>> Luật sư tư vấn pháp luật cho doanh nghiệp trực tuyến gọi số: 1900 6162

 

Xuất phát từ thực tế và các quan điểm kinh tế phổ biến, thể chế kinh tế thị trường đối với doanh nghiệp Việt Nam được hiểu là bao gồm toàn bộ hệ thống các quy định pháp luật, cơ chế chính sách và bộ máy thực thi của Nhà nước đối với doanh nghiệp theo nguyên tắc: Nhà nước tạo dựng môi trường kinh tế vĩ mô ổn định, hỗ trợ cho việc hình thành và tạo điều kiện để các loại thị trường vận hành có hiệu quả và bền vững; hình thành các khung khổ pháp lý khuyến khích đầu tư và cạnh tranh bình đẳng giữa các loại hình doanh nghiệp trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Từ cách hiểu trên, chúng ta thấy trong thể chế thị trường, hệ thống các quy định pháp luật chính là khung pháp lý; nguyên tắc được nêu ra là Nhà nước hỗ trợ cho việc hình thành và tạo điều kiện để các loại thị trường (trong đó có thị trường mua bán doanh nghiệp) và hình thành các khung pháp lý khuyến khích đầu tư (trong đó có sáp nhập, mua bán doanh nghiệp như hình thức đầu tư).

Mục tiêu của bài viết này là nhằm góp phần vào việc xác định những cơ sở lý luận và thực tiễn của việc tiếp tục hình thành và hoàn thiện khung pháp lý điều tiết sáp nhập, mua bán doanh nghiệp ở Việt Nam thông qua việc làm rõ quan niệm về sát nhập, mua bán doanh nghiệp và đưa ra một số đề xuất nhằm xây dựng khung pháp lý điều tiết sáp nhập, mua bán doanh nghiệp như hình thức đầu tư trực tiếp ở Việt Nam và như cơ sở để hình thành thị trường mua bán doanh nghiệp ở Việt Nam. Qua đây chúng tôi hy vọng có những đóng góp cụ thể cho dự thảo Nghị định hướng dẫn thi hành Luật Đầu tư và Luật Doanh nghiệp.

I.Khái niệm sáp nhập, mua lại

1. 1. Sáp nhập và mua lại theo pháp luật Việt Nam
Theo Ðiều 17 Luật Cạnh tranh ngày 3 tháng 12 năm 2004: “Sáp nhập doanh nghiệp là việc một hoặc một số doanh nghiệp chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình sang một doanh nghiệp khác, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của doanh nghiệp bị sáp nhập.
Mua lại doanh nghiệp là việc một doanh nghiệp mua toàn bộ hoặc một phần tài sản của doanh nghiệp khác đủ để kiểm soát, chi phối toàn bộ hoặc một ngành nghề của doanh nghiệp bị mua lại”
Luật Cạnh tranh cũng nói đến hợp nhất doanh nghiệp – là việc “hai hoặc nhiều doanh nghiệp chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình để hình thành một doanh nghiệp mới, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của các doanh nghiệp bị hợp nhất”.
Kiểm soát tập trung kinh tế (sáp nhập, hợp nhất, thôn tính công ty và liên minh chiến lược) là một nội dung rất mới không chỉ đối với nước ta. Ngoại trừ ở Mỹ, đề tài này chỉ được quan tâm ở châu Âu trong vài thập niên trở lại đây (Đức bổ sung Luật Cacten năm 1973, Liên minh châu Âu ban hành quy chế giám sát tập trung kinh tế lần đầu tiên năm 1989…) . Bởi vậy, bàn về kiểm soát tập trung kinh tế trong tình trạng đương thời của nền kinh tế nước ta (bình quân 1000 người dân mới có một doanh nghiệp, chỉ có 700 doanh nghiệp có vốn đăng ký hơn 20 tỷ đồng) dường như còn quá sớm .
Luật Doanh nghiệp ngày 29 tháng 11 năm 2005 xem xét sáp nhập doanh nghiệp như hình thức tổ chức lại doanh nghiệp xuất phát từ nhu cầu tự thân của doanh nghiệp: “Một hoặc một số công ty cùng loại (sau đây gọi là công ty bị sáp nhập) có thể sáp nhập vào một công ty khác (sau đây gọi là công ty nhận sáp nhập) bằng cách chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp sang công ty nhận sáp nhập, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của công ty bị sáp nhập” (Điều 153)
Điều 152 xem xét hợp nhất doanh nghiệp là việc “Hai hoặc một số công ty cùng loại (sau đây gọi là công ty bị hợp nhất) có thể hợp nhất thành một công ty mới (sau đây gọi là công ty hợp nhất) bằng cách chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp sang công ty hợp nhất, đồng thời chấm dứt tồn tại của các công ty bị hợp nhất”
Điều 145 Luật Doanh nghiệp có nói đến việc bán doanh nghiệp tư nhân (“Chủ doanh nghiệp tư nhân có quyền bán doanh nghiệp của mình cho người khác”). Trong Luật Doanh nghiệp không đề cập đến mua lại doanh nghiệp nói chung.
Nghị định số 103/1999/ND-CP ngày 10/9/1999 của Chính phủ về giao, bán, khoán kinh doanh, cho thuê doanh nghiệp Nhà nước và Nghị định của Chính phủ số 49/2002/NĐ-CP ngày 24/4/2002 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 103/1999/NĐ-CP ngày 10/9/1999 của Chính phủ về giao, bán, khoán kinh doanh, cho thuê doanh nghiệp nhà nước – quy định về giao, bán, khoán kinh doanh, cho thuê toàn bộ một doanh nghiệp, áp dụng đối với các doanh nghiệp nhà nước độc lập và các doanh nghiệp thành viên hạch toán độc lập của Tổng công ty có vốn nhà nước ghi trên sổ sách kế toán dưới 5 tỷ đồng, Nhà nước không cần nắm giữ cổ phần hoặc không cổ phần hóa được.
Theo các nhà đầu tư tài chính, việc mở rộng đối tượng được mua toàn bộ doanh nghiệp Nhà nước sẽ giúp tạo thêm một kênh thu hút vốn đầu tư nước ngoài mới. Điểm hấp dẫn của hoạt động này là so với việc thành lập doanh nghiệp mới, nhà đầu tư nước ngoài có thể giảm bớt nhiều thủ tục giấy tờ và rút ngắn thời gian xây dựng hạ tầng cùng mạng lưới khách hàng. Bên cạnh đó, họ có quyền lựa chọn việc có sử dụng hay không lực lượng lao động sẵn có, lựa chọn cách thức thuê, mua quyền sử dụng đất ngay trên địa điểm của doanh nghiệp Nhà nước cũ.
Những khó khăn khi mua doanh nghiệp Nhà nước cũng dễ dàng cảm nhận được: những đơn vị đem bán hầu hết là nợ nần thua lỗ kéo dài, dẫn đến vốn âm nên không thể thực hiện cổ phần hóa (bán cổ phần không ai mua). Chính vì thế, Chính phủ đã đưa ra hai phương thức giải quyết: đấu thầu (nếu người mua muốn mua trọn gói công ty bao gồm cả lao động) hoặc đấu giá (nếu chỉ mua tài sản).
Điều 21 Luật Đầu tư ngày 29 tháng 11 năm 2005 lần đầu tiên quy định “Đầu tư thực hiện việc sáp nhập và mua lại doanh nghiệp” như một trong những hình thức đầu tư trực tiếp.
Đầu tư trực tiếp được thực hiện dưới các hình thức:
-Đóng góp vốn để thành lập doanh nghiệp mới hoặc để tham gia quản lý hoạt động đầu tư
-Mua toàn bộ hoặc một phần doanh nghiệp đang hoạt động
-Mua cổ phiếu để thôn tính hoặc sáp nhập doanh nghiệp
Theo Điều 3 Luật Đầu tư, “Đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản để tiến hành các hoạt động đầu tư”, “Hoạt động đầu tư là hoạt động của nhà đầu tư trong quá trình đầu tư bao gồm các khâu chuẩn bị đầu tư, thực hiện và quản lý dự án đầu tư”, “Đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư”.
Trước đây, Điều 31 Nghị định 27/2003 sửa đổi một số điều của Nghị định 24/2000 ngày 31-7-2000 quy định chi tiết thi hành Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam quy định: “Sáp nhập doanh nghiệp” là việc một hay một số doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (gọi là doanh nghiệp bị sáp nhập) chuyển toàn bộ vốn bằng tiền và tài sản của mình để sáp nhập vào một doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài khác (gọi là doanh nghiệp nhận sáp nhập); d) “Hợp nhất doanh nghiệp” là việc hai hay một số doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (gọi là doanh nghiệp bị hợp nhất) mang toàn bộ vốn bằng tiền và tài sản của mình để hợp nhất với nhau chuyển thành một doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài mới (gọi là doanh nghiệp hợp nhất).
Như vậy, theo pháp luật Việt nam hiện hành, sáp nhập và mua lại doanh nghiệp được xem xét dưới nhiều góc độ: như một trong các hành vi tập trung kinh tế, như một trong những hình thức tổ chức lại doanh nghiệp và như một trong những hình thức đầu tư trực tiếp.

1. 2. Khái niệm sáp nhập, mua lại trên thế giới:
Trên thế giới, các vụ sáp nhập, mua lại có thể được phân thành 3 loại: chiều ngang, chiều dọc và kết khối.
- Sáp nhập theo chiều ngang: sáp nhập giữa các công ty trên cùng một tuyến kinh doanh và trên cùng một thị trường nhằm tăng hiệu quả và để chiếm được quyền lực thị trường;
- Sáp nhập theo chiều dọc: sáp nhập giữa các công ty tham gia vào các giai đoạn khác nhau của quá trình sản xuất và tiếp cận thị trường, nhằm giảm chi phí giao dịch và các chi phí khác thông qua việc quốc tế hóa các giai đoạn khác nhau của quá trình sản xuất và phân phối;
- Sáp nhập kết khối: sáp nhập giữa các công ty trong các lĩnh vực kinh doanh khác nhau và không có liên quan, nhằm giảm cơ bản rủi ro và để khai thác các hình thức kinh tế khác nhau trong các lĩnh vực tài chính, tài nguyên v.v…
Việc sáp nhập hai công ty sản xuất hoặc kinh doanh sản phẩm cùng loại hoặc tương tự có thể dẫn đến sự giảm bớt các chi phí sản xuất và chi phí thị trường. Việc sáp nhập hai công ty, trong đó một bên cung cấp nguyên liệu cho quá trình sản xuất ra sản phẩm hoàn chỉnh của bên kia, có thể đem lại sự cắt giảm tổng chi phí tổng và chi phí kho tàng.
Các vụ sáp nhập, mua lại hiện nay đã trở thành một hình thức đầu tư thông dụng của các công ty muốn bảo vệ, củng cố và thúc đẩy vị trí của mình bằng cách sỏp nhập, mua lại công ty khác từ đó tăng cường khả năng cạnh tranh của mình.
Ngoài ra, yêu cầu giảm bớt các chí phí tăng cao của hoạt động nghiên cứu và phát triển trên một khu vực địa lý rộng hơn và việc mở ra các thị trường mới cho cạnh tranh đã thúc đẩy tốc độ của các vụ sáp nhập và mua lại trong quá trình tổng thể của cả đầu tư trong nước và nước ngoài.
Sáp nhập và mua lại cũng là một hướng cho việc cơ cấu lại công ty. Cú thể phân loại tất cả các hoạt động cơ cấu lại bao gồm: chia các hoạt động kinh doanh, bán các bộ phận không phải chủ lực, giảm bớt lực lượng lao động, tỡm đối tác mới, hoặc chuyển trọng tâm chiến lược của toàn bộ nhóm .
Có thể kể ra hàng loạt các động cơ chiến lược khác nhau đã đưa các công ty đến việc sáp nhập và mua lại. Động cơ chính đằng sau những vụ sáp nhập bao gồm:
- Để tận dụng cạnh tranh hoặc để đạt được lợi nhuận độc quyền;
- Để tận dụng sức mạnh thị trường chưa được tận dụng hết;
- Để phản ứng lại những cơ hội tăng trưởng hoặc lợi nhuận đang bị thu hẹp trong một ngành công nghiệp do nhu cầu giảm hoặc cạnh tranh quá mức;
- Để đa dạng hoá nhằm giảm rủi ro trong kinh doanh;
- Để đạt được quy mô đủ lớn nhằm tận dụng yếu tố kinh tế nhờ quy mô trong sản xuất hoặc phân phối;
- Để vượt qua được những mặt hạn chế trong một công ty bằng cách mua lại những nguồn lực bổ sung cần thiết, các sáng chế hoặc các nhân tố sản xuất khác;
- Nhằm đạt được quy mô đủ lớn để tiếp cận có hiệu quả tới thị trường vốn hoặc việc quảng cáo với giá phải chăng;
- Để sử dụng một cách toàn diện hơn nữa những nguồn lực hoặc nhân lực cụ thể do công ty kiểm soát, đặc biệt là năng lực quản lý;
- Để sa thải đội ngũ quản lý hiện tại;
- Để sử dụng các lợi ích về thuế mà nếu không có sáp nhập sẽ không có được;
- Để mua lại những tài sản với giá thấp hơn giá thị trường;
- Để tăng trưởng mà không phải trải qua thời kỳ chờ đợi .
Tổng hợp lại, chúng ta có thể thấy ba động cơ chính của hoạt động sáp nhập, mua lại trên thế giới là: động cơ tài chính, động cơ đầu tư và động cơ chiến lược.

II.Sáp nhập, mua lại trên thế giới

2.1. Sáp nhập, mua lại trên thế giới
Theo kết quả nghiên cứu của Công ty thống kê tài chính Thomson Financial, năm 2005 là năm diễn ra các hoạt động sáp nhập và mua bán công ty đạt mức kỷ lục, với tổng giá trị các hợp đồng giữa các tập đoàn kinh tế lớn lên tới 2.703 tỷ USD, tăng 38,4% so với năm 2004. Trong năm qua, các hợp đồng sát nhập và mua bán cổ phần công ty chủ yếu được thực hiện trong lĩnh vực năng lượng. Số lượng các hợp đồng loại này tại châu Âu tăng 49% và tại Mỹ tăng 30%. Trong số các hợp đồng sáp nhập và mua cổ phần lớn nhất năm 2005 có hợp đồng tập đoàn Procter and Gamble (P&G) mua tập đoàn Gillette (cùng của Mỹ) với 57,2 tỷ USD, và tập đoàn tài chính Mitsubishi Tokyo Financal Group tại Nhật Bản mua Ngân hàng UFJ với số tiền 41,4 tỷ USD. Sau hai năm 2002 và 2003 ngừng trệ vì các doanh nghiệp không dám mạo hiểm đầu tư, các hoạt động sáp nhập và mua cổ phần công ty đã bắt đầu nhộn nhịp trở lại kể từ năm 2004, chủ yếu là nhờ sự tăng trưởng của các thị trường chứng khoán và việc các ngân hàng trung ương áp dụng mức lãi suất thấp. Những người được hưởng lợi nhiều nhất từ các hoạt động này chính là các ngân hàng, với vai trò tư vấn và cho vay vốn, trong đó ngân hàng đầu tư Goldman Sachs của Mỹ dẫn đầu thế giới. Ngân hàng này đã tham gia vào 432 hoạt động mua bán cổ phần và sáp nhập với tổng số tiền 867 tỷ USD, vượt qua cả Morgan Stanley, JP Morgan, Citigroup và UBS. Các hoạt động sáp nhập và mua bán cổ phần giữa các tập đoàn kinh tế lớn trên thế giới sẽ tiếp tục tăng trong năm 2006 .
Một liên minh gồm các quan chức và thương gia Trung Quốc đã lên tiếng bày tỏ lo ngại rằng việc bán ồ ạt các cổ phần của các doanh nghiệp Trung Quốc có thể dẫn tới sự độc quyền của nước ngoài trong các ngành then chốt của nền kinh tế. Nếu cứ để cho các hoạt động sáp nhập và mua lại có chủ ý của các công ty đa quốc gia tiến triển tự do, Trung Quốc chỉ còn hoạt động như là nguồn nhân công trong mạng lưới cung cấp toàn cầu .
Xem xét các vụ sáp nhập, mua lại trên thế giới chúng ta thấy:
-Hầu hết các vụ sáp nhập, mua lại này đều được diễn ra giữa các công ty của các nước phát triển. Theo báo cáo đầu tư thế giới của UNCTAD, chỉ có 8% các vụ sáp nhập lớn diễn ra ở các quốc gia nằm ngoài các nước công nghiệp hóa. Các vụ sáp nhập lớn thường diễn ra ở Anh và Mỹ và bên cạnh việc điều tiết bằng luật cạnh tranh là điều chỉnh việc mua bán sáp nhập bằng các tiền lệ; ở châu Âu lục địa thường chỉ diễn ra các vụ sáp nhập, mua bán nhỏ – chủ yếu là sáp nhập, mua bán các công ty nhỏ và có tính chất gia đình.
-Các vụ sáp nhập, mua lại thường chỉ tập trung vào một số ít ngành ngân hàng, công nghiệp dầu khí, các công ty dược phẩm, cụng nghệ thụng tin và ngành công nghiệp ôtô với sự chi phối bởi những hoàn cảnh cụ thể liên quan đến một ngành công nghiệp nhất định. ở các ngành khác các vụ sáp nhập lớn ớt diễn ra. Vì vậy, chúng ta cần phải thận trọng khi kết luận rằng chúng ta đang chứng kiến một xu hướng toàn cầu đang lan rộng và có ảnh hưởng tới tất cả các ngành công nghiệp. Song song với các vụ sáp nhập, mua lại lớn là một xu hướng phân tán đầu tư, bởi các công ty tìm kiếm trọng tâm mạnh hơn trong lĩnh vực kinh doanh chủ lực của mình.
- Sự ghi nhận về sáp nhập, mua lại không phải lúc nào cũng tích cực. Nghiên cứu cho thấy hầu hết các vụ sáp nhập, mua lại không đạt được các lợi ích như dự kiến. Theo một số nguồn tin: chỉ khoảng 15% các vụ sáp nhập đạt được các mục tiêu hợp lực của chúng, 15% các vụ sáp nhập khác dẫn đến những kết quả bi thảm, 70% còn lại chỉ có một ảnh hưởng không rõ rệt.

2.2. Điều tiết sáp nhập, mua lại trên thế giới

Trên thế giới, M&A được xem xét, điều tiết chủ yếu từ góc độ của pháp luật về cạnh tranh .
Nhìn chung các điều khoản về sáp nhập, mua lại trong Luật cạnh tranh ở các nước trên thế giới không có tính bắt buộc. Cụ thể là không cần thiết phải rà soát một cách hệ thống và thông qua tất cả các vụ sáp nhập, mua lại. Yêu cầu thông báo về mọi vụ sáp nhập, mua lại sẽ tạo ra gánh nặng không đáng có cho cơ quan quản lý, làm phát sinh các khoản chi phí không hợp lý và làm chậm quá trình sáp nhập, mua lại .
Theo Điều 91 Luật Cạnh tranh Canada (Bản sửa đổi bổ sung năm 1985), sáp nhập được hiểu là việc mua hoặc thiết lập, trực tiếp hay gián tiếp, bởi một hay nhiều người, bằng cách mua hay thuê mua cổ phần hoặc tài sản, sự kiểm soát đối với toàn bộ hay một phần của hoạt động kinh doanh của một đối thủ cạnh tranh, nhà cung cấp, khách hàng hoặc một người nào khác bằng cách kết hợp hay liên kết hoặc hình thức khác .
Ở các n­ước trên lãnh thổ Liên Xô trước đây (các nước SNG), pháp luật cạnh tranh tạo ra hành lang pháp lý để kiểm soát các hoạt động có tính chất tập trung quyền lực kinh tế (hợp nhất, sáp nhập, mua lại quyền điều hành, dưới mọi hình thức theo chiều ngang, chiều dọc hay liên kết tập đoàn). Khi quy định cụ thể về sáp nhập, phần lớn các nước SNG thiết lập cơ chế thông báo trước khi hoàn thành việc sáp nhập. Việc thông báo này chỉ có tính bắt buộc khi các doanh nghiệp liên quan sẽ có (hoặc hầu như sẽ đạt được) một quyền lực trên thị trường ở mức nhất định. Trong thời gian quy định, các bên tham gia giao dịch phải thông báo trước việc sáp nhập cho cơ quan chống độc quyền, nêu rõ tất cả các thông tin cần thiết. Các thông tin phải cung cấp có thể gồm các hoạt động chủ yếu, khối lượng hàng hóa sản xuất và bán hàng năm, thị phần của các bên, mục đích sáp nhập/ mua lại và các vấn đề tương tự. Không có quyết định cho phép sáp nhập của cơ quan chống độc quyền, doanh nghiệp mới hình thành sẽ không được đăng ký pháp nhân một cách chính thức (Kazakhstan, Liên bang Nga, Belarus, Grudia, Kyrgyzstan Cộng hòa Moldova) .

Cách đây không lâu, việc mua lại quyền kiểm soát công ty ở Nhật Bản còn hiếm, như¬ng hiện giờ các hoạt động này đang diễn ra nhộn nhịp nhờ vào những quy chế mới về kế toán; xóa bỏ dần tình trạng cổ phần chéo truyền thống có thời từng là một rào cản lớn đối với các hoạt động sáp nhập và mua lại công ty. Những rào cản truyền thống cản trở các hoạt động mua bán, sáp nhập công ty đang từng b¬ước đ¬ược dỡ bỏ từ khi Luật Giao dịch và Chứng khoán được sửa đổi năm 1990.
Uỷ ban Thương mại Lành mạnh của Hàn Quốc có Thông báo về hướng dẫn đánh giá sáp nhập và mua lại ngày 15 tháng 6 năm 2003 phân biệt rõ sáp nhập và mua lại theo hàng ngang là việc sáp nhập và mua lại giữa các thực thể cạnh tranh, sáp nhập và mua lại theo hàng dọc là việc sáp nhập và hợp nhất giữa các thể nhân công ty có quan hệ với nhau trong quá trình sản xuất và phân phối từ khâu sơ chế nguyên liệu thô đến sản xuất và bán hàng hoá .

Xem xét sáp nhập, mua lại doanh nghiệp trên thế giới chúng ta có thể rút ra các kết luận sau:
-Quan niệm phổ biến về Mergers & Acquisions (M&A) trên thế giới được hiểu bao gồm không chỉ sáp nhập, mua lại mà còn gồm cả hợp nhất và giành quyền kiểm soát đối với doanh nghiệp.
-Phân tích về sáp nhập, hợp nhất, chúng ta thấy đó không phải là hoạt động đầu tư theo nghĩa thông thường mà về bản chất đó là sự tối ưu hoá đầu tư. Chỉ có mua lại, giành quyền kiểm soát mới thực sự là bỏ vốn để tiến hành hoạt động đầu tư. Bởi vậy khi xây dựng khung pháp lý điều tiết cần lưu ý điểm khác biệt này .
- Việc nhìn nhận sáp nhập, mua lại không phải xu hướng toàn cầu và chỉ ảnh hưởng rất ít đến các nước đang phát triển như Việt Nam sẽ giúp chúng ta có quan điểm đúng đắn khi sử dụng sáp nhập, mua lại như công cụ để thu hút đầu tư.

III. Khung pháp lý điều tiết sáp nhập, mua lại doanh nghiệp như hình thức đầu tư trực tiếp ở Việt Nam

3.1. Sự cần thiết xây dựng khung pháp lý điều tiết sáp nhập, mua lại doanh nghiệp như hình thức đầu tư trực tiếp ở Việt Nam
Về đại cương, khung pháp luật và thể chế bao gồm: hệ thống quy phạm có hiệu lực bắt buộc tạo điều kiện cho thị trường xuất hiện; một quy trình ban hành, sửa đổi và thực thi pháp luật hợp lý, đơn giản, minh bạch, có sự tham gia của các chủ thể có liên quan, có thể dự đoán trước và tin cậy được và một hệ thống các thiết chế với những nhân viên có nghiệp vụ, tuân theo pháp luật, không tuỳ tiện khi thi hành công vụ .
Mọi quốc gia đều có khung thể chế cho hoạt động đầu tư của các doanh nghiệp. Tại các nước chuyển đổi và các nước mới phát triển thì đây là công cụ của Nhà nước để điều chỉnh các chính sách của mình trong giai đoạn cụ thể. Hình thức biểu hiện của thể chế đầu tư chính là các luật về đầu tư và khuyến khích đầu tư, đặc biệt là khuyến khích đầu tư nước ngoài. Nhìn chung, chính sách của các nước là tăng cường các biện pháp đảm bảo đầu tư cho các nhà đầu tư nước ngoài cũng như trong nước. Việc các nhà đầu tư trong nước và ngoài nước đều được hưởng chung những quyền và nghĩa vụ đối với việc đầu tư là một trong những phương pháp mà Thái Lan, Singapore, Malaysia sử dụng để khuyến khích đầu tư. Các lĩnh vực hạn chế đầu tư nước ngoài bị loại bỏ dần dần đến mức không còn hạn chế nào về ngành nghề kinh doanh chứng tỏ việc bảo hộ các nhà đầu tư trong nước cũng quan trọng nhưng không thể quan trọng việc khuyến khích đầu tư nước ngoài. Hầu hết các nước đều mở cửa cho đầu tư trực tiếp nước ngoài và cố gắng tăng tỷ lệ mức sở hữu nước ngoài đối với nền kinh tế trong nước. Luật đầu tư trực tiếp nước ngoài (sửa đổi) của Hàn Quốc cho phép mua bán trong những ngành không phải ngành chiến lược mà không cần có sự phê duyệt của Chính phủ, tăng mức trần về mức độ tham gia của nước ngoài từ 10 lên 33% mà không cần có sự phê chuẩn của Ban giám đốc doanh nghiệp, không hạn chế đối với sở hữu nước ngoài về đất đai, bất động sản, nhà đầu tư nước ngoài được phép đầu tư góp vốn cổ phần trong các công ty không có tên trên thị trường chứng khoán. Thái Lan cũng thể hiện thái độ của mình đối với các nhà đầu tư nước ngoài trong Luật Đầu tư, theo đó, các nhà đầu tư nước ngoài được phép thành lập doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài và mở cửa ngành công nghiệp chế tạo (trước dây vốn là ngành được bảo hộ của Thái Lan). Ngay cả Trung Quốc, một nước được đánh giá là có chính sách đầu tư trực tiếp nước ngoài khắt khe nhất cũng thực hiện những chính sách khuyến khích đầu tư phù hợp với việc gia nhập WTO .
Về nguyên tắc, khi sáp nhập, hợp nhất với nhau giá trị của doanh nghiệp hợp nhất bao giờ cũng phải lớn hơn giá trị của các doanh nghiệp riêng lẻ cộng lại mới được xem xét, tiến hành (1+1>2). Sau sáp nhập, mức doanh lợi vốn chủ sở hữu, tốc độ tăng mức doanh lợi vốn chủ sở hữu đều phải tăng. Từ các công ty nhỏ, lẻ kết hợp lại thành một công ty có quy mô lớn nên khả năng bị triệt tiêu trên thương trường rất khó xảy ra; doanh nghiệp cũng có khả năng đáp ứng tốt hơn yêu cầu về nghiên cứu khoa học, ứng dụng công nghệ, giảm bớt các rủi ro trong kinh doanh, tiết kiệm được chi phí cố định (quản lý, điều hành, quảng cáo, văn phòng, marketing…), tiết kiệm được chi phí đào tạo nhân lực do sắp xếp, bố trí hợp lý hơn nguồn nhân lực, tăng khả năng cạnh tranh của sản phẩm, tăng vốn đầu tư, có khả năng mở rộng ngành nghề kinh doanh… Đó là những cái lợi mà sáp nhập doanh nghiệp có thể mang lại. Mặc dù vậy, sáp nhập doanh nghiệp không tránh khỏi phải đối mặt với những vấn đề khá phức tạp như độc quyền, thuế, kế toán, chuyển đổi tài sản, phân chia lợi nhuận, trách nhiệm giải quyết các khoản nợ chưa thanh toán của các doanh nghiệp hợp nhất, giải quyết lao động dôi dư, môi trường văn hóa doanh nghiệp, bảo vệ môi trường, tính toán các vấn đề hậu sáp nhập làm sao cho giá trị doanh nghiệp ngày càng tăng để hấp dẫn các nhà đầu tư.
Việc xây dựng khung pháp lý điều tiết sáp nhập, mua lại như hình thức đầu tư là hết sức cần thiết, đặc biệt dưới góc độ khuyến khích liên kết các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Tính đến cuối năm 2005, nước ta có gần 170.000 doanh nghiệp và số doanh nghiệp ngày một tăng. Tuy nhiên nếu so sánh tương quan giữa doang nghiệp Việt nam và nước ngoài thì ngoài những yéu kém về kinh nghiệm thương trường, thiếu vắng lớp người có khả năng quản trị, doanh nghiệp Việt nam còn thua kém rất nhiều ở khả năng tài chính. Mức vốn đăng ký bình quân của các công ty và doanh nghiệp tư nhân ngoài quốc doanh trong năm 2002 là 2,6 tỷ đồng. Chỉ có 42% doanh nghiệp Nhà nước có số vốn lớn hơn 20 tỷ đồng (tương đương với khoảng 1,2 triệu USD) . Như vậy tuyệt đại bộ phận doanh nghiệp Việt Nam có quy mô nhỏ hơn so với đối thủ nước ngoài, trong cuộc chạy đua không cân sức, việc liên kết nói chung và sáp nhập, hợp nhất, mua lại…giữa các doanh nghiệp Việt Nam là tất yếu và cần được Nhà nước khuyến khích.

Đồng thời, trong một thế giới đang toàn cầu hoá, các công ty trong nước cần phải trở thành những công ty toàn cầu; sáp nhập và mua lại là một cách để trở thành một công ty tầm cỡ thế giới
Những “đám cưới voi” giữa các tập đoàn lớn trong những năm gần đây cảnh báo các nước đang phát triển về sự cần thiết phải phối hợp các nguồn lực của quốc gia để có một sức mạnh kinh tế đủ chống đỡ sự de doạ của độc quyền nước ngoài.
Yêu cầu đặt ra là Nghị định hướng dẫn thi hành Luật Đầu tư không chỉ cụ thể hoá các quy định của Luật mà còn quy định hướng dẫn nhằm đảm bảo cho nhà đầu tư biết rõ quy trình hoạt động đầu tư, quyền và nghĩa vụ của nhà đầu tư, công khai, minh bạch thủ tục đầu tư. Trong Nghị định rõ ràng cần có quy định để nhà đầu tư biết rõ khi sáp nhập, mua lại doanh nghiệp sẽ phải làm những thủ tục gì, sẽ có quyền và nghĩa vụ gì…

3.2. Xây dựng khung pháp lý điều tiết sáp nhập, mua lại doanh nghiệp như hình thức đầu tư trực tiếp ở Việt Nam:
Cần phải thấy rằng dân doanh Việt nam đang ở trong giai đoạn từ tiểu chủ trở thành doanh nghiệp nhỏ và vừa, quá trình thôn tính lẫn nhau và tập trung tư bản thành các đại tập đoàn chưa phổ biến. Những cuộc tích luỹ tư bản đáng kể xét về hình thức chỉ có thể xảy ra trong khu vực kinh tế quốc doanh mà điển hình là sáp nhập, hợp nhất để hình thành các tập đoàn, các tổng công ty nhà nước và có thể xảy ra trong khu vực có vốn đầu tư nước ngoài.
Về khung pháp lý điều tiết sáp nhập, mua lại doanh nghiệp như hình thức đầu tư trực tiếp ở Việt Nam chúng ta có thể rút ra những kết luận sau:
-Không nhất thiết phải có hướng dẫn chi tiết cho sáp nhập, mua lại doanh nghiệp như hình thức đầu tư trực tiếp. Trong Nghị định hướng dẫn chỉ cần nêu ra những chủ trương chung, mang tính chất định hướng về những vấn đề như: có cần đăng ký việc sáp nhập, mua lại doanh nghiệp như hình thức đầu tư trực tiếp không? Quan điểm điều chỉnh sáp nhập, mua lại doanh nghiệp như hình thức đầu tư trực tiếp như thế nào, khuyến khích sáp nhập, mua lại bằng những ưu đãi gì…
-Cần lưu ý là phần lớn các nhà đầu tư nước ngoài khi đến tham khảo ý kiến các công ty tư vấn pháp lý trong quá trình ra quyết định đầu tư thường đặt các mối quan tâm của mình theo thứ tự sau: Các quyền kinh doanh cụ thể là gì? Môi trường pháp lý như thế nào? Các loại thuế áp dụng ở mức cụ thể là bao nhiêu và cuối cùng mới là có những mức ưu đãi gì? Theo thông lệ quốc tế về pháp luật đầu tư, ưu đãi đầu tư là một trong những nội dung quan trọng nhất trong chính sách đầu tư của một quốc gia. Hiện nay, ưu đãi đầu tư ở Việt Nam được ấn định dựa trên kế hoạch của nhà đầu tư, và thường được quyết định trước khi dự án đầu tư được thực tế triển khai. Điều này là trái với thông lệ quốc tế theo đó ưu đãi đầu tư phải dựa trên cơ sở kết quả hoạt động (hậu ưu đãi) chứ không dựa trên kế hoạch hay đề xuất (tiền ưu đãi) Đề xuất của chúng tôi là Việt Nam xây dựng hệ thống ưu đãi dựa trên hình thức trợ cấp đầu tư – ưu đãi được cấp theo tỷ lệ phần trăm của tổng chi phí đầu tư trong năm tính thuế thu nhập doanh nghiệp và sẽ được khấu trừ đi từ thuế thu nhập doanh nghiệp. Đây là phương thức đã được áp dụng thành công ở một số nước
-Việc sử dụng sáp nhập, mua lại doanh nghiệp như hình thức để thu hút đầu tư trực tiếp từ các nhà đầu tư nước ngoài đặc biệt trong việc mua lại, giành quyền kiểm soát các doanh nghiệp nhà nước cổ phần hoá cần được xem xét kỹ lưỡng, cân nhắc hiệu quả của chính sách.

IV. Khung pháp lý điều tiết sáp nhập, mua lại doanh nghiệp như cơ sở để hình thành thị trường mua bán doanh nghiệp ở Việt Nam.

4.1. Sự cần thiết xây dựng khung pháp lý điều tiết sáp nhập, mua lại doanh nghiệp như cơ sở để hình thành thị trường mua bán doanh nghiệp ở Việt Nam.
Khung pháp lý điều tiết sáp nhập, mua lại doanh nghiệp chính là cơ sở để hình thành một loại thị trường mới, rất quan trọng trong nền kinh tế thị trường – thị trường mua bán doanh nghiệp ở Việt Nam.
Thị trường mua bán công ty ở Việt Nam đang trở thành một thị trường tiềm năng, với mức phát triển không nhỏ, trên dưới 30-40%/năm .
Hiện tại, ở Việt Nam có khoảng 6 000 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, 170 000 doanh nghiệp trong nước, 5 000 doanh nghiệp nhà nước, 15 000 hợp tác xã nếu có khung pháp lý và tạo ra được nhu cầu để những chủ thể trên tham gia vào thị trường mua bán doanh nghiệp chúng ta sẽ có khối lượng giao dịch không nhỏ trên thị trường này.

Ở Việt Nam đã thực hiện nhiều vụ mua bán doanh nghiệp, điển hình như:
- Picnic Gas – một công ty Thái Lan đã mua một nhà máy sản xuất vỏ bình gas từ một công ty tư nhân và một cơ sở kinh doanh khí hoá lỏng (LPG) – bao gồm tất cả tài sản, máy móc, nhà máy và tên thương mại – của một doanh nghiệp nhà nước Việt Nam
- Christian Bernard Diffusion (CBD) – một công ty Pháp đã mua toàn bộ phần vốn góp của Yue Cheong Co., Ltd. – một công ty 100% vốn nước ngoài tại Việt Nam chuyên sản xuất đồ trang sức xuất khẩu.
- Trenergy Gas – một công ty Malaysia đã bán một nhà máy lớn cho V-Trac trước khi chấm dứt mọi hoạt động của mình tại Việt Nam…
- Công ty Công trình giao thông 677 (trực thuộc Cienco 6 – Bộ Giao thông vận tải – một doanh nghiệp Nhà nước được đem rao bán cho các nhà đầu tư tổ chức và cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế, kể cả các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam .
Tuy nhiên, doanh nghiệp Việt Nam chưa có nhiều thông tin, hiểu biết về các điều kiện, thủ tục sáp nhập, mua lại doanh nghiệp. Khuôn khổ pháp lý cho hoạt động này tại Việt Nam chưa được quy định cụ thể, xác định chi phí thực hiện giao dịch mua lại doanh nghiệp chưa rõ ràng; thông tin về các công ty sáp nhập, mua lại chưa được cập nhật đầy đủ, thiếu tính minh bạch; nhiều doanh nghiệp chưa tham gia vào thị trường chứng khoán, vai trò kiểm toán chưa được quan tâm gây khó khăn cho việc tìm hiểu về tình hình hoạt động, tài chính của các công ty… là những cản trở không nhỏ cho việc thực hiện sáp nhập, mua bán doanh nghiệp. Theo một chuyên gia của Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương: sáp nhập, mua lại doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay chủ yếu mới chỉ được thực hiện đối với các doanh nghiệp Nhà nước yếu kém, khó tồn tại độc lập hoặc có nguy cơ phá sản… vào một doanh nghiệp Nhà nước khác theo kiểu mệnh lệnh hành chính, nên chưa thể phản ánh đầy đủ tính ưu việt của nó.
Tăng cường tính minh bạch trong cung cấp thông tin về các công ty thực hiện sáp nhập, hợp nhất, mua bán, giành quyền kiểm soát và một khuôn khổ pháp lý cụ thể, rõ ràng cho việc mua bán, sáp nhập doanh nghiệp là rất cần thiết.
Sáp nhập doanh nghiệp, theo phân tích của các chuyên gia kinh tế là một trong những giải pháp tổ chức lại các doanh nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động. Sáp nhập, mua bán doanh nghiệp đối với thế giới không có gì mới. Tuy nhiên, đối với Việt Nam lại là một bước đi mới mẻ. Trong chương trình cải cách doanh nghiệp của Việt Nam, ngoài các hình thức chuyển đổi, đa dạng hóa sở hữu như cổ phần hóa, khoán kinh doanh, cho thuê doanh nghiệp… còn có hình thức bán, sáp nhập, hợp nhất doanh nghiệp… Tuy nhiên, các hình thức trên vẫn chưa được áp dụng phổ biến.
Theo học thuyết về chi phí giao dịch của R. Coase, luật pháp suy cho cùng cũng là một yếu tố tạo nên chi phí giao dịch trong kinh doanh. Khi thực hiện giao dịch, nhà kinh doanh phải chi phí cho: a) nghiên cứu và thông tin, b) thương thảo và quyết định, c) ra chính sách và triển khai thực hiện. Luật pháp minh bạch, ổn định, có thể dự báo được và tin cậy sẽ làm giảm rủi ro kinh doanh, điều đó làm giảm chi phí giao dịch, từ đó giao lưu kinh tế sẽ tăng . Từ đây có thể thấy việc xây dựng khung pháp lý hoàn chỉnh điều tiết sáp nhập, mua lại sẽ làm giảm chi phí giao dịch, làm hình thành và thúc đẩy thị trường mua bán doanh nghiệp.
Báo cáo của Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá IX về các văn kiện Đại hội X của Đảng chỉ rõ: “Cần tiến hành đồng thời cả ba mặt: Nâng cao vai trò và hiệu lực quản lý của Nhà nước. Nhà nước tập trung làm tốt các chức năng: Định hướng sự phát triển bằng các chiến lược, quy hoạch và chính sách trên cơ sở tôn trọng và tuân thủ các nguyên tắc của thị trường. Tạo môi trường pháp lý thuận lợi để phát huy các nguồn lực của xã hội phát triển…Phát triển đồng bộ và quản lý có hiệu quả sự vận hành của các loại thị trường cơ bản theo hướng cạnh tranh thuận lợi…Phát triển mạnh các thành phần kinh tế, các loại hình tổ chức sản xuất, kinh doanh…Chúng ta chủ trương xây dựng và thực hiện Chiến lược quốc gia về phát triển doanh nghiệp, xây dựng một hệ thống doanh nghiệp Việt Nam có sức cạnh tranh cao, chủ lực là một số tập đoàn và công ty lớn dựa trên hình thức cổ phần… đồng thời thu hút mạnh nguồn lực của các nhà đầu tư nước ngoài”.
4.2. Xây dựng khung pháp lý điều tiết sáp nhập, mua lại doanh nghiệp ở Việt Nam như cơ sở của thị trường mua bán doanh nghiệp
Câu hỏi đặt ra là ở Việt Nam đã hình thành thị trường mua bán doanh nghiệp hay chưa? Theo chúng tôi, thị trường mua bán doanh nghiệp ở Việt Nam chỉ coi là được hình thành khi doanh nghiệp thực sự trở thành hàng hoá. Không phải cứ có hoạt động mua bán doanh nghiệp là có thị trường mua bán doanh nghiệp mà chỉ khi hoạt động này phát triển đến một mức độ nhất định thì mới có thị trường mua bán doanh nghiệp.
Không thị trường nào tồn tại được ở một nơi trống không, thị trường chỉ tồn tại trên cơ sở các khung pháp lý do Nhà nước đưa ra. Cách thức Nhà nước quyết định điều chỉnh thị trường là rất quan trọng.
Hiện tại thị trường mua bán doanh nghiệp vẫn chưa được xác định rõ ràng ngay cả trong những vấn đề có tính nguyên tắc như doanh nghiệp ở đây được xác định như một loại hàng hoá – thị trường mua bán doanh nghiệp sẽ như một bộ phận cấu thành của thị trường hoàng hoá, dịch vụ hay doanh nghiệp là một loại bất động sản và thị trường mua bán doanh nghiệp sẽ như một bộ phận cấu thành của thị trường bất động sản.
Trên thế giới hình thành nhiều quan điểm khác nhau về vấn đề này. Theo quan điểm của Pháp, doanh nghiệp là tập hợp các nhân tố, phương tiện vật chất, thiết bị, nhân công, vốn…nhằm sản xuất một số của cải vật chất hoặc để làm dịch vụ. Luật của Pháp có rất ít văn bản đề cập đến khái niệm doanh nghiệp, trong Luật Thương mại thường nói đến cơ sở kinh doanh là một trong những nhân tố của doanh nghiệp theo nghĩa kinh tế: đó là tổng thể các nhân tố hữu hình và vô hình thuộc sở hữu của nhà kinh doanh đem vào để kinh doanh. Cơ sở kinh doanh được coi là động sản và mọi nghiệp vụ liên quan đến cơ sở kinh doanh đều được coi là hành vi thương mại. Việc bán cơ sở kinh doanh ở Pháp được quy định trong Luật ngày 17 tháng 3 năm 1909 được Luật ngày 26 tháng 7 năm 1955 sửa đổi .
Điều 132 Bộ luật Dân sự của Liên bang Nga ngày 30 tháng 11 năm 1994, sửa đổi ngày 26 tháng 11 năm 2001 xem xét doanh nghiệpp như đối tượng của quan hệ pháp luật là tổng thể tài sản được sử dụng trong hoạt động kinh doanh và doanh nghiệp ở nghĩa này được coi là bất động sản. Doanh nghiệp hay một phần của nó có thể là đối tượng của hợp đồng mua bán, thế chấp, cho thuê và các hợp đồng khác gắn với việc xác định, thay đổi, chấm dứt các quyền tài sản .
Theo Điều 174 Bộ luật Dân sự 2005, bất động sản là các tài sản bao gồm: a) Đất đai; b) Nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai, kể cả các tài sản gắn liền với nhà, công trình xây dựng đó; c) Các tài sản khác gắn liền với đất đai; d) Các tài sản khác do pháp luật quy định. Như vậy ở cái nhìn đầu tiên theo pháp luật Việt Nam, doanh nghiệp không được coi là bất động sản nhưng theo mục d) doanh nghiệp cũng có thể được pháp luật quy định là bất động sản.
Xây dựng khung pháp lý điều tiết sáp nhập mua bán doanh nghiệp như hình thức đầu tư trực tiếp ở Việt Nam và như cơ sở để hình thành thị trường mua bán doanh nghiệp ở Việt Nam, do tính chất và phạm vi hướng dẫn của Nghị định hướng dẫn thi hành Luật Đầu tư và để đảm bảo tính đồng bộ của văn bản, theo chúng tôi cần có Nghị định riêng quy định chi tiết về sáp nhập, mua lại theo một số điều đã được đưa ra trong cả Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư. Điều tiết sáp nhập, mua bán doanh nghiệp sẽ nằm ở khoảng giao thoa, tiếp cận cả hai Luật kể trên.

V.Ý kiến đóng góp cụ thể cho quy định về sáp nhập, mua lại trong dự thảo Nghị định hướng dẫn thi hành Luật Đầu tư

Điều 11 Dự thảo Nghị định hướng dẫn thi hành Luật Đầu tư ngày 15 tháng 5 năm 2006 quy định:
1.Nhà đầu tư có quyền góp vốn, mua cổ phần, sáp nhập và mua lại doanh nghiệp để tham gia quản lý hoạt động đầu tư theo quy định của Luật Doanh nghiệp và pháp luật có liên quan và được đối xử bình đẳng không phân biệt trong việc góp vốn, mua cổ phần, sáp nhập và mua lại doanh nghiệp.
2.Nhà đầu tư nước ngoài không được góp vốn, mua cổ phần vượt quá cam kết về tỷ lệ mua, hình thức đầu tư và lộ trình quy định trong các Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.
3.Nhà đầu tư nước ngoài sáp nhập, mua lại công ty, chi nhánh tại Việt Nam phải đảm bảo các điều kiện sau:
a)Không được trái với các quy định về sáp nhập, mua lại doanh nghiệp theo quy định của Luật Doanh nghiệp
b)Trường hợp mà nhà đầu tư nước ngoài sáp nhập, mua lại doanh nghiệp tại Việt Nam mà có thị phần của nhà đầu tư nước ngoài hơn 30% trên thị trường trong năm thực hiện giao dịch sáp nhập, mua lại thì nhà đầu tư phải gửi cho cơ quan cấp Giấy chứng nhận đầu tư ý kiến bằng văn bản của cơ quan quản lý cạnh tranh để xem xét cấp Giấy chứng nhận đầu tư
4.Doanh nghiệp nhận sáp nhập và mua lại kế thừa các quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp bị sáp nhập và mua lại trừ các bên có thoả thuận khác.
Dựa trên một số cơ sở lý luận và thực tiễn đã trình bày ở trên, chúng tôi có những ý kiến sau để đóng góp cụ thể cho quy định về sáp nhập, mua lại trong dự thảo Nghị định hướng dẫn thi hành Luật Đầu tư:
1. Quy định về sáp nhập, mua lại là một bước tiến mới, tích cực, cho phép nhà đầu tư được tự chủ trong các quyết định đầu tư của mình, đặc biệt trong việc lựa chọn hình thức đầu tư và đây có thể là một phương thức hữu hiệu để tạo thêm điều kiện thu hút đầu tư nước ngoài.
2. Mục 1 khẳng định quyền và nguyên tắc bình đẳng không phân biệt trong việc góp vốn, mua cổ phần, sáp nhập và mua lại doanh nghiệp, tuy nhiên ngay ở Mục 2,3 đã có sự phân biệt đối với nhà đầu tư nước ngoài.
3. Mục 1 có thể nêu nguyên tắc khuyến khích Đầu tư theo hình thức góp vốn, mua cổ phần, sáp nhập và mua lại doanh nghiệp. Hiện tại, theo quy định của pháp luật: Cơ sở sản xuất mới thành lập được miễn giảm thuế TNDN là những cơ sở mới được thành lập và được cấp giấy phép kinh doanh kể từ ngày Luật Thuế TNDN có hiệu lực thi hành.( Nghị định số 164/2003/NĐ-CP). Những cơ sở thành lập trước đây nay chia tách, sáp nhập, hợp nhất, đổi tên, chuyển đổi hình thức doanh nghiệp hoặc đầu tư xây dựng dây chuyền sản xuất mới, mở rộng quy mô, đổi mới công nghệ, cải thiện môi trường sinh thái, nâng cao năng lực sản xuất, bổ sung mặt hàng, ngành nghề vào giấy phép kinh doanh không thuộc đối tượng được xét miễn thuế, giảm thuế như cơ sở sản xuất mới thành lập.
4. Mục 2 nêu hạn chế đối với nhà đầu tư nước ngoài mà theo chúng tôi là đương nhiên, không cần thiết phải nhắc lại. Cần phải chỉ ra các cam kết về tỷ lệ mua, hình thức đầu tư và lộ trình quy định trong các Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên
5. Mục 1 đã nêu quyền và đồng thời cũng là nguyên tắc sáp nhập, mua lại doanh nghiệp theo quy định của Luật Doanh nghiệp như vậy mục 3.a) là thừa
6. Mục 3.b: Cần làm rõ: Trường hợp mà nhà đầu tư nước ngoài có thị phần hơn 30% trên thị trường trong năm thực hiện giao dịch sáp nhập, mua lại thực hiện sáp nhập, mua lại doanh nghiệp tại Việt Nam… hay: Trường hợp mà nhà đầu tư nước ngoài sáp nhập, mua lại doanh nghiệp tại Việt Nam có thị phần hơn 30% trên thị trường trong năm thực hiện giao dịch sáp nhập, mua lại…
7.Việc Doanh nghiệp nhận sáp nhập và mua lại kế thừa các quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp bị sáp nhập và mua lại là đương nhiên và đã được nêu ngay trong định nghĩa về sáp nhập, mua lại.

Tác giả: TS. Phạm Trí Hùng
Nguồn: Pham Hung 's blog

 (MKLAW FIRM: Bài viết được đăng tải nhằm mục đích giáo dục, phổ biến, tuyên truyền pháp luật và chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước không nhằm mục đích thương mại. Thông tin nêu trên chỉ có giá trị tham khảo vì vậy Quý khách khi đọc thông tin này cần tham khảo ý kiến luật sư, chuyên gia tư vấn trước khi áp dụng vào thực tế.)