Xu hướng toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế trên thế giới

Đây chính là đặc điểm cơ bản của nền kinh tế thế giới (KTTG) hiện nay. Chính đặc điểm này tạo ra sự liên kết và phụ thuộc lẫn nhau ngày càng cao giữa các quốc gia và khu vực. Các định chế và tổ chức kinh tế - thương mại khu vực và quốc tế đã được hình thành để phục vụ cho quá trình HNKTQT, tạo lập hành lang pháp luật chung và để các nước cùng tham gia vào quá trình giải quyết các vấn đề lớn của KTTG mà không một quốc gia nào có thể thực hiện một cách đơn lẻ. Đặc điểm cơ bản của toàn cầu hoá và HNKTQT trên thế giới hiện nay thể hiện qua một số xu hướng chính như sau:

>> Luật sư tư vấn luật đầu tư nước ngoài trực tuyến gọi: 1900 6162

Luật sư tư vấn pháp luật đầu tư nước ngoài

Luật sư tư vấn luật đầu tư - Ảnh minh họa

1. Xu hướng tăng cường hợp tác đa phương:

Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) thành lập ngày 1/1/1995 là kết quả của Vòng đàm phán Urugoay kéo dài trong suốt 8 năm (1986 - 1994). Sự ra đời của tổ chức này nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển của thương mại thế giới và là sự kế thừa của Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT) 1947. Hiện nay, ngày càng có nhiều nước xin gia nhập WTO, với đà này chẳng bao lâu WTO sẽ trở thành tổ chức lớn nhất hành tinh (2). 146 thành viên WTO chiếm 85% tổng thương mại hàng hoá và 90% thương mại dịch vụ toàn cầu(3). Năm 2001, quốc gia đông dân nhất thế giới là Trung Quốc đã trở thành thành viên của WTO, với dân số gần 1,3 tỷ chiếm 1/5 thị trường tiêu dùng của thế giới (lớn hơn bất cứ một khu vực thương mại tự do nào), sự kiện này sẽ tác động không nhỏ đến kinh tế - thương mại thế gii và đến Việt Nam. Gần đây nhất, hai nước nhỏ là Cam-pu-chia và Nê-pan cũng đã được kết nạp vào WTO.

Vòng Doha theo lộ trình sẽ kết thúc vào cuối năm 2004 (sau thất bại của hội nghị Cancun, vòng đàm phán có thế chậm lại). Nếu Việt Nam không gia nhập WTO vào năm 2005 thì khả năng phải chấp nhận những đàm phán mới là rất lớn và như vậy, quá trình đàm phán gia nhập sẽ khó khăn hơn. Từ khi WTO khởi đầu vòng đàm phán mới (vòng Doha) đã có một số nước đang phát triển gia nhập vào tổ chức này.

Một vài nước đã rút ngắn quá trình đàm phán, thậm chí bỏ qua hầu hết các bước để nhanh chóng được kết nạp. Nhân tố đó cho thấy rằng KTTG ngày càng có một vai trò hấp dẫn hơn đối với các nền kinh tế đang phát triển trong bối cảnh toàn cầu hoá kinh tế.

 

2. Xu bướng tự do hoá và khu vực hoá:

Biểu hiện của xu hướng này là sự hình thành các Khu vực Thương mại Tự do (FTAS) và các Thỏa thuận Thương mại Khu vực (RTAS) gia tăng nhanh chóng: FTAs và RTAs có mức độ ưu đãi và tự do hoá thương mại cao hơn quy chế tối huệ quốc (MFN) kéo theo những thay đổi lớn trong cục diện thương mại giữa các nước trong khu vực và trên thế giới dẫn đến những khó khăn cho Việt Nam, một nền kinh tế đang hội nhập ở mức độ thấp. Hiện nay, một làn sóng tự do hoá thương mại diễn ra sôi động chưa từng có trên thế giới: Tính đến tháng 5/2003 đã có khoảng 250 hiệp định thương mại tự do song phương (BTAS) và khu vực đã được thông báo cho WTO, trong đó 130 hiệp định được thông báo sau tháng 1/1995. Đến cuối 2005, nếu các hiệp định thương mại tự do (song phương và khu vực) đang được đàm phán hoặc đã được ký kết thì tổng số hiệp định thương mại tự do có hiệu lực có thể lên đến 300 hiệp định(4). Đặc biệt là trong khu vực Đông á có Khu vực thương mại tự do ASEAN/AFTA, Việt Nam ký Hiệp định Thương mại với Hoa Kỳ (VN-US BTA); Trung Quốc ký Hiệp định khung về khu vực thương mại tự do ASEAN - Trung Quốc (AC-FTA); Hoa Kỳ, Hàn Quốc cũng sẽ ký hiệp định tương tự với ASEAN. Ấn Độ ký Hiệp định khung về hợp tác kinh tế toàn diện với ASEAN và Nhật Bản ký thỏa thuận khung về đối tác kinh tế toàn diện với ASEAN(5). Khu vực ASEAN + 3 (ASEAN + Trung Quốc, Hàn Quốc và Nhật Bản); ASEAN + Ấn Độ, ASEAN + CER (Ô-xtrâylia, Niu Di-lân) đang hình thành từ nay đến năm 2010 với tổng số dân trên 2 tỷ người. Hiệp định Thương mại tự do Bắc Mỹ và Mỹ La-tinh (gồm 33 nước với số dân 911 triệu người, GDP của khu vực này trên 11 nghìn tỷ USD) sẽ thực hiện vào năm 2005 thì đây sẽ là FTA lớn nhất thề giới. Ấn Độ, Pa-ki-xtan, Nê-pan, Xri-lan-ka. Maldives, Băng-la-đét và Bu-tan đã ký thỏa thuận thành lập Khu vực thương mại tự do Nam Á (khu vực này chiếm 1/4 dân số thế gii, với cam kết giảm thuế từ 25 - 30% xuống 5% trong vòng 7 - 10 năm). Việc EU mở rộng sang phía Đông cũng là một sư kiện quan trọng: hiện nay EU có 15 nước thành viên với số dân 380 triệu người, GDP trên 8.500 tỷ USD (năm 2002), đến tháng 412004 EU sẽ kết nạp thêm 10 thành viên, tăng lên 25 thành viên với số dân 455 triệu người, GDP khoảng 9 nghìn tỷ USD. Đây sẽ là khối liên minh kinh tế lớn nhất thế giới. Sự kiện này sẽ kéo theo sự bảo hộ tăng lên do các nước mới kết nạp là những nước có nền kinh tế kém phát triển hơn 15 nước EU hiện tại. Sự kiện này sẽ làm cho Việt Nam khó khăn hơn khi đàm phán gia nhập WTO cũng như XK sang thị trường này.

 

3. Thương mại dịch vụ đóng vai trò quan trọng trong thương mại thế giới:

Sự thay đổi công nghệ và cơ cấu kinh tế sẽ biến trao đổi dịch vụ thành một hình thức thương mại quan trọng trong thế kỷ 21. Sự thay đổi này có một ý nghĩa đặc biệt vì dịch vụ là một bộ phận chi phí trong sản xuất hàng hoá và các dịch vụ khác (6). Bên cạnh đó, vấn đề sở hữu trí tuệ cũng sẽ trở thành nội dung chính trong đàm phán thương mại song phương và đa phương.

 

4. Sự tăng cường chính sách bảo hộ với các rào cản thương mại hiện đại:

Các nước ngày càng có xu hướng ít sdụng những biện pháp bảo hộ mang tính lộ liễu như áp đặt lệnh cấm, hạn chế số lượng hoặc áp đặt thuế suất NK cao. Thay vào đó, các biện pháp bảo hộ được lồng vào những lý do chính đáng như để bảo vệ những ngành sản xuất trong nước trước những hành động thương mại không lành mạnh, bảo vệ sức khoẻ con người, kiểm soát chất lượng, môi trường, quy định về an toàn thực phẩm, điều kiện lao động, kiểm soát dịch bệnh, chống bán phá giá, chống trợ cấp, ghi nhãn hàng hoá...

 

II. Tác động của bối cảnh quốc tế đến tiến trình HNKTQT của Việt Nam

- Áp lực cạnh tranh sẽ gia tăng mạnh hơn, nhất là từ phía Trung Quốc, Ấn Độ và phần lớn các nước ASEAN, vốn là những nước sản xuất nhiều sản phẩm mang tính canh tranh với ta và lại có nhiều ưu thế hơn ta, thậm chí ngay cả trong những ngành XK chủ lực của ta hiện nay như nông sản, thuỷ sản, may mặc, giày dép. Trong thu hút FDI chúng ta cũng vấp phải sự cạnh tranh khốc liệt hơn và nguy cơ sẽ suy giảm FDI vào nước ta nếu chúng ta không có những chính sách và biện pháp cải thiện môi trường đầu tư mạnh mẽ làm tăng tính hấp dẫn hơn hẳn so với các nước trong khu vực (7).

- Xu hướng HNKTQT và khu vực hiện nay sẽ tạo ra sức ép buộc ta phải tiến hành tự do hoá, mở cửa để hội nhập mạnh hơn và nhanh hơn. Nếu không cố gắng đi cùng nhịp với các nước trong khu vực thì Việt Nam có nguy cơ bị tụt hậu và chịu những thua thiệt của người đi sau(8). Ví dụ Hiệp định hàng dệt may của WTO (ATC) hết hạn vào 31/12/2004, những nước chưa gia nhập WTO thì vẫn phải bị hạn ngạch hàng dệt may trong khi các thành viên WTO được XK tự do.

- Việc một số thành viên ASEAN tham gia vào nhiều thoả thuận FTA với các nước bên ngoài khối cũng tạo ra nguy cơ chuyển hướng thương mại bất lợi đối với ta(9)

- Số liệu so sánh sau đây (10) giữa Việt Nam với Trung Quốc cho thấy 2 nước có xuất phát điểm gần giống nhau, nhưng nhờ đấy mạnh cải cách, mở cửa và HNKT nên Trung Quốc lại tăng tốc trong khi Việt Nam đã bị chậm lại:

 

Tăng trưởng XK hàng năm (%)

 

1995-2002

1997-2002

2000-2002

Trung Quốc

11,8

12,2

14,4

Việt Nam

11,9

12,6

7,0

 

Đầu tư trực tiếp nước ngoài trên đầu người (USD)

 

1997

1998

1999

2000

2001

2002

Trung Quốc

36

35

31

30

34

41

Việt Nam

29

22

18

17

16

17

 

III. Thực trạng tiến trình đổi mới và HNKTQT của Việt Nam

1 . Đường lối đổi mới và chủ trương hội nhập của Đảng và Chính phủ:

Ngày 27/11/2001, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 07-NQTFTW về HNKTQT. Nghị quyết này đã kế thừa, cụ thể hoá và triển khai các đường lối của Đảng đề ra từ trước tới nay(11), đồng thời đáp ứng kịp thời những đòi hỏi khách quan của tiến trình HNKTQT của Việt Nam, ‘’là định hướng cho quá trình HNKTQT của nước ta trong thời kỳ mới’’(12)

 

2. Những thành tựu cơ bản của tiến trình HNKTQT:

- Việt Nam ra khỏi tình trạng bị bao vây cấm vận, cô lập tạo dựng được môi trường quốc tế, khu vực thuận lợi cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nâng cao vị thế nước ta trên chính trường và thương trường thế giới. Cho đến nay, Việt Nam đã ký 86 hiệp định thương mại song phương, 46 hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư và 40 hiệp định chống đánh thuế hai lần với các nước và vùng lãnh thổ; có quan hệ thương mại với trên 160 nước và nền kinh tế: thiết lập quan hệ với các tổ chức tài chính tiền tệ quốc tế; là thành viên của ASEAN, ASEM, APEC...

- Thực hiện thành công Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội (1991-2000) GDP tăng trưởng bình quân 8,2%/năm trong giai đoạn 1991 -2000, khoảng 7% trong hai năm 2001 và 2002, năm 2003 tăng 7.24% và là nước có tốc độ tăng GDP thứ hai thế giới, chỉ đứng sau Trung Quốc. Hạ tầng cơ sở được cải thiện rõ rệt. Thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế một cách tích cực theo hướng tăng dần tỷ trọng giá trị công nghiệp và dịch vụ, giảm dần tỷ trọng giá trị nông nghiệp trong cơ cấu tổng thu nhập quốc dân. Cơ cấu vùng kinh tế cũng bắt đầu thay đổi theo hướng hình thành các vùng trọng điểm, các KCN tập trung, các KCX. Chuyển toàn bộ nền kinh tế sang môi trường cạnh tranh, lấy mục đích và hiệu quả kinh tế xã hội làm cơ sở, thay đối thói quen trông chờ vào sự bảo hộ của Nhà nước của các DN.

- Mở rộng được thị trường XNK, thúc đẩy sản xuất trong nước phát triển, tạo thêm việc làm, tăng thu ngân sách. Năm 1990 kim ngạch XK mới đạt 2,404 tỷ USD và NK 2,752 tỷ USD thì năm 2001 kim ngạch XK đã đạt 15 tỷ USD (nếu tính cả dich vụ thì đạt 17,6 tỷ USD), tăng mỗi năm trung bình trên 20%, có năm tăng 30% (gấp hơn 7 lần năm 1990). Năm 2003 XK đạt 20,176 tỷ USD. XK bình quân đầu người đạt trên 200 USD, đây là mức được thế giới công nhận là quốc gia có nền XK bình thường. Bên cạnh XK hàng hoá, XK dịch vụ và hợp tác lao động cũng đạt được mức tăng trưng liên tục. XK dịch vụ giai đoạn 2001 - 2003 đạt khoảng 8,15 triệu USD, tăng bình quân 9,65%/năm. Từ 2001 đến nay có 127 nghìn người đi làm việc ở nước ngoài, tăng 27% so với thời kỳ 1 996 - 2000. Số DN tham gia XK đã tăng lên 16.200 so với 495 DN năm 1991 .

- Thu hút được một nguồn lớn đầu tư trực tiếp của nước ngoài (FDI). Đến nay ta đã thu hút được trên 41.538 tỷ USD vốn đầu tư từ 64 quốc gia và vùng lãnh thổ với trên 4.370 dự án. Trong số đó đã thực hiện trên 24,658 tỷ USD.

Nguồn đầu tư trực tiếp nước ngoài có vai trò quan trọng trong nền kinh tế nước ta: chiếm gần 30% vôn đầu tư xã hội, 35% giá trị sản xuất công nghiệp, 20% XK, giải quyết việc làm cho khoảng 40 vạn lao động và hàng chục vạn lao động gián tiếp. Tranh thủ được kỹ thuật tiên tiến vả khoa học quản lý mới. Tranh thủ được nguồn viện trợ phát triển chính thức (ODA) ngày càng lớn, đồng thời giảm đáng kể nợ nước ngoài. Các nhà tài trợ đã cam kết dành cho nước ta gần 20 tỷ USD, chủ yếu là cho vay ưu đãi và một phần là viện trợ không hoàn lại.

- Đào tạo được đội ngũ cán bộ nắm được nghiệp vụ, ngoại ngữ tham gia hội nhập. Đào tạo được nhiều nhà quản lý DN.

 

3. Những nhân tố hạn chế tiến trình HNKTQT của Việt Nam

3.1 Nhận thức tư tưng và kiến thức về HNKTQT.

Nhận thức về nội dung, lộ trình hội nhập của nhiều ngành, cấp và DN còn chưa đầy đủ, những cơ hội và thách thức của tiến trình hội nhập này cũng chưa thực sự nắm vững để có kế hoạch chủ động nắm bắt thời cơ. Đối với các cơ quan quản lý các cấp, không ít chính sách, cơ chế còn chậm được đối mới cho phù hợp với yêu cầu của hội nhập. Công tác HNKTQT mới được triển khai chủ yếu ở các cơ quan Trung ương và các thành phố lớn, sự tham gia của các ngành, các cấp và DN chưa đồng bộ, chưa tạo ra được sức mạnh tổng hợp cần thiết đảm bảo cho HNKTQT đạt hiệu quả cao. Nhiều DN nói chung, đặc biệt là các DN nhỏ và vừa còn ít hiểu biết về lộ trình và các yêu cầu của hội nhập, chưa tự trang bị cho mình những kiến thức và thông tin cần thiết về thị trường và luật pháp, thông lệ quốc tế trong làm ăn buôn bán. Công tác dự báo thị trường, thu thập và xử lý thông tin chưa nhạy bén và sát với tình hình thị trường nên hiệu quả kinh doanh chưa cao. Đa số vẫn trông chờ ở sự bảo hộ của Nhà nước.

3.2 Hệ thống pháp luật chính sách quản lý nền kinh tế thị trường không đồng bộ, còn thay đổi, chưa phù hp thông lệ quốc tế do đó chưa đáp ứng yêu cầu hội nhập.

3.3 Chính sách điều chỉnh cơ cấu kinh tế thiếu đồng bộ nhất quán và chưa phù hợp với điều kiện toàn cầu hoá và HNKTQT.

Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế diễn ra chậm chạp, thiếu đồng bộ và không nhất quán. Việc điều chỉnh này vừa mang tính tự phát vừa mang tính định hướng kiểu ‘’kế hoạch hoá’’, chưa dựa trên một chiến lược cơ cấu kinh tế cho cả một giai đoạn dài được xây dưng trên cơ sở nghiên cứu, phân tích, dự báo, tính toán một cách hệ thống, cụ thể, đầy đủ các yếu tố, đặc biệt là gắn với điều kiện toàn cầu hoá và hội nhập của Việt Nam.

Điểm yếu quan trọng nhất của vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế Việt Nam trong những năm qua là chưa tập trung khai thác và phát triển mạnh nhiều ngành và lĩnh vực mà Việt Nam có lợi thế và có thể mang lại hiệu quả cao nhất, đầu tư của Nhà nước bị dàn trải vào nhiều ngành và lĩnh vực không đưa lại hiệu quả kinh tế (mía đường, thép...).

3.4 Năng lực cạnh tranh của các DN nhìn chung còn yếu, chính sách vĩ mô chưa tạo được động lực khuyến khích DN nâng cao năng lực cạnh tranh:

DN Việt Nam phần lớn đều có quy mô nhỏ, vốn ít. Đa phần các DN thuộc khu vực kinh tế nhà nước hoạt dộng trong tình trạng kém hiệu quả kinh tế và có tư tưởng trông chờ vào sự bảo hộ của Nhà nước. Hệ thống chính sách, cơ chế quản lý của Nhà nước chưa tạo ra môi trường cạnh tranh thực sự giữa các DN thuộc mọi thành phần kinh tế. Môi trường kinh doanh vẫn còn một số bất cập về khung khổ pháp lý và thế chế, về cấu trúc thị trường và hành vi cạnh tranh. Thể chế kinh tế thị trường chưa hoàn thiện thể hiện sự thiếu đồng bộ của các yếu tố thị trường như: thị trường tiền tệ, thị trường đất đai, bất động sản, thị trường lao động, khoa học công nghệ... Các cơ sở pháp lý đảm bảo cạnh tranh chậm được ban hành và sửa đổi. Bên cạnh đó, việc thực thi pháp luật còn rất hạn chế. Nhiều chủ trương, chính sách đúng đắn của Đảng, Chính phủ ban hành chưa được thực hiện triệt để. Bộ máy điều hành ở một số bộ và địa phương còn yếu kém chưa đáp ứng được yêu cầu của DN.

3.5 Mục tiêu của hội nhập là mở rộng thị trường cho hàng hoá và dịch vụ của ta thu hút vốn và công nghệ. Song XK chưa đạt mục tiêu tăng trưởng 16% (mới đạt khoảng 12% từ 2001 - 2003)(13). Nguyên nhân do đầu tư vào XK chưa được coi trọng đúng mức. Đầu tư nước ngoài chững lại do khủng hoảng khu vực và môi trường đầu tư trong nước chậm được cải thiện.

3.6 Năng lực đội ngũ cán bộ làm công tác hội nhập còn yếu, việc chỉ đạo và thực hiện quá trình hội nhập còn bất cập: Đội ngũ cán bộ làm công tác hội nhập đã được tăng cường nhiều trong thời gian qua nhưng nhìn chung vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu cả về số lượng và chất lượng. Vấn đề tổ chức chỉ đạo quá trình hội nhập trong thời gian qua cũng bộc lộ nhiều hạn chế. Về bộ máy, mặc dù Ủy ban quốc gia về HNKTQT đã được thành lập cùng với hệ thống các cơ quan đầu mối thuộc các Bộ, ngành và UBND các tỉnh, thành và trong thời gian qua đã hoạt động khá tích cực và thực hiện khá tốt vai trò chức năng của mình, nhưng việc phối hợp hoạt động, điều kiện và phương tiện hoạt động, trình độ hiểu biết nhiều mặt và năng lực đóng góp của các thành viên tham gia vào các cơ chế này cũng nhiều giới hạn, do vậy hiệu quả của các hoạt động nhất là chất lượng của công tác tham mưu cho lãnh đạo Đảng và chính phủ cũng còn những hạn chế.

Sư phối hợp giữa các Bộ, ngành, địa phương và DN trong quá trình tiến hành hội nhập chưa thật sự chặt chẽ, nhịp nhàng và đồng bộ. Chính phủ tích cực thúc đẩy hội nhập, nhưng DN còn thờ ơ. Thông tin và trao đổi giữa các Bộ, ngành Trung ương và giữa Trung ương với địa phương cũng như giữa các cơ quan nhà nước với các DN về các vấn đề hội nhập còn chưa đầy đủ và thường xuyên.

3.7 Chưa có một chiến lược tổng thể về HNKTQT cho cả giai đoạn dài với các lộ trình mở cửa trong từng lĩnh vực cụ thể

Cho đến nay chúng ta vẫn chưa có một chiến lược tổng thể về hội nhập dựa trên một tầm nhìn dài hạn gắn với chiến lược chuyển đổi cơ cấu kinh tế nhằm phát huy nội lực kết hợp với ngoại lực để đẩy nhanh CNH - HĐH thể hiện sự tăng trưởng và phát triển bền vững. Đồng thời ta cũng chưa đưa ra được một lộ trình tổng thể các cam kết mở cửa của ta trong tất cả các lĩnh vực, nhất là thuế quan, phi thuế quan, đầu tư, dịch vụ, sở hữu trí tuệ ớ các cấp độ khác nhau như đơn phương, song phương, khu vực và toàn cầu để có cơ sở đàm phán và giúp các ngành, các cấp, các DN có định hướng đúng trong xây dựng chương trình hành động của mình, có đủ thời gian chuẩn bị chu đáo khi hàng rào bảo hộ dần dần bị xoá bỏ và có biện pháp, có kế hoạch chủ động vươn ra thâm nhập thị trường quốc tế.

Chiến lược HNKTQT cần xác định rõ các mục tiêu, phương châm, bước đi và biện pháp cần theo đuổi cũng như một lộ trình chung về cam kết mở cửa trong các lĩnh vực và ở các cấp độ khác nhau. Đây là cơ sở để Đảng và Nhà nước chỉ đạo điều hành quá trình hội nhập một cách chủ động, nhất quán và đồng bộ với toàn bộ các hoạt động kinh tế của đất nước trên các lĩnh vực khác nhau. Mặt khác, đây cũng là cơ sở cho các ngành, các cấp chính quyền, các DN dựa vào để xây dựng các chương trình hành động của mình, chuẩn bị chu đáo cho việc mở cửa, đảm bảo quá trình hội nhập kinh tế đem lại hiệu quả tốt nhất.

3.8 Công tác đào tạo, tuyên truyền, phổ biến thông tin kiến thức vê HNKTOT và giáo dục đội ngũ lao động thích ứng với điều kiện toàn cầu hoá và hội nhập tuy gần đây được quan tâm thúc đẩy nhưng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn.

 

IV. Giải pháp đẩy mạnh tiến trình HNKTQT của Việt Nam:

Trên cơ sở những phân tích nêu trên về bối cảnh quốc tế và thực trạng HNKTQT của Việt Nam, kiến nghị một số nhóm giải pháp nhằm đẩy mạnh tiến trình HNKTQT như sau:

1. Nâng cao nhận thức về HNKTQT, chống tư tưởng ỷ lại trông chờ vào bảo hộ của Nhà nước.

2. Nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế bằng cách tăng cường đổi mới kinh tế trong nước hướng vào XK, đầu tư thiết bị và công nghệ tiên tiến, khai thác các ngành mà Việt Nam có lợi thế trước mắt và lâu dài, tăng cường cải cách hành chính, đặc biệt là tổ chức thực hiện. Tăng cường năng lực và sự phối hợp của các bộ ngành trong tiến trình HNKTQT.

3. Đẩy mạnh cải cách các DNNN theo hướng nâng cao tính chủ động, hiệu quả và khả năng cạnh tranh đi đôi với việc giải quyết vấn đề việc làm và thay đổi ngành nghề của người lao động.

4. Coi trọng phát triển thị trường trong nước đi đôi với mrộng thị trường XK, quản lý tốt NK. Đẩy mạnh và phát triển thương mại dịch vụ.

5. Xây dựng Chiến lược tổng thể về HNKTQT.

6. Hoàn thiện và nâng cao hiệu quả của hệ thống văn bản pháp luật phục vụ phát triển kinh tế và HNKTQT.

7. Tập trung đàm phán WTO để có thể gia nhập càng sớm càng tốt. Chuẩn bị sẵn sàng chấp nhận thách thức mở cửa thị trường để các ngành kinh tế phối vươn lên không trông chờ mãi vào bảo hộ của Nhà nước.

8. Đào tạo nguồn nhân lực cho tiến trình hội nhập.

 

(1) Ngay từ Hội nghị lần thứ 29 của Diễn đàn Kinh tế Thế giới tố chức tại Davos, Thụy Sĩ từ 28/1 đến 02/02/1999 đã khẳng định: Toàn cầu hoá không còn là một xu thế nữa mà đã trở thành một thực tế (realistic)

(2) Khi mới thành lập GATT năm 1947 chỉ có 25 thành viên, WTO ra đời năm 1995 với 124 thành viên, đến nay đã có 148 thành viên và khoảng gần 30 nước đang xin gia nhập (Liên hợp quốc hiện có 191 thành viên)

(3) Năm 2002 tổng giao dịch thương mại hàng hoá toàn cầu là 13.109 tỷ USD và thương mại dịch vụ là 3.060 tỷ USD.

(4) Theo Sách trắng về Thương mại của Tổ chức Xúc tiến Thương mại Nhật Bản (JETRO)

(5) Tháng 10/2003 tại Bali (ln-đô-nê-xia)

(6) Theo ước tính của các chuyên gia kinh tế tại Việt Nam chi phí dịch vụ chiếm tới 50% tổng giá thành sản phẩm.

(7) Ngay trong năm đầu tiên gia nhập WTO, Trung Quốc lần đầu tiên qua mặt Hoa Kỳ vươn lên trthành nước thu hút đầu tư lớn nhất thế giới với 52, 7 tỷ USD năm 2002 và tiếp tục giữ vững vị trí này năm 2003.

(8) Các nước trong khu vực đang đẩy mạnh liên kết kinh tế như Trung Quốc gia nhập WTO, Thái Lan ký hiệp định riêng với Trung Quốc đẩy nhanh chương trình thu hoạch sớm trong khuôn khổ ACFTA, hợp tác sâu hơn với Hoa Kỳ, Nhật Bản đàm phán ký kết hiệp định FTA song phương với một số nước ASEAN.

(9) Xin-ga-po ký Hiệp định BTA với Nhật Bản và Hoa Kỳ có thể tạo ra cửa để hàng của Nhật Bản và Hoa Kỳ xâm nhập vào thị trường ASEAN khác theo thuế AFTA.

(10) Theo giáo sư David Dapice: Kinh tế Việt Nam - một phân tích SWOT

(11) Nghị quyết của Đại hội VI, VII, VII, IX của Đảng

(12) Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết 07-NQ/TW.

(13) XK của ta tăng khá nhưng khoảng cách chênh lệch với các nước xung quanh khá lớn: Việt Nam năm 2002 XK đạt 16,7 tỷ USD, 2003 đạt 20,176 tỷ USD, trong khi đó XK của Thái Lan năm 2002 là 66,8 tỷ USD.

Lương Văn Tự - Thứ trưởng Bộ Thương mại (Nguồn: (Theo T/c Thương mại)