Thông thường các nhà hoạch định chính sách chỉ chú ý đến những tác động của chính sách tài chính tiền tệ tác động như thế nào đến các hoạt động của các doanh nghiệp trong nước mà ít chú ý đến những tác động của chúng lên hoạt động của các MNC. Trong lộ trình hội nhập WTO vào năm 2005, Chính phủ cần phải nghiên cứu đầy đủ những tác động trong chính sách tài chính và tiền tệ của quốc gia tác động như thế nào chẳng những đối với các doanh nghiệp trong nước mà còn đến các MNC hoạt động tại VN.

>> Luật sư tư vấn luật đầu tư nước ngoài trực tuyến gọi: 1900 6162

 

Chính sách tiền tệ thắt chặt chỉ làm lợi cho các MNC và tác động bất lới đối với các doanh nghiệp trong nước

 

Các MNC cũng chịu những hạn chế về tín dụng và tiền tệ như các công ty trong nước. Nhưng họ lại có nhiều thuận lợi hơn trong nhưng trường hợp chính phủ của nước chủ nhà thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt hoặc nếu như nguồn vốn trong nước trở nên quá đắt hoặc không có sẵn vì những hạn chế của chính phủ nước chủ nhà. Trong những trường hợp như thế, một chi nhánh của các MNC có lẽ sẽ tiếp cận nguồn vốn từ công ty mẹ và những công ty con khác hoặc đơn giản là họ sẽ tiếp cận thị trường Euro đô la hải ngoại (Eurodollar). Do vậy, công ty con có thể thực hiện những kế hoạch chi tiêu của mình bất chấp những hạn chế của chính phủ nước chủ nhà. Trong khi đó những công ty trong nước của quốc gia chủ nhà sẽ gặp phải bất lợi do không tiếp cận được với nguồn vốn nước ngoài. Bài học kinh nghiệm từ các quốc gia trên thế giới cho thấy rằng trong trường hợp này chính phủ của quốc gia nước chủ nhà sẽ dễ phạm phải sai lầm khi tác động vào hệ thống ngân hàng thông qua các khoản tài trợ cho chính phủ để cấp tín dụng gián tiếp cho các công ty trong nước. Đây đáng là tình huống ảnh hưởng để cho các nhà hoạch định chính sách VN tham khảo.

Thị trường vốn VN một mặt vẫn còn phân cách và còn quá nhiều rào cản chẳng những đối với thị trường vốn trong nước mà còn đối với thị trường vốn nước ngoài. Trong khi đó việc nới lỏng những rào cản trên thị  trường tài chính trong nước đối với các MNC là điều mà chính phủ phải chịu nhiều nhượng bộ khi đàm phán trong lộ trình hội nhập WTO vào năm 2005. Tình hình này sẽ càng bất lợi cho các doanh nghiệp VN mỗi khi Chính phủ sử dụng chính sách tiền tệ thắt chặt nhằm kiểm soát lạm phát. Chính sách tiền tệ kiểm soát lạm phát vô hình chung lại làm lợi cho chính các MNC và do đó càng đẩy các doanh nghiệp trong nước vào thế cạnh tranh không cân xứng.

Một bài học mà các nhà hoạch định chính sách nước ta cần phải rút kinh nghiệm trong việc điều hành chính sách tiền tệ trong năm 2003 vừa qua đó là tình trạng các ngân hàng và các quỹ đầu tư thực hiện một cuộc đua tăng lãi suất đến mức chóng mặt. Chẳng hạn như Quỹ đầu tư phát triển đô thị TPHCM và một số các định chế tài chính khác đã huy động vốn, có lúc lên đến 8,5% năm, trong khi lãi suất quốc tế lại xuống đến mức thấp nhất trong vòng 45 năm qua. Chính sách tiền tệ như trên, rõ ràng đã đẩy các doanh nghiệp VN, vốn đã ở vào thế yếu so với các MNC hoạt động tại VN, lại gặp phải nhiều bất lợi hơn nữa. Các doanh nghiệp trong nước hoàn toàn không thể tiếp cận nguồn tài trợ từ thị trường tiền tệ quốc tế trong bối cảnh lãi suất trong nước quá cao. Trong khi đó đây lại là một ưu thế của các MNC hoạt động tại VN.

 

Nhưng mặt khác hoạt động của các MNC có khả nàng tạo ra sự bất ổn trong cung tiền nội địa

Khi đánh giá về hoạt động của các MNC hoạt động tại các quốc gia tiếp nhận đầu tư, chính phủ tại các quốc gia tiếp nhận phân tích rất kỹ tác động của cung tiền do hoạt động của các MNC tạo ra. Vấn đề phiền toái sẽ nảy sinh trong chính sách tiền tệ của quốc gia tiếp nhận khi các MNC bất thình lình chuyển một số lượng lớn ngoại tệ sang đồng nội tệ để mua một công ty trong nước, hoặc thực hiện 1 một dự án đầu tư lớn hoặc đơn giản chuyển sang các quỹ đầu cơ tạm thời trong khi tìm cách né tránh khủng hoảng trên thị trường ngoại hối ở một hay nhiều nước khác. Đây là tình trạng mà các nhà chuyên môn gọi là dòng tiền nóng tiềm ẩn trong một quốc gia. Các nước Anh, Mỹ, Đức, Pháp, Ý, Thụy Sĩ là những nạn nhân thường xuyên của những sự biến dạng tạm thời trong cung tiền như thế. Trong hầu hết các trường hợp, việc chuyển đổi ngoại lực sang nội tệ tạo ra một sự gia tăng ngay lập tức cung tiền trong nước. Tai hại ở chỗ là sự gia tăng ngay lập tức này phải được sự can thiệp kịp thời của NHTW trên thị trường mở. Nếu không như thế, hoạt động của các MNC có thể dẫn đến áp lực lạm phát tại các quốc gia chủ nhà.

Nhằm thu hút nguồn vốn từ các nhà đầu tư nước ngoài nói chung và các MNC nói riêng, chính phủ VN đang tìm cách ngày càng nới lỏng các điều kiện để các nhà đầu tư nước ngoài nắm giữ nhiều sở hữu hơn đối với các công ty trong nước. Đây là một chính sách đương nhiên và phù hợp với lộ trình hội nhập trong khi đàm phán gia nhập vào WTO năm 2005 . Nhưng mặt khác một nguy cơ tiềm ẩn về một dòng tiền nóng cũng đang chực chờ để bộc phát và tác động ngược trở lại nền kinh tế VN. Đây chính là một thách thức thật sự đối với VN trong quá trình soạn thảo các văn bản pháp lý liên quan đến các chủ trương thu hút nguồn vốn đầu tư FDI và nguồn vốn đầu tư gián tiếp FPI vào VN.

Theo chúng tôi, trước mắt các nhà hoạch định chính sách cần phải nghiên cứu thật kỹ tình huống trên trong quá trình soạn thảo các văn bản pháp lý hên quan đến việc cổ phần hoá các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hoạt động tại VN, cũng như các chủ trương cho phép các nhà đầu tư nước ngoài nắm giữ cổ phần đối với các doanh nghiệp trong nước.

 

Chính sách tài khoá công khai minh bạch và bình đẳng có quan hệ đến cân đối ngân sách tại các địa phương có hoạt động của các MNC

Các hoạt động của các MNC cũng có thể dẫn đến mâu thuẫn với chính sách tài khoá nước chủ nhà. Nhằm thu hút nguồn vốn từ các MNC, chính phủ ở một số quốc gia thường phạm phải những sai lầm trong các chính sách thuế theo hướng ưu đãi quá mức cho các MNC về thuế suất và cơ sở tính thuế. Thực tế thì cho dù không có những ưu đãi quá đáng về chính sách thuế, thì các MNC cũng có khả năng giảm được thuế tại quốc gia nước chủ nhà thông qua một kỹ thuật gọi là định giá chuyển giao (transter pricing). Đây là một kỹ thuật mà các MNC tận dụng từ những ưu đãi khác nhau của các quốc gia trên toàn thế giới về các chính sách thuế, lãi suất để xác định giá của các nhập lượng (chi phí đầu vào) và xuất lượng (giá bán) sao cho có lợi nhất. Đây là một kỹ thuật mà hầu như bất kỳ MNC nào cũng phải tận dụng nhằm tối thiểu hoá số thuế phải nộp tại quốc gia nơi các MNC đang hoạt động. Vấn đề nằm ở chỗ là các MNC có tận dụng những kẽ hở trong luật lệ của nước chủ nhà để trốn thuế chứ không phải là tối thiểu hoá số thuế phải nộp hay không mà thôi.

Theo chúng tôi, mặc dù hiện nay chúng ta vẫn chưa có một bằng chứng xác đáng nào chứng minh được hành vi trốn thuế của các MNC tại VN nhưng kỹ thuật tối thiểu hoá số thuế phải nộp tại VN sao cho có lợi nhất tại nước ta là một ưu thế đương nhiên và có thật của bất kỳ một MNC nào. Vì vậy việc ưu đãi quá mức về thuế cho các MNC hoạt động tại nước ta, theo chúng tôi có thể dẫn đến nhiều bất lợi cho các doanh nghiệp trong nước, làm giảm sức cạnh tranh của các doanh nghiệp VN trong quá trình hội nhập .

Mặt khác cũng phải thấy rằng, trong điều kiện mà ngân sách chính phủ luôn bội chi như hiện nay thì các MNC lại có khả năng tạo ra nhiều nhu cầu tăng thêm về việc phát triển các dịch vụ kinh tế xã hội, những lĩnh vực mà NSNN không có khả nàng đầu tư.

Chính sách tài khoá của chúng ta trong những năm qua đã có tác động đáng kể đến hoạt động của các MNC tại VN, theo hướng rất có nhiều thuận lợi Theo báo cáo mới nhất của Quốc hội thì từ chỗ cả nước chỉ có 8% tỉnh thành tự cân đối ngân sách, nay tỉ lệ này sẽ nâng lên gấp ba lần tức là vào khoảng 15/64 tỉnh thành vào năm 2004. Lần đầu tiên người dân đã nghe nói đến ‘’Câu lạc bộ 15’’ so với trước đây chỉ là 5 anh tỉnh thành cõng 56 anh tỉnh thành. Thành quả mới nhất này là do các địa phương mới phất lên như Vĩnh Phúc, Khánh Hoà, Hải Phòng.. Các tỉnh thành này đều có chung một điểm là có cơ chế thu hút vốn đầu tư trong nước và nước ngoài hợp lý. Chẳng hạn như Vĩnh Phúc đã tận dụng nguồn thu thuế rất lớn từ các MNC thuộc các lĩnh vực ô tô và xe máy như Toyota, Hon da. Nhưng quan trọng hơn, theo đánh giá của Quốc hội, chính sách tài khoá hợp lý thông qua việc phân bổ nguồn thu đã giúp cho tỉnh giải quyết được công ăn việc làm cho rất nhiều lao động, và ngành dịch vụ khác cũng phát triển theo với tốc độ rất cao, phù hợp với độ của các MNC hoạt động tại địa phương.

Từ thực tiễn trên, một điều chúng ta cần phải lưu ý khi hoạch định các chính sách đối phó với các nhà đầu tư nước ngoài nói chung và các MNC nói riêng là không nên có cách nhìn mang tính chất phân biệt đối với các MNC hoạt động tại VN. Không phải là toàn bộ, nhưng có thể khẳng định rằng phần lớn cân đối ngân sách các địa phương mới nổi lên ở nước ta là có đóng góp rất lớn từ hoạt động của các MNC. Kết quả này có được là chúng ta đã thực hiện luật ngân sách  mới, dẫn đến có sự thay đổi mới trong cơ cấu thu chi giữa NS trung ương và NS địa phương. Chính sách tài khóa minh bạch, không phân biệt đối xử rõ ràng đã có tác động rất đáng kể đối với hoạt động của các MNC, và do đó góp phần vào việc thúc đẩy các hoạt động của các doanh nghiệp nội địa.

Chúng ta có thể rút ra được gì từ những phân tích trên? Trước hết không nên có ảo tưởng quá mức về những gì mà các MNC mang lại cho nền kinh tế trong nước. Các MNC không bao giờ cho không, có lẽ không có một chân lý nào đúng hơn là chân lý này. Nhưng mặt khác, những tác động của chính sách tài chính và tiền tệ quốc gia lại có tác động rất lớn đế việc hấp thụ tối đa những lợi ích mà các MNC mang lại và hạn chế đến mức thấp nhất những rủi ro trong quá trình hội nhập là điều mà chính phủ cần phải tính đến trong quá trình đàm phán gia nhập WTO.

TS. Nguyễn Thị Ngọc Trang (Nguồn: (Theo T/c Phát triển kinh tế)

(MKLAW FIRM: Bài viết được đăng tải nhằm mục đích giáo dục, phổ biến, tuyên truyền pháp luật và chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước không nhằm mục đích thương mại. Thông tin nêu trên chỉ có giá trị tham khảo và có thể một số thông tin pháp lý đã hết hiệu lực tại thời điểm  hiện tại vì vậy Quý khách khi đọc thông tin này cần tham khảo ý kiến luật sư, chuyên gia tư vấn trước khi áp dụng vào thực tế.)