Nhiều sản phẩm chủ yếu phục vụ sản xuất, tiêu dùng và xuất khẩu vẫn giữ được tốc độ tăng trưởng khá so với năm trước. Cụ thể, điện sản xuất tăng 14,2%, than sạch 16.8%, khí đốt 35,2%, động cơ điện các loại 19,7%, động cơ đi-ê-den 66,5%, máy bơm công nghiệp 12,7%, máy thu hình các loại 31,7%, phân đạm u-rê 40,2%, phân bón NPK 27,1%... Nhiều mặt hàng, nhóm mặt hàng công nghiệp đã có những đổi mới theo tín hiệu thị trường, tiêu thụ mạnh ở cả thị trường trong nước và nước ngoài.

Tuy nhiên, nhìn một cách tổng thể - theo Bộ Công nghiệp, khả năng cạnh tranh của ngành công nghiệp nước ta còn yếu so với nhiều nước khác trong khu vực. Sản phẩm còn đơn điệu, chất lượng chưa cao và không ổn định, nhưng giá thành lại cao. Yếu tố quyết định nhất đến khả năng cạnh tranh của ngành là năng suất lao động, hiệu quả sản xuất, kinh doanh, trình độ khoa học, công nghệ, năng lực quản lý... đều còn ở mức thấp. Năng lực cạnh tranh của hàng công nghiệp nước ta còn quá yếu chưa đáp ứng yêu cầu chung. Trong xu thế toàn cầu hoá nền kinh tế đã và đang diễn ra mạnh mẽ như hiện nay thì đây là một vấn đề rất đáng quan tâm, đòi hỏi chúng ta khẩn trương tìm các giải pháp phát huy nội lực, đón bắt thời cơ thúc đẩy phát triển nhanh chất lượng nền kinh tế nước ta ở mức cao hơn.

>> Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi:  1900 6162

 

Theo ý kiến của số đông nhà quản lý kinh tế, nhất là các nhà quản lý điều hành ngay trong ngành công nghiệp, các nhà kinh tế đối ngoại đã và đang gắn bó với thị trường ngoài nước thì chúng ta phải tập trung hoàn thiện thể chế và phương thức điều hành ở tầm vĩ mô, tạo môi trường pháp lý đồng bộ, phù hợp thông lệ quốc tế để tạo động lực lớn cho cơ sở. Đó là tiếp tục rà soát các văn bản pháp luật, xoá bỏ những quy định phân biệt đối xử giữa các thành phần kinh tế và không phù hợp kinh tế thị trường. Xây dựng khung khổ pháp luật cạnh tranh, trước hết là các luật cạnh tranh và kiểm soát độc quyền, luật chống phá giá, luật về các ngành độc quyền tự nhiên. Theo đó, thúc đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, tiếp tục rà soát các giấy phép kinh doanh hiện hành và điều kiện kinh doanh đối với những ngành có điều kiện. Đơn giản hoá các thủ tục hoàn thuế xuất nhập khẩu, xây dựng, hộ khẩu, công chứng phù hợp chuẩn mực quốc tế. Công bố đầy đủ, kịp thời các văn bản pháp luật và thủ tục hành chính trong công báo, sớm phát hành công báo của địa phương. Xây dựng quy chế công bố thông tin của các cơ quan nhà nước về quy hoạch, tình hình và chính sách thuộc lĩnh vực phụ trách, quy chế trả lời ý kiến công dân và doanh nghiệp. Thể chế hoá việc tổ chức đối thoại giữa doanh nghiệp với các cơ quan chức năng và chính quyền điạ phương; quy định trách nhiệm thực hiện các cam kết và thời hạn giải quyết. Hình thành nhóm tư vấn chính sách choThủ tướng Chính phủ và các Bộ trưởng, bao gồm các nhà khoa học, đại diện doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế ...

Hai là, hoàn thiện môi trường đầu tư, chuyển dịch cơ cấu kinh tế  gắn với diễn biến thị trường tiêu thụ. Tiếp tục rà soát, loại bỏ các rào cản đối với doanh nghiệp về các hoạt động sản xuất, kinh doanh hợp pháp hoặc Nhà nước không cấm. Tiếp tục thực hiện Nghị định 90 về hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ. Tăng cường thu hút và nâng cao hiệu quả đầu tư nước ngoài; trước hết là bỏ các hạn chế về hình thức đầu tư đối với dự án trong ngành sản xuất chế tạo hoặc có tỷ lệ xuất khẩu sản phẩm cao, những hạn chế về vốn góp và huy động vốn. Xây dựng chương trình xúc tiến đầu tư theo những ngành có ưu thế của nước đầu tư và các công ty xuyên quốc gia. Thành lập quỹ xúc tiến đầu tư ở các cơ quan cấp phép đầu tư. Mở văn phòng xúc tiến đầu tư ở một số nước trọng điểm. Điều chỉnh quy chế đầu tư Nhà nước, sửa đổi và bổ sung quy hoạch, chiến lược phát triển ngành, địa phương. Đổi mới quy trình quyết định đầu tư và thẩm định dự án. Tách giám định đầu tư khỏi giám sát xây dựng, áp dụng kiểm soát bắt buộc đối với những đơn vị sử dụng ngân sách.

Ba là, phát triển dịch vụ tài chính ngân hàng, tăng cường cạnh tranh trên thị trường tài chính, đa dạng hoá các hình thức huy động vốn dài hạn. Tăng nguồn vốn cho vay trung và dài hạn. Điều chỉnh đối tượng và mục đích cho vay, ưu tiên cho nghiên cứu và ứng dụng công nghệ mới, đổi mới thiết bị sản xuất hàng xuất khẩu. Chấm dứt tín dụng ưu đãi cho DNNN gắn liền với cơ chế giao quyền tự chủ về tài chính cho tất cả các doanh nghiệp. Tiếp tục giải quyết nợ khó đòi, trước hết là đối với các khoản cho vay có thế chấp. Tiếp tục chương trình cơ cấu lại các ngân hàng thương mại quốc doanh, nâng cao quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm của các ngân hàng thương mại, chuyển ngân hàng này sang kinh doanh tổng hợp; thật sự coi các ngân hàng như một doanh nghiệp trên lĩnh vực tiền tệ để doanh nghiệp các thành phần kinh tế khác tự do lựa chọn, tìm đến một cách khách quan, vô tư từ hai phía, tạo động lực mới cạnh tranh, cùng phát triển. Từng doanh nghiệp phải có chiến lược đào tạo, nâng cao trình độ cho người lao động, sử dụng thành thạo công nghệ mới, làm ra sản phẩm chất lượng cao, cạnh tranh thắng cuộc, có chỗ đứng vững vàng trên thị trường nhiều nước, kể cả thị trường ‘‘khó tính’‘ như Nhật Bản, Hoa Kỳ.

Trần Kinh Tế (Nguồn: Báo Nhân dân ngày 3/3/2004)