Tác giả bài viết dưới đây sẽ phân tích bản chất kinh tế, pháp lý của dạng vi phạm về hành vi ấn định giá bán lại tối thiểu gây thiệt hại cho khách hàng. Trên cơ sở đó, tác giả bình luận, đưa ra những yêu cầu cần thiết trong việc việc áp dụng LCT, góp phần hướng dẫn thi hành hiệu quả LCT, đưa LCT đi vào thực tiễn.

>> Luật sư tư vấn pháp luật cho doanh nghiệp trực tuyến gọi số: 1900 6162

 

1. Đặt vấn đề

Trong đời sống thị trường, nơi mà cung cầu là cốt vật chất, giá cả là diện mạo và cạnh tranh là linh hồn sống của thị trường[1], mọi hành vi làm sai lệch diện mạo bằng bất cứ thủ đoạn nào để bóc lột khách hàng, hoặc để củng cố, duy trì vị trí của doanh nghiệp trên thương trường đều đáng lên án và phải bị loại bỏ. Trong cấu trúc pháp luật của thị trường mà nhà nước ta đang nỗ lực xây dựng và hoàn thiện, luôn có sự hiện diện của một bộ phận cấu thành quan trọng là lĩnh vực pháp luật quản lý giá cả. Pháp lệnh giá năm 2002 quy định nhiều biện pháp kinh tế -hành chính trong việc quản lý trật tự giá trên thị trường, và ngăn cấm những hành vi không lành mạnh trong cạnh tranh về giá.

Song song với việc xây dựng mảng pháp luật quản lý các quan hệ thị trường, các nhà làm luật Việt Nam cũng đang nỗ lực hoàn thiện một lĩnh vực pháp luật đặc thù của thị trường là pháp luật cạnh tranh, với nhiệm vụ đấu tranh chống các tiêu cực, bảo đảm sự lành mạnh trong quan hệ cạnh tranh. Trong các biểu hiện bị cấm đoán, các hành vi liên quan đến giá cả cũng được luật cạnh tranh (LCT) mô tả với nhiều dạng, nhiều mức độ vi phạm khác nhau, như: định giá dưới giá thành toàn bộ để loại bỏ đối thủ; áp đặt giá mua, giá bán hàng hoá, dịch vụ bất hợp lý gây thiệt hại cho khách hàng, định giá bán lại tối thiểu… Phần tiếp theo sau đây sẽ phân tích bản chất kinh tế,pháp lý của một dạng vi phạm cụ thể là hành vi ấn định giá bán lại[2], được quy định tại khoản 2 Điều 13 LCT năm 2004. Từ đó, đặt ra những yêu cầu cần thiết để các văn bản hướng dẫn LCT góp phần đưa LCT đi vào thực tiễn,đồng thời dự liệu một số tình huống có thể xảy ra khi thực thi pháp luật cạnh tranh.

2. Hành vi ấn định giá bán lại

2.1 ấn định giá bán lại và ý nghĩa

Hành vi ấn định giá bán lại phản ánh mối quan hệ giữa doanh nghiệp thuộc ngành trên (doanh nghiệp sản xuất hoặc doanh nghiệp bán sỉ) với các doanh nghiệp thuộc ngành dưới (doanh nghiệp phân phối, doanh nghiệp bán lẻ), theo đó, doanh nghiệp thuộc ngành trên áp đặt một mức giá bán lại đối với sản phẩm buộc doanh nghiệp thuộc ngành dưới phải tuân thủ khi phân phối, tiêu thụ sản phẩm đó. Hành vi ấn định giá bán lại còn được gọi là duy trì giá hoặc những hạn chế theo chiều dọc[3]. Khi bàn đến khái niệm hành vi ấn định giá bán lại, cần phải phân biệt ấn định giá bán lại và ấn định giá trong thỏa thuận về giá giữa các doanh nghiệp được quy định tại khoản 1 Điều 8 LCT[4]. Thoả thuận ấn định giá được mô tả là sự thống nhất giữa các doanh nghiệp là đối thủ cạnh tranh của nhau để xác định một mức giá hoặc một công thức tính giá duy nhất mà các thành viên tham gia sẽ áp dụng khi tiêu thụ sản phẩm. Như vậy, mức giá hoặc công thức tính giá được thống nhất trong thỏa thuận về giá phải là (i) kết quả của sự tự nguyện giữa các thành viên là đối thủ cạnh tranh của nhau (cùng cấp độ kinh doanh trên thị trường liên quan) tham gia thỏa thuận; (ii) tất cả doanh nghiệp tham gia thỏa thuận có nghĩa vụ áp dụng giá đã thỏa thuận khi tiêu thụ sản phẩm của mình.

Đối với hành vi ấn định giá bán lại, kinh tế học cũng coi nó là một dạng của thỏa thuận về giá, nhưng lại có những dấu hiệu đặc thù: (1) Trước hết, ấn định giá bán lại là một thỏa thuận dọc giữa nhà sản xuất với người phân phối sản phẩm của họ; (2) giá bán lại là kết quả của sự áp đặt của nhà sản xuất đối với người phân phối. Nói cách khác, trong biểu hiện của hành vi này khuyết đi yếu tố tự nguyện, tự do ý chí của doanh nghiệp phân phối. Vì vậy,có ý kiến cho rằng, ấn định giá bán lại không là một thỏa thuận vì một bên trong quan hệ này đã không có khả năng lựa chọn một mức giá khác ngoài mức đã được đối tác ấn định. Quan điểm coi hành vi này có dấu hiệu của sự thỏa thuận dựa trên lập luận cho rằng, nhà phân phối vẫn có quyền lựa chọn tham gia hay không tham gia việc phân phối sản phẩm của doanh nghiệp với mức giá đã được đưa ra. Vì vậy, ở trường hợp này, vẫn có sự chấp nhận của người phân phối, vì thế đã tồn tại một thỏa thuận giữa các doanh nghiệp. Như vậy, cho dù có sự tồn tại của một thỏa thuận thực tế hay không thì hành vi ấn định giá bán lại, dưới góc độ kinh tế học, luôn phản ánh chiến lược liên kết về giá để bóc lột khách hàng giữa các doanh nghiệp tham gia vào quá trình phân phối sản phẩm, mà không là hành vi đơn phương của một doanh nghiệp duy nhất. Vì vậy, kết quả là có sự thống nhất, phối hợp hành động trong một mạng lưới theo chiều dọc của các doanh nghiệp tham gia vào các công đoạn khác nhau của quá trình kinh doanh một sản phẩm nhất định.

Cách thức ấn định giá bán lại rất đa dạng, có thể bao gồm: ấn định giá bán lại tối thiểu; ấn định giá tối đa (có thể kết hợp cả hai, tức là định khung giá – tối thiểu và tối đa); hoặc đưa ra một mức giá cố định, mức giá gợi ý.

Dưới góc độ kinh tế học, việc ấn định mức giá bán lại có ý nghĩa rất lớn đối với doanh nghiệp sản xuất. Thông qua mức giá được ấn định, các doanh nghiệp đảm bảo được sự ổn định và thống nhất giá trong phạm vi thị trường đồng nhất (không có khác biệt lớn về chi phí phân phối, lưu thông); bảo đảm sự phối hợp hiệu quả giữa những đại lý hoặc nhà phân phối nằm trong mạng lưới tiêu thụ sản phẩm, tránh tình trạng tiêu diệt lẫn nhau của các đại lý làm thu hẹp mạng lưới phân phối mà doanh nghiệp đã nỗ lực xây dựng; ngăn chặn các hành vi của những nhà phân phối bán hàng với giá thấp để tiêu thụ sản phẩm khác, hoặc hành vi bán lỗ để thu hút khách hàng từ phía những nhà phân phối lớn… Trong thực tế, nhiều doanh nghiệp đang thực hiện việc ấn định giá bán cho tất cả các đại lý trên phạm vi một vùng thị trường xác định, ví dụ các sản phẩm hoá mỹ phẩm của P &G được công ty xác định giá ngay trên bao bì sản phẩm, nhà phân phối chỉ có thể tiêu thụ sản phẩm với mức giá được xác định cụ thể. Cách thức đó còn ngăn chặn những hành vi lừa dối, nói thách của các cửa hàng tiêu thụ để lừa dối khách hàng.

2.2 Điều kiện để ấn định giá bán lại là hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền

Với ý nghĩa đã trình bày, việc ấn định giá bán lại không đương nhiên vi phạm pháp luật cạnh tranh. Pháp luật của hầu hết các nước đều không ngăn cấm hành vi ấn định giá nếu như chưa thỏa mãn các điều kiện mà pháp luật quy định. LCT năm 2004 xếp hành vi ấn định giá bán lại tối thiểu vào nhóm hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền để hạn chế cạnh tranh. Tuy nhiên, khoản 2 Điều 13 chỉ mới gọi tên hành vi mà chưa đặc tả các dấu hiệu nhận dạng của nó. Dự thảo nghị định hướng dẫn LCT có đưa ra khái niệm của hành vi này, theo đó,ấn định giá bán lại tối thiểu gây thiệt hại cho khách hàng là việc khống chế không cho phép các nhà phân phối, các nhà bán lẻ bán lại hàng hoá thấp hơn mức giá đã quy định trước[5].

Từ những quy định trên cho thấy, việc định giá bán lại của doanh nghiệp chỉ bị coi là vi phạm khi thoả mãn những điều kiện về chủ thể, điều kiện về cách thức ấn định giá và hậu quả của hành vi đối với khách hàng.

a. Điều kiện thứ nhất: Chủ thể thực hiện hành vi ấn định giá bán lại là doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh hoặc vị trí độc quyền trên thị trường liên quan của sản phẩm đó. Theo LCT, việc xác định vị trí thống lĩnh của doanh nghiệp được thực hiện dựa vào thị phần của doanh nghiệp đó trên thị trường liên quan. Với mức thị phần từ 30% (hoặc 50; 65; 75%), một doanh nghiệp (tương ứng với hai, ba hoặc bốn doanh nghiệp) sẽ được coi là có vị trí thống lĩnh trên thị trường. Doanh nghiệp được coi là có vị trí độc quyền khi không tồn tại một doanh nghiệp nào khác cạnh tranh với nó trên thị trường liên quan[6]. Vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền đem lại cho doanh nghiệp khả năng chi phối các quan hệ mà nó tham gia. Lúc đó, với tư cách là người cung ứng chủ yếu hoặc duy nhất trên thị trường liên quan của sản phẩm, doanh nghiệp thống lĩnh hoặc độc quyền có khả năng khống chế ý chí của các nhà phân phối hoặc người tiêu dùng. Bởi lẽ, một khi đối tác hoặc người tiêu dùng bị giới hạn khả năng lựa chọn người cung ứng sản phẩm, thì những động cơ và toan tính của các nhà cung cấp, ẩn chứa đằng sau những quy tắc bán hàng sẽ trở thành luật chơi áp dụng cho các thương vụ. Điều này đi ngược lại với các nguyên tắc của thị trường. Trong trường hợp này, khách hàng là kẻ yếu thế và ít khả năng lựa chọn nên một nền pháp chế văn minh phải ưu tiên bảo vệ kẻ yếu[7].

b. Điều kiện thứ hai: Giá bán lại được ấn định ở mức tối thiểu. Theo dự thảo Nghị định hướng dẫn LCT, định giá bán lại tối thiểu là việc khống chế không cho phép các nhà phân phối, các nhà bán lẻ bán lại hàng hoá thấp hơn mức giá đã quy định trước. Với hành vi này, các nhà phân phối chỉ được lựa chọn mức giá cao hơn mức giá đã được ấn định khi bán sản phẩm cho khách hàng mà không còn cơ hội để hạ giá sản phẩm.

Như vậy, hành vi định giá bán lại theo LCT chỉ áp dụng đối với trường hợp nhà sản xuất ấn định giá bán lại tối thiểu mà không áp dụng trong trường hợp doanh nghiệp đưa ra mức giá tối đa hoặc xác định mức giá bán cụ thể(không phải là khung giá). LCT của Việt Nam có sự tương đồng với các quy định của các nước như Hoa Kỳ, Anh,ấn Độ, Hàn Quốc… khi không cấm hành vi ấn định giá bán tối đa. Lý do được đưa ra là, hành vi định giá tối đa còn có thể dẫn đến việc giảm giá (cho dù mức tối đa đưa ra mang tính bóc lột – cao hơn giá thành), vì trong trường hợp này, nhà phân phối được quyền lựa chọn mức giá thấp hơn mức được ấn định[8]. Giả sử, giá mà nhà phân phối bán cho khách hàng cũng là mức tối đa được doanh nghiệp sản xuất ấn định, và mức giá này là không hợp lý (mang tính bóc lột), thì hành vi của nhà phân phối (không phải hành vi ấn định giá của người sản xuất) bị coi là hành vi đặt giá bán bất hợp lý theo đoạn 1 của khoản 2 điều 13 LCT. Bởi lẽ, trong trường hợp nói trên, nhà phân phối đã từ chối mức giá hợp lý (trong khung giá từ mức tối đa trở xuống) mà doanh nghiệp thuộc ngành trên cho phép.

Đối với trường hợp doanh nghiệp định một mức giá bán lại cụ thể, nếu mức giá đó là bất hợp lý (cao hơn giá thành), pháp luật cạnh tranh sẽ xử lý doanh nghiệp đã ấn định giá (không xử lý nhà phân phối) theo khoản 2 điều 13 với hành vi định giá bán hàng hoá, dịch vụ bất hợp lý gây thiệt hại cho khách hàng. Bởi lẽ, (i) mức giá mà doanh nghiệp ấn định cũng là giá mà nhà phân phối bán sản phẩm cho khách hàng; (ii) nhà phân phối không có khả năng lựa chọn giá bán trong giao động của khung giá như trong trường hợp định giá tối đa hay tối thiểu. Vì thế, khi giá bán (giá ấn định) mang bản chất bóc lột, người bị xử lý phải là người đã đưa ra giá bán cho khách hàng.

c. Điều kiện thứ ba: Hành vi ấn định giá bán lại tối thiểu gây thiệt hại cho khách hàng. Trong kinh doanh,việc thuyết phục các nhà phân phối tăng hoặc giảm giá sản phẩm không là hành vi bất hợp pháp. Do đó, hành vi định giá bán lại sản phẩm không phải lúc nào cũng đáng bị lên án và có khả năng gây nguy hại cho thị trường, cho dù là định giá bán lại tối thiểu. Như đã phân tích, việc định giá bán lại tối thiểu có thể là nằm trong một chiến lược xây dựng và phát triển mức giá sản phẩm thống nhất, ổn định và lành mạnh trên thị trường. Chiến lược giá kiểu này phù hợp với những doanh nghiệp có những nhà phân phối lớn, phân phối nhiều loại sản phẩm tương tự nhau. Theo đó, để ngăn chặn mọi hành vi bán hàng hoá với giá thấp để thu hút khách hàng hoặc để tạo thế độc quyền trong phân phối sản phẩm, doanh nghiệp sản xuất phải áp dụng chiến lược đặt giá tối thiểu cho những nhà phấn phối.

Việc định giá tối thiểu chỉ bị coi là vi phạm pháp luật cạnh tranh khi mức giá tối thiểu đó gây thiệt hại cho khách hàng (cho người tiêu thụ sản phẩm). Khoản 2 điều 13 LCT quy định, việc thiệt hại cho khách hàng là dấu hiệu căn bản để xác định có hay không có sự vi phạm. Tuy nhiên, đạo luật này lại không đặc tả thế nào là thiệt hại mà khách hàng phải gánh chịu, dự thảo nghị định hướng dẫn khi mô tả về hành vi ấn định giá bán lại như đã đề cập ở phần trên, dường như đã quên dấu hiệu quan trọng này. Để xác định thiệt hại đối với khách hàng, cần làm rõ bản chất,mục đích của hành vi ấn định giá bán lại tối thiểu. Như đã phân tích, khi đưa ra một mức giá tối thiểu, doanh nghiệp thực hiện hành vi mong muốn ngăn chặn khả năng nhà phân phối giảm giá sản phẩm. Sự ngăn chặn đó là hợp pháp nếu như chưa mang bản chất lạm dụng quyền lực thị trường, bởi lẽ các doanh nghiệp có quyền ngăn ngừa sự giảm giá cục bộ của một, một số nhà phân phối để cạnh tranh, loại bỏ những nhà phân phối khác trong cùng một hệ thống tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp. Sự lạm dụng được đặt ra khi doanh nghiệp có quyền lực thị trường tận dụng vị trí của mình, tận dụng tình trạng người tiêu dùng bị giới hạn quyền lựa chọn để trục lợi bất chính. Một khi giá cả được sử dụng như là công cụ để lạm dụng, thì bản chất lạm dụng của hành vi vi phạm sẽ được chứng minh bằng mức giá bóc lột. Xác định mức bóc lột của giá, cơ quan cạnh tranh dựa vào sự chênh lệch giữa giá được ấn định với giá thành của sản phẩm. Nếu mức giá tối thiểu được ấn định cao hơn một cách bất hợp lý so với giá thành thì được coi là có sự lạm dụng để bóc lột khách hàng. Mức chênh lệch cao hơn là thiệt hại mà khách hàng gánh chịu.

LCT cũng chưa làm rõ thiệt hại mà khách hàng phải gánh chịu là thiệt hại tiềm năng hay là thiệt hại đã xảy ra. Nói cách khác, cần phải chứng minh mức giá ấn định tối thiểu (i) đã gây thiệt hại cho khách hàng hay chỉ phải xác định mức giá tối thiểu (ii) có thể gây thiệt hại cho khách hàng nếu không ngăn chặn.

(i) Trường hợp cần phải xác định thiệt hại thực tế đã xảy ra. LCT chỉ gọi tên hành vi là hành vi định giá bán lại tối thiểu gây thiệt hại cho khách hàng. Với tên gọi này, việc xác định gây thiệt hại là cần thiết để kết luận về hành vi vi phạm. Nếu như đòi hỏi phải có thiệt hại thực tế xảy ra, có nghĩa là cơ quan cạnh tranh phải xác định được đối tượng cụ thể đã bị thiệt hại (người tiêu thụ sản phẩm) và mức thiệt hại thực tế mà khách hàng đã phải gánh chịu. Lẽ đương nhiên là, người tiêu thụ sẽ chỉ gánh chịu thiệt hại thực tế khi đã mua sản phẩm từ nhà phân phối với giá nằm trong phạm vi khung giá mà doanh nghiệp ấn định. Tức là, chỉ khi nhà phân phối đã bán được sản phẩm cho khách hàng với mức giá bằng hoặc cao hơn mức tối thiểu thì mới có thể kết luận rằng khách hàng đã bị thiệt hại. Một khi chưa kết luận được nhà phân phối đã tiêu thụ sản phẩm hay chưa, thì cũng không thể xác định được thiệt hại thực tế xảy ra. Khi đó cũng không thể chống lại việc định giá bán lại tối thiểu cho dù mức giá tối thiểu bị áp đặt là bất hợp lý. Trong trường hợp này, khả năng dự phòng, ngăn ngừa thiệt hại của pháp luật bị hạn chế đối với hành vi vi phạm.

(ii) Trường hợp chỉ cần xác định khả năng chắc chắn gây thiệt hại. Hiểu quy định của LCT theo hướng này, có nghĩa là, cơ quan cạnh tranh chỉ cần xác định mức giá bán lại tối thiểu được doanh nghiệp ấn định đủ để gây thiệt hại nếu nó được thi hành trên thực tế, khi đó hành vi định giá bán lại đã đủ cấu thành hành vi vi phạm pháp luật. Nói cách khác, khi điều tra về hành vi định giá bán lại tối thiểu, cơ quan có thẩm quyền không cần thiết phải xác định thiệt hại thực tế đã xảy ra mà chỉ cần xác định khả năng gây thiệt hại của hành vi vi phạm. Khả năng gây thiệt hại được chứng minh bằng mức giá tối thiểu cao một cách vô lý so với giá thành của sản phẩm, và thiệt hại được hiểu là lợi ích vật chất của khách hàng (nói chung) bị tước đoạt bởi mức giá cao một cách vô lý. Như vậy, bằng chứng xác thực duy nhất và đúng đắn về thiệt hại mà khách hàng phải gánh chịu là việc khách hàng phải chịu một mức giá cao vô lý. Theo chúng tôi, cách hiểu này về thiệt hại của hành vi định giá gây ra cho khách hàng là phù hợp, nó không đặt lên vai của cơ quan cạnh tranh nhưng công việc không thuộc về trách nhiệm của họ[9]. Đồng thời, pháp luật sẽ ngăn ngừa được thiệt hại do hành vi gây ra bằng cách buộc phải chấm dứt sự vi phạm ngay từ khi có dấu hiệu hình thành.

d. Điều kiện thứ tư: Hành vi định giá mang tính áp đặt. LCT sử dụng cụm từ định giá bán lại tối thiểu để mô tả về tính áp đặt của hành vi lạm dụng. Kinh nghiệm của một số quốc gia như Anh, Hoa Kỳ, Thụy Điển, Canada… khi quy định về hành vi duy trì giá bán tối thiểu đều yêu cầu phải có dấu hiệu của sự ép buộc trực tiếp hay gián tiếp của doanh nghiệp thuộc ngành trên đối với các doanh nghiệp thuộc ngành dưới[10]. Theo quan điểm của các nhà lập pháp Canada, những nỗ lực của doanh nghiệp trong việc thuyết phục nhà phân phối tăng hoặc hạn chế giảm giá không phải là sự vi phạm. Bởi lẽ trong thực tế, các doanh nghiệp thường xuyên cung cấp cho hệ thống phân phối sản phẩm của mình thông tin về diễn biến của thị trường cũng như những dự báo về thị trường trong tương lai để từ đó đưa ra gợi ý về chiến lược giá cả, những hành vi như vậy về mặt kinh tế đem lại nhiều hiệu quả trong kinh doanh cho các doanh nghiệp và sự thống nhất của hệ thống phân phối sản phẩm[11]. Mặt khác, một khi sự gợi ý chưa mang bản chất của sự áp đặt, tức là các nhà phân phối còn có khả năng lựa chọn khác không theo mức giá mà các doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh hoặc vị trí độc quyền áp đặt thì đương nhiên hành vi gợi ý mức giá tối thiểu không bị coi là lạm dụng. Lúc này, quyền lựa chọn của nhà phân phối đã ràng buộc trách nhiệm của nhà phân phối với mức giá mà họ lựa chọn, chứ không ràng buộc trách nhiệm cho doanh nghiệp chỉ đề xuất gợi ý.

LCT chưa xác định cụ thể về tính áp đặt của hành vi định giá bán lại mà doanh nghiệp thống lĩnh hoặc độc quyền thực hiện. Câu chữ mà pháp luật sử dụng (định giá bán lại) cho phép hiểu rằng, ở hành vi lạm dụng kiểu này, nhà phân phối đã bị doanh nghiệp thống lĩnh định một mức tối thiểu về giá mà họ không thể lựa chọn mức giá khác thấp hơn. Việc không thể lựa chọn của nhà phân phối trong việc định giá cũng như hạn chế trong việc lựa chọn người cung cấp khác đã xác định tính lạm dụng của hành vi định giá bán lại. Vấn đề phải làm rõ là: làm thế nào xác định được sự áp đặt của doanh nghiệp thống lĩnh hoặc độc quyền đối với các nhà phân phối thuộc ngành dưới. Việc định mức giá tối thiểu có thể được giải thích chỉ là một gợi ý cho người phân phối. Do đó, cần phải có được những bằng chứng xác thực về việc áp đặt mức giá sàn tối thiểu làm căn cứ cho kết luận về việc lạm dụng của doanh nghiệp thống lĩnh hoặc doanh nghiệp độc quyền. Pháp luật nước ta chưa đề cập đến vấn đề này. ở các nước, đưa ra các căn cứ được xem là bằng chứng cho sự ép buộc. Đó là: (i) Những lời đe doạ về việc chấm dứt hợp đồng cung cấp hàng hoá cho nhà phân phối nếu không tuân theo mức giá sàn đã định; (ii) Bối cảnh đưa ra đề xuất được coi là bằng chứng nếu như sự áp đặt của doanh nghiệp cung cấp sản phẩm đối với nhà phân phối phải phụ thuộc vào nhà cung cấp đó trong hoàn cảnh hợp đồng cung cấp có thể dễ chấm dứt, cho dù không có bất cứ sự đe doạ rõ ràng nào về việc chấm dứt hợp đồng cung cấp; (iii) Cung cấp hoa hồng cho người phân phối nếu người phân phối chấp nhận tuân thủ mức giá tối thiểu được đưa ra… Những căn cứ đó được thể hiện trong các điều khoản hợp đồng cung cấp, hoặc trong các văn bản gửi qua nhau, thậm chí chỉ là những hành vi của những người quản lý doanh nghiệp có liên quan thể hiện rõ sự thỏa thuận, sự đe doạ, hứa hẹn về những vấn đề nói trên[12]. Cách thức giải quyết như trên là kinh nghiệm quý cho nước ta khi xây dựng pháp luật cạnh tranh.

Sự áp đặt của doanh nghiệp có quyền lực thị trường đối với các nhà phân phối của mình đã vi phạm thô bạo quyền tự do định đoạt tài sản của chủ sở hữu hợp pháp đối với hàng hoá, dịch vụ mà nó cung ứng. Xét về mặt bản chất, ấn định giá bán lại là hành vi cưỡng bức của doanh nghiệp có quyền lực thị trường đối với người được cung ứng để duy trì mức giá quá cao gây thiệt hại cho khách hàng.[13]

3. Vài điều bình luận

Một là. LCT mới chỉ gọi tên hành vi ấn định giá bán lại với tư cách là một biểu hiện của sự lạm dụng vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền trên thị trường liên quan. Trong khi đó, việc ấn định giá bán lại của các doanh nghiệp tự thân nó không phải lúc nào cũng là tiêu cực, cần cấm đoán. Nó chỉ bị ngăn cấm khi mang trong mình những dấu hiệu về sự lạm dụng quyền lực thị trường để hạn chế cạnh tranh. Vì thế, hiệu quả của sự đấu tranh chống lạm dụng phụ thuộc vào việc nhà làm luật có khả năng xác định chính xác ranh giới của sự lạm dụng trong việc ấn định giá bán lại bằng những dấu hiệu vi phạm cụ thể, chuẩn xác. Với cách quy định mang tính nguyên tắc trong LCT như đã phân tích, hiệu quả áp dụng pháp luật sẽ phụ thuộc vào khả năng chi tiết hoá LCT trong các văn bản hướng dẫn.

Hai là. Khảo sát dự thảo Nghị định hướng dẫn LCT cho thấy, Ban soạn thảo đã có những cố gắng trong việc nhận dạng và đưa ra những tiêu chí nhằm xác định sự vi phạm của hành vi ấn định giá bán lại. Tuy nhiên, vẫn còn một số vấn đề bị bỏ quên như: việc xác định thiệt hại mà khách hàng phải gánh chịu, các căn cứ xác định sự áp đặt của hành vi vi phạm… Kinh nghiệm đấu tranh chống hành vi duy trì giá bán lại của các nước cho thấy, những nội dung trên là căn cứ cơ bản để kết luận về bản chất lạm dụng của sự vi phạm. Do đó, một khi chúng ta chưa từng có kinh nghiệm trong việc đấu tranh chống loại vi phạm này trên thương trường, thì cần phải học hỏi kinh nghiệm pháp lý và thực tế của các nước đi trước, từ đó phác họa diện mạo chung với đầy đủ các căn cứ cấu thành cơ bản của hành vi, có như vậy, pháp luật mới thực sự đi vào thực tiễn.

Ba là. Trong quá trình áp dụng quy định về lạm dụng vị trí thống lĩnh trong lĩnh vực giá, cơ quan cạnh tranh có thẩm quyền phải thực sự cẩn trọng trong việc xác định hành vi vi phạm. Bởi lẽ, theo mô tả của LCT, dường như những biểu hiện không lành mạnh trong lĩnh vực giá như thỏa thuận ấn định giá, ấn định giá bán lại tối thiểu gây thiệt hại cho khách hàng, ấn định giá bán, giá mua bất hợp lý… có những dấu hiệu trùng với nhau. Do đó, khi áp dụng luật để điều tiết thị trường, cơ quan cạnh tranh nhất thiết phải nắm vững các dấu hiệu pháp lý của từng hành vi mà luật dự liệu, đồng thời phải am hiểu về bản chất kinh tế của từng lĩnh vực để từ đó chắt lọc các thông tin về vụ việc nhằm làm sáng tỏ các dấu hiệu vi phạm, từ đó có các kết luận đúng đắn. /.

Chú thích:

[1] Theo cách mô tả của PGS, TS. Nguyễn Như Phát.

[2] Còn gọi là hành vi duy trì giá bán lại

[3] Khái niệm chiều dọc trong quan hệ ấn định giá bán lại muốn diễn tả quan hệ của doanh nghiệp tham gia vào những công đoạn khác nhau của quá trình kinh doanh một loại sản phẩm.

[4] Khoản 1 điều 8 LCT cấm các thỏa thuận ấn định giá hàng hoá, dịch vụ một cách trực tiếp hoặc gián tiếp.

[5] Khoản 3 điều 30 dự thảo nghị định hướng dẫn LCT ngày 25 tháng 1 năm 2005.

[6] Điều 11 và điều 12 LCT.

[7] Nguyễn Như Phát – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về pháp luật hợp đồng ở Việt Nam hiện nay, NXB công an nhân dân, 2003, tr.10.

[8] Xem thêm Luật mẫu về Cạnh tranh – Tổ chức thương mại và phát triển Liên Hiệp quốcBộ Thương mại Việt Nam, 2004, Tr 59- 60

[9] Nếu buộc cơ quan cạnh tranh phải truy tìm thiệt hại thực tế sẽ dẫn đến kết quả là cơ quan cạnh tranh sẽ làm công việc của toà án trong việc xác định trách nhiệm bồi thường.

[10] Xem thêm Luật Mẫu về cạnh tranh – Tổ chức thương mại và phát triển của Liên hiệp quốc – Bộ Thương mại Việt Nam, 2004, tr. 59-60.

[11] Xem thêm Cơ quan phát triển quốc tế Canada (CIDA) – Bộ thương mại Việt Nam, LCT Canada và bình luận, 2004, tr. 79- 83.

[12] Cơ quan phát triển quốc tế Canada (CIDA) – Bộ thương mại Việt Nam, LCT Canada và bình luận, 2004, Tr.79- 83.

[13] Xem PGS Nguyễn Như Phát – ThS. Bùi Nguyên Khánh, Sđd, tr.136.

SOURCE: TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP SỐ 59, THÁNG 9 NĂM 2005 - NGUYỄN NGỌC SƠN

(MKLAW FIRM: Bài viết được đăng tải nhằm mục đích giáo dục, phổ biến, tuyên truyền pháp luật và chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước không nhằm mục đích thương mại. Thông tin nêu trên chỉ có giá trị tham khảo vì vậy Quý khách khi đọc thông tin này cần tham khảo ý kiến luật sư, chuyên gia tư vấn trước khi áp dụng vào thực tế.)