“Yếu” bởi…chủ quan

Đánh giá nêu trên được ông Hải đưa ra sau khi khảo sát thực lực của gần 1.100 LS hiện đang tham gia hoạt động trong Đoàn LS Hà Nội. Đáng lưu ý, trong số đó có tới 36 tiến sĩ, hơn 50 thạc sĩ được đào tạo bài bản cả ở trong và ngoài nước. Những con số này buộc người ta không thể không suy nghĩ!?... Số 5% LS có đủ khả năng, được dựa trên 3 yếu tố, điều kiện “cần và đủ”, bao gồm: trình độ ngoại ngữ (được đưa lên hàng đầu), tiếp theo là khả năng hiểu biết về Luật quốc tế (kiến thức, trình độ về các lĩnh vực pháp luật quốc tế và những vấn đề có liên quan), cuối cùng là kỹ năng hành nghề (kỹ năng soạn thảo, đàm phán, thỏa thuận trao đổi với các đối tác, phong cách, đạo đức...).

Số 5% ít ỏi này lại tập trung chủ yếu ở giới LS trẻ, được đào tạo đầy đủ, có ý chí vươn lên, được “cọ xát” nhiều với các kiến thức pháp lý quốc tế... Đây chính là điểm “yếu” của những LS thuộc tầng lớp “trung niên” ở nước ta. Hạn chế về trình độ ngoại ngữ, khả năng tiếp thu và thậm chí ngay cả ý chí tự trau dồi nghiệp vụ cho bản thân... làm những LS này gặp không ít khó khăn, trở ngại.

Bấy lâu nay, vì ít được “va đập” với thị trường pháp lý ở ngoài nước nên giới LS nói chung khi tham gia vào các quan hệ thương mại quốc tế, thường lúng túng và non kém về kinh nghiệm. Đơn cử như trong tranh chấp thương mại quốc tế, khi cần thiết phải đưa ra 1 luật cứ chứng minh cho quan điểm của mình, LS Việt Nam chắc chắn sẽ khó khăn khi phải trích dẫn các án lệ, văn bản quy phạm hoặc các thông lệ sở tại... Bởi lẽ, họ không có nhiều cơ hội được tiếp xúc, làm quen để có thể vận dụng tốt các nguồn luật này.

Ông Hải còn cho rằng, hiện tại giới LS Việt Nam chưa quen với những phương pháp làm việc đó, mà lý do “chính cơ chế tranh tụng ở ta đã khiến cho vị trí vai trò của LS còn rất mờ nhạt và chưa được coi trọng đúng mức, gây khó khăn cho hoạt động bào chữa của LS”. Theo đó, các LS nước ta hình thành một tâm lý chung là ỷ lại: ỷ lại không cần tự nâng cao trình độ, kỹ năng hành nghề, ỷ lại việc sử dụng ngoại ngữ lâu nay ít được dùng đến, thậm chí ỷ lại ngay chính khi tự đưa ra lý lẽ, viện dẫn biện chứng của mình tại các phiên tòa... Với cách thức này, nếu các LS không thay đổi quan niệm, không tự học hỏi vươn lên, thì không chừng về sau sẽ có nhiều LS nước ngoài giỏi pháp luật Việt Nam, giỏi thuật ngữ pháp lý Việt Nam... hơn chính các LS của nước ta (!?).

 

Không phải là không có cách

LS trẻ Nguyễn Hồng Bách (Đoàn LS Hà Nội) cho rằng: Tới thời điểm này, trên thực tế các doanh nghiệp nước ngoài không có nhiều thông tin về hoạt động và khả năng của giới LS Việt Nam. Tuy nhiên, họ cũng không thể trực tiếp thuê LS nước ngoài tham gia vào các quan hệ thương mại tại nước ta, do Luật quy định LS nước ngoài chưa được quyền tham gia tư vấn pháp luật Việt Nam. Như vậy, trong thời gian đầu, sẽ vẫn tồn tại tình trạng như trước đây là các doanh nghiệp nước ngoài sẽ thuê LS “nội” thông qua đại diện các văn phòng, công ty Luật nước ngoài có thương hiệu tại Việt Nam. Nhu cầu trước mắt không nhiều, nên bản thân các LS nước ngoài chưa cần mở nhiều văn phòng đại diện tại Việt Nam. Ngược lại, bản thân các LS của ta cũng chưa thể trực tiếp nhận được khách hàng là người nước ngoài, mà hầu hết đều phải thông qua các văn phòng LS nước ngoài. Đây là cơ hội “kéo dãn” thời gian để tự nâng cao trình độ, trau dồi ngoại ngữ, cập nhật thông tin...cho các LS Việt Nam, cho dù trước đây bị bỏ lỡ khá lâu.

Theo LS Sesto E.Vecchi (Trưởng Chi nhánh Công ty Luật Russin & Vecchi của Mỹ tại Việt Nam), khi Việt Nam chính thức trở thành thành viên của WTO thì các giao dịch sẽ ngày càng đa dạng hơn, phức tạp hơn, hướng tới những chuẩn mực quốc tế. Lúc ấy, vai trò của LS nước ngoài sẽ trở nên rất quan trọng trong việc hỗ trợ cho những giao dịch này hoạt động theo “hành lang” chuẩn mực chung. Còn giới LS Việt Nam sẽ có điều kiện mở rộng tiếp xúc, học hỏi, tích lũy kinh nghiệm thực hành luật, làm quen với những giao dịch có liên quan đến lĩnh vực đầu tư nước ngoài. Dần dần, LS ta sẽ thích ứng với lĩnh vực tư vấn trên các khía cạnh của pháp luật quốc tế trong mối quan hệ với pháp luật Việt Nam.

Giống như LS Phạm Hồng Hải, ông Sesto E.Vecchi cũng cho rằng: “Về độ thông minh, nhanh nhạy thì LS Việt Nam có đủ, nhưng họ vẫn gặp một số trở ngại về ngoại ngữ, về khả năng diễn đạt thuyết phục...”. Thậm chí, LS của ta còn bị bó hẹp trong khuôn khổ pháp lý Việt Nam, chưa nhìn nhận xa hơn với lĩnh vực pháp lý quốc tế, kể cả việc làm quen một số  khái niệm, thuật ngữ. Mọi công việc nêu trên đều cần thời gian, nhưng không thể chậm trễ hơn được nữa !

Điển hình là trong tố tụng, các LS cần nâng cao kỹ năng thuyết trình, khả năng thuyết phục, nhiều lúc phải đóng vai vào những tình huống cụ thể... “ Khá khó khăn đấy, nhưng tôi nghĩ là (LS Việt Nam) họ trẻ và khá năng động, nên chắc chắn có thể tiếp thu rất nhanh những kiến thức mà họ còn thiếu” - ông Sesto E.Vecchi đã nhấn mạnh như thế.

Theo Hà Nội Mới - Onine