, quản lý, giám sát việc thu thuế hay các hoạt động cấp phép như cấp các giấy phép nhập khẩu hay xuất khẩu, quy hoạch lại đất đai, thu các khoản phí và lệ phí… Chính những “khe hở” của cơ chế, chính sách ban hành đã tạo những cơ hội khác nhau cho các dạng tham nhũng hoặc dưới dạng tham nhũng kinh tế, hoặc tham nhũng về quyền lực, nhưng tựu chung đều hướng đến việc làm lợi cho một hay một số cá nhân có thế lực.

Thứ hai, năng lực quản lý và điều hành xã hội của bộ máy công quyền hạn chế

Thông thường ở những quốc gia đang phát triển và Việt Nam không phải là ngoại lệ, bộ máy công quyền nói chung, Chính phủ nói riêng thường phải đối mặt với quá nhiều vấn đề, trong khi năng lực, kinh nghiệm tổ chức, quản lý và điều hành xã hội là rất hạn chế so với yêu cầu. Điều đó, một mặt thể hiện ở việc tạo lập những cơ chế, chính sách và các thiết chế xã hội thiếu tính khả thi hoặc không bao quát và hiệu quả thấp, mặt khác, vừa do tính khả thi yếu của các thể chế, vừa do khả năng điều hành, tổ chức thực thi kém hiệu quả dẫn đến tình trạng bộ máy công quyền không thể kiểm soát hoặc kiểm soát rất hạn chế các “hoạt động” xã hội cũng như kiểm soát chính hoạt động của bộ máy. Vì thế, những yếu kém của thể chế kinh tế – xã hội có điều kiện bộc phát, từ đó dẫn đến những tiền đề cho các vấn nạn xã hội, trong đó có vấn nạn tham nhũng.

Thứ ba, yếu tố công khai, minh bạch chưa được nhận thức đầy đủ và sử dụng hợp lý trong các hoạt động, ứng xử xã hội

Khi bàn đến chống tham nhũng, người ta thường cho rằng “công khai, minh bạch” là tiền đề quan trọng trong phòng, chống tham nhũng. Thực tế cũng đã chứng tỏ rằng, ở đâu tính công khai, minh bạch được đề cao, thì ở đó ít có những “vấn đề” tiêu cực phát sinh. Có thể luận giải điều này ở các giác độ khác nhau, nhưng tựu chung có thể khái quát như sau: vì công khai buộc người ta phải làm nó ở mức độ trung thực cao nhất có thể, và vì công khai mà những thông tin không những được minh bạch hơn mà còn buộc chủ thể của hành động phải tự giác kiểm soát và điều chỉnh hành vi của mình theo hướng tích cực hơn. Vì lẽ đó, công khai, minh bạch thường được đề cập đến trong các cuộc chiến chống tham nhũng như là những biện pháp hữu hiệu.

Tuy nhiên, trong những thiết chế xã hội còn ẩn chứa nhiều những nhân tố “quá độ” và những “bước chuyển đổi” thì sự công khai, minh bạch thường bị hạn chế rất nhiều. Và vì vậy, ở những nơi đó thường lại là “mảnh đất mầu mỡ” nuôi dưỡng sự thiếu minh bạch, sự biến hoá không tích cực trong các hành động, ứng xử xã hội. Đồng thời, do điều kiện nhận thức xã hội còn ở mức thấp, thiết chế xã hội chưa hoàn thiện, hiệu lực của các quy phạm pháp luật còn thấp, dẫn đến hiện trạng yếu tố “công khai, minh bạch” trong thực thi xã hội ít được vận dụng hoặc chỉ đơn thuần là hình thức. Và do đó, tạo thêm các cơ hội để vấn nạn tham những phát sinh, phát triển.

Những hình thức tham nhũng

Dưới giác độ kinh tế

Tham nhũng gắn với những lĩnh vực có liên quan trực tiếp đến những hoạt động kinh tế, tài chính ở khu vực công như mua sắm công (đặt hàng các trang thiết bị công sở, trường học, bệnh viện), xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội sử dụng vốn ngân sách (hệ thống đường giao thông, cầu, cảng, hạ tầng viễn thông, điện, nước, trường học, bệnh viện)… Ở những lĩnh vực này, tham nhũng thường là việc lợi dụng những sơ hở trong cơ chế quản lý, điều hành, nhưng cũng có liên quan đến sự chi phối của yếu tố quyền lực, tạo nên nhiều cách “bòn rút” công quỹ, hệ quả của loại hình tham nhũng này thường là làm giảm hiệu quả sử dụng vốn ngân sách, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng, hạn chế số lượng các dịch vụ công cộng được cung cấp, qua đó tác động nhiều mặt đến phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.

Tham nhũng là hệ quả tất yếu của hệ thống cung cấp dịch vụ công trực tiếp của các cơ quan công quyền, chẳng hạn như cơ quan thuế, hải quan, an ninh, quy hoạch đất đai, thậm chí cả trong các hoạt động cung cấp dịch vụ giáo dục, y tế. Về cơ bản tham nhũng dưới hình thức này, chủ yếu tập trung ở việc “đưa và nhận hối lộ” giữa người cần sử dụng dịch vụ công và người được trao quyền cung cấp dịch vụ công hay nói cách khác thường là cách thức tham nhũng của những công chức của bộ máy công quyền thông qua việc “nhũng nhiễu” người dân khi họ phải tiếp cận tới các dịch vụ công nêu trên, ví như để có thể được hưởng mức thuế thấp hoặc kéo dài thời hạn nộp thuế các công ty, doanh nghiệp thường hối lộ – phong bì cho công chức ngành thuế trực tiếp thụ lý hồ sơ, hoặc để hoàn tất thủ tục hải quan nhanh chóng với mức thuế có lợi, các chủ thể của hoạt động này chắc chắn sẽ phải “lót tay” cán bộ hải quan; hay thậm chí để được khám bệnh sớm, hoặc để bác sỹ có những đặc ân riêng, người nhà bệnh nhân cũng thường có những “phong bì làm quen, cám ơn” và dường như ở hầu khắp những nơi cung cấp dịch vụ công đều ẩn chứa tham nhũng hoặc ở dạng này, hoặc ở dạng khác và điều đó đang dần làm biến dạng các hành vi ứng xử xã hội, làm suy yếu các thiết chế xã hội và nguy hiểm hơn đó là gây nên những bất bình, bất lợi ngày càng gia tăng đối với người nghèo, người có điều kiện thu nhập hạn chế, tạo nên bất ổn xã hội tiềm ẩn. Một số công trình nghiên cứu về khía cạnh này đã chỉ ra rằng hành vi tham nhũng này đã làm tăng từ 3 đến 10% trong giá của một giao dịch cho trước để đẩy nhanh việc giao nhận một dịch vụ của chính phủ hay làm tổn thất đến 50% nguồn thu từ thuế của chính phủ do hối lộ và tham nhũng.

Tham nhũng xuất hiện dưới dạng lợi dụng sức mạnh “quyền lực” để mưu toan lợi ích kinh tế cho cá nhân hoặc cho một nhóm người nhất định. Hành vi này thường xảy ra ở những cơ quan công quyền và được thực hiện bởi những người nắm quyền lãnh đạo, điều hành các cơ quan công quyền, hoặc có ảnh hưởng quyết định đến các thiết chế vận hành của hệ thống. Chẳng hạn, một vị lãnh đạo ở một ngành, hoặc một địa phương có thể có những quyết định như quy hoạch đất đai, hoặc đề xuất một chủ trương phát triển nào đó mà theo đó họ có lợi hoặc những thân hữu của họ có lợi, nhưng quyết định đó lại đem lại tác động rất hạn chế đối với phát triển chung, và theo nghĩa đó, rõ ràng nhà chức trách kia đang lợi dụng quyền lực chính trị của mình để mưu lợi cho cá nhân, cho nhóm nhỏ. Thông thường, với loại hình tham nhũng này, cái mất trước mắt là thiệt hại kinh tế cho mục tiêu, chiến lược phát triển chung của cộng đồng, nhưng nguy hại hơn là làm mất lòng tin của người dân đối với bộ máy lãnh đạo, đối với chủ trương, đường lối của bộ máy Nhà nước và điều đó nếu để phát triển rộng, thì nguy cơ mất ổn định xã hội là khá rõ ràng và định hướng xã hội chủ nghĩa có lẽ chỉ còn là ước nguyện xa vời.

Dưới giác độ chính trị, xã hội

Tham nhũng qua việc bổ nhiệm hay bầu chọn quan chức công thường được thực hiện dưới dạng thức người có quyền lực chính trị cao hơn, tạo ra các cơ hội, các ưu tiên riêng cho các đối tượng họ muốn được lựa chọn, để có được những đặc ân này, các đối tượng được lựa chọn phải “chăm lo” cho các quan chức cấp trên dưới nhiều hình thức quà biếu, quà tặng hay những cơ hội có tiền, có lợi khác nhau và hứa hẹn tiếp tục duy trì nguồn lợi này cho người tiến cử khi đã được đắc cử. Thiệt hại kinh tế trong trường hợp này là ít có biểu hiện rõ nét, nhưng về mặt chính trị xã hội, thiệt hại và nguy hại lại vô cùng lớn bởi loại hình tham nhũng này vô hình chung đang tiếp tay tạo dựng một xã hội phe phái, cơ hội. Điều này đồng nghĩa với việc hình thành những mâu thuẫn xã hội, tiềm ẩn những nguy cơ bất ổn chính trị và rối ren hệ thống chính trị xã hội và như vậy nhân tố tiêu cực sẽ chi phối, điều chỉnh các hành vi xã hội. Nếu đây là một giả định thực tế thì sớm hay muộn đất nước cũng rơi vào khung khoảng chính trị, xã hội và kéo theo nó là kinh tế khó bề phát triển, định hướng xã hội chủ nghĩa chỉ còn là hình thức.

Tham nhũng trong bổ nhiệm, tuyển chọn còn thể hiện ở việc bổ nhiệm các thành viên gia đình, những người trong họ hàng, bạn bè, vào những cơ quan công cộng có vị thế độc quyền, có thể thu lợi nhuận, trong một lĩnh vực hoạt động nào đó ở khu vực tư nhân hoặc công cộng. Như vậy, thông qua quyền lực chính trị mà mình có được các quan chức “cài, cắm” người của mình vào những vị trí trọng yếu để nhằm tiếp cận, hoặc thực hiện các hành vi tham nhũng từ các hoạt động của các tổ chức tư nhân hay chính phủ chịu tác động từ họ hoặc quyền lực của họ có thể chi phối được. ở hành vi tham nhũng này, tác động trước mắt là không lớn, nhưng nguy cơ lũng đoạn kinh tế, rồi lũng đoạn chính trị là tiềm ẩn rất lớn và lại rất khó phát hiện.

Tóm lại, có nhiều cách tiếp cận khác nhau trong định dạng tham nhũng, cũng như cắt nghĩa những tác động của nó tới nhiều mặt của đời sống xã hội nói chung, định hướng xã hội chủ nghĩa nói riêng. Nhưng dù dưới giác độ nào thì tham nhũng đều mang ý nghĩa tiêu cực đối với phát triển, đối với định hướng xã hội chủ nghĩa. Do đó, phòng ngừa và hạn chế tham nhũng là một trong những cách tốt nhất để định hướng xã hội chủ nghĩa trở thành hiện thực.

Một số giải pháp chống tham nhũng

Thứ nhất, thực hiện những cải cách thích hợp về hành chính, tài chính và kinh tế với phương châm là giảm thiểu tới mức có thể các cơ hội tham nhũng;

Thứ hai, tăng cường năng lực các thể chế – các phương tiện thông tin đại chúng, quốc hội, các cơ quan giám sát… nhằm tạo dựng hình ảnh các thiết chế hữu hiệu đối với phòng ngừa và ngăn chặn tham nhũng;

Thứ ba, nâng cao ý thức của công chúng về hành vi tham nhũng và phí tổn mà nó gây ra, cũng như tăng cường năng lực điều tra, kiểm soát phạm vi của tham nhũng;

Thứ tư, xây dựng hệ thống khuyến khích tính minh bạch và khả năng chịu trách nhiệm thông qua việc công khai về tài chính, về thực thi và ra quyết định của các cơ quan công quyền và công chức;

Thứ năm, minh bạch ở mức cao nhất trong tất cả các giao dịch từ Chính phủ cho tới địa phương và được xác nhận bởi sự giám sát của người dân là công cụ hạn chế tham nhũng hữu hiệu. Trong đó, cơ chế một cửa được coi là công cụ then chốt làm tăng tính minh bạch trong việc cung cấp các dịch vụ hành chính.

Thứ sáu, thiết lập các cơ chế hợp lý đẩy mạnh hoạt động giao dịch điện tử có thể làm giảm hành vi lạm dụng của công chức nhà nước đối với các doanh nghiệp. Việc hạn chế tiếp xúc trực tiếp giữa các công chức nhà nước với các nhà đầu tư, nhà thầu và tiến tới giảm việc thanh toán tiền mặt trong các mua bán trực tiếp, đơn giản hoá thủ tục mua bán… cũng là những giải pháp ngăn chặn hữu hiệu tham nhũng.

Thứ bảy, kiểm toán chặt chẽ hơn và tăng cường sự tham gia của công dân là công cụ quan trọng để đấu tranh chống tham nhũng hữu hiệu trên mọi phương diện và trên hầu khắp các lĩnh vực, từ Trung ương đến địa phương. Muốn vậy, cần tăng cường giám sát, kiểm tra của Nhà nước, Hội đồng nhân dân, người dân đối với mọi hoạt động của bộ máy công quyền nói chung, quan chức và công chức nói riêng.

Đồng thời, cũng cần quan tâm tới việc xây dựng những cơ chế tốt nhất để xử lý và điều tra các đơn tố cáo nhằm giúp xác định người phạm tội và trừng phạt nếu có hành vi tham nhũng./.

SOURCE: TẠP CHÍ KINH TẾ VÀ DỰ BÁO SỐ 4 (444) THÁNG 2 NĂM 2009 - PHẠM THỊ TÚY