Nhưng để đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế từ 7- 7,5% trong năm 2003 mà Nghị quyết của Quốc đã đề ra và tăng trưởng kinh tế cao trong những năm tiếp theo, dự tính của Chính phủ là phấn đấu đạt từ 8,2- 8,5%/năm, thì một trong những nhiệm vụ quan trọng là phải khai thác tối đa mọi nguồn lực hiện có (nhân lực, vật lực và tài lực) của toàn xã hội, của tất cả các thành phần kinh tế để đạt tới một nền kinh tế tăng trưởng cao và bền vững.

>> Luật sư tư vấn luật đầu tư nước ngoài trực tuyến gọi: 1900 6162

 

Một số giải pháp đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế

Luật sư tư vấn pháp luật đầu tư nước ngoài - Ảnh minh họa

Vì rằng chỉ khi mà nền kinh tế đạt tốc độ tăng trưởng cao thì chúng ta mới nhanh chóng hoàn thành sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, để từ đó đưa nước ta từ nhóm các nước có nền kinh tế đang phát triển sang nhóm các nước có nền kinh tế phát triển trên thế giới.

Song, việc đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế vào thời điểm hiện nay đang gặp không ít khó khăn và những thách thức mà chúng ta cần phải vượt qua. Có thể nêu một số ví dụ điển hình, đó là: sự chậm đổi mới và sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước, mà đặc biệt là hoạt động kém hiệu quả của các tổng công ty 90, 91, những đơn vị này nắm tới trên 90% tổng số vốn của toàn bộ số vốn của các DNNN trên phạm vi toàn quốc; chưa có những giải pháp triệt để và đồng bộ để đẩy mạnh phát triển kinh tế dân doanh, nhất là các chính sách liên quan đến đất đai, tài chính, tín dụng…; và đặc biệt nhất trình độ nguồn nhân lực của ta hiện nay, xét trên bình diện tổng thể chưa đáp ứng được các bước phát triển mới của nền kinh tế. Vì vậy, vấn đề đặt ra ở đây là phải sử dụng và phát huy các nguồn nhân lực đó như thế nào để đạt được kết quả tối ưu nhất trong việc đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế, nhất là tăng trưởng kinh tế theo chiều sâu. Việc tối ưu hoá các nguồn lực để đạt đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế chỉ đạt hiệu quả cao khi có sự nỗ lực từ nhiều phía, từ sự thông thoáng từ các chính sách kinh tế, cơ chế quản lý cho đến sự chủ động vươn lên của mỗi một doanh nghiệp thuộc mọi lĩnh vực, mọi thành phần kinh tế, chính vì lý do đó xin được đưa ra một số giải pháp cụ thể sau. Đó là:

Phát huy và sử dụng mọi tiềm năng vốn có của lực lượng sản xuất:

Lối ra đầu tiên cho vấn đề này là cần có nhiều biện pháp hỗ trợ tích cực đẩy mạnh phát triển kinh tế dân doanh hơn nữa trong thời gian tới theo đúng tinh thần chỉ đạo của Hội nghị TW 5 (khoá 9) nhằm giải phóng mọi tiềm năng vốn có của lực lượng sản xuất. Sự ra đời và hoạt động có hiệu quả của Luật Doanh nghiệp trong thời gian qua (bắt đầu thực hiện từ năm 2000) đã có tác động rất lớn đối với khu vực kinh tế này. Sau 3 năm thực hiện Luật Doanh nghiệp, hiện đã có khoảng hơn 60.000 doanh nghiệp mới được thành lập, cộng với số doanh nghiệp được thành lập trước đó thị hiện nay cả nước có khoảng trên 80.000 dân doanh đang hoạt động, và kinh tế dân doanh đang trở thành khu vực phát triển năng động nhất của nền kinh tế. Để làm rõ hơn điều này xin dẫn chứng thêm số liệu về tốc độ tăng vốn đầu tư phát triển trong các năm 2000, 2001, 2002; của toàn xã hội: 10,8%, 12,2%, 12,4%, trong khi đó tốc độ tăng của khu vực dân doanh là: 9,7%, 11%, 24,7%. Tuy nhiên, ở nước ta nếu tính số dân thì bình quân gần 1000 người mới có một doanh nghiệp, chỉ bằng 1/16 so với tỉnh Quảng Đông của Trung Quốc, bằng 1/20 các nước kinh tế phát triển. Các con số đó cho thấy mức bình quân của doanh nghiệp tính trên tỷ lệ 1000 của Việt Nam còn kém rất xa so với các nước trên thế giới, vì thế để nền kinh tế nước ta phát triển tương thích với nền kinh tế thế giới thì nhu cầu rất lớn để phát triển các loại hình doanh nghiệp. Do đó, kinh tế dân doanh phải được phát triển ở tất cả các lĩnh vực, ngành nghề mà pháp luật không cấm và mở rộng địa bàn hoạt động ở cả thành thị (doanh nghiệp tư nhân, công ty TNHH, công ty cổ phần) nông thôn (các HTX tiểu thủ công nghiệp, mỹ nghệ). ở nông thôn Trung Quốc các xí nghiệp hương trấn hoạt động rất thành công cũng là điều ta cần tham khảo và vận dụng, và miền núi, miền biển (trang trại lâm nghiệp, thuỷ sản) với mục đích là tạo ra nhiều sản phẩm cho xã hội. Chỉ có như vậy chúng ta mới khai thác được những tiềm năng rất lớn của nguồn nội lực quan trọng này.

 

Việc phát triển kinh tế dân doanh phải được đặt trong mối tương quan với các thành phần kinh tế khác, tạo ra sự liên kết kinh tế với nhau trong điều kiện vừa cạnh tranh vừa hợp tác với nhau, vừa hỗ trợ nhau cùng phát triển, nhằm làm cho các nguồn lực xã hội xét trên bình diện tổng thể được sử dụng có hiệu quả nhất. Chẳng hạn sự kết hợp lẫn nhau giữa DNNN và doanh nghiệp dân doanh nhằm khắc phục một thực tế hiện nay: DNNN có tiềm năng kinh tế cao, nhưng hiệu quả kinh tế nói chung kém, doanh nghiệp dân doanh tiềm lực thấp hơn, nhưng hiệu quả thường cao hơn. Chủ trương kết hợp đó có thể mở rộng ra thị trường thế giới với các doanh nghiệp Việt kiều ở nước ngoài. Qua đó, nhanh chóng tranh thủ được vốn, công nghệ hiện đại và kinh nghiệm thương trường của người Việt ở nước ngoài là điều nên làm trong thời đại toàn cầu hoá kinh tế thế giới. Cũng với lý do đó việc đẩy mạnh sắp xếp, đổi mới và nâng cao hiệu quả DNNN theo tình Hội nghị TW 3 (khoá 9) cũng sẽ tạo ra tác động động kép trong việc tối ưu hoá mọi nguồn lực, vì thông qua đó, hơn 5000 DNNN chỉ còn lại khoảng 3000 vào năm 2005, và sẽ nắm các mạch máu then chốt của nền kinh tế có vại trò chi phối các chủ thể kinh tế khác, do vậy mặc nhiên cũng có nghĩa là khu vực kinh tế dân doanh cũng được mở rộng thêm một cách tự nhiên. Điều này không hoàn toàn làm giảm vai trò của kinh tế Nhà nước, trái lại nó sẽ gia tăng sức mạnh của kinh tế Nhà nước trong vai trò định hướng và dẫn dắt nền kinh tế theo các mục tiêu đã định.

Đổi mới công nghệ và sử dụng hiệu quả vốn đầu tư trong hoạt động của doanh nghiệp.

 

Các doanh nghiệp kinh doanh tế bào của nền kinh tế, là nơi sử dụng và kết hợp các nguồn lực để tạo ra sản phẩm hàng hoá, điều quan trọng để tạo ra nhiều sản phẩm tốt với giá thành hạ, thì cần tăng năng suất lao động. Muốn vậy cần phải nhanh chóng thực hiện đổi mới công nghệ trong các doanh nghiệp, vì trình độ trang bị máy móc, thiết bị hiện nay của các doanh nghiệp Việt Nam lạc hậu so với khu vực và thế giới khoảng từ 20 năm đến 30 năm, đó cũng là một trong những lý do chính làm  giảm hiệu suất sử dụng vốn đầu tư trong thời gian qua. Mà đặc biệt là việc đổi mới công nghệ tại các DNNN phải được ưu tiên hàng đầu, bởi vì đây là khu vực trọng yếu của nền kinh tế, chiếm tỷ trọng phần lớn vốn đầu tư của toàn xã hội. Vấn đề này phải được gắn liền với quá trình sắp xếp lại hệ thống doanh nghiệp Nhà nước, kiên quyết giải thể, phá sản, bán hoặc cho thuê các doanh nghiệp thua lỗ kéo dài, bởi vì bản thân các doanh nghiệp này sẽ không đủ sức tồn tại và cạnh tranh trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế. Kinh nghiệp của Trung Quốc khuyến khích tư bản nước ngoài thâm nhập vào các doanh nghiệp vừa và nhỏ bằng các hình thức mua, sát nhập, thuê, khoán để nâng cao trình độ kỹ thuật và quản lý doanh nghiệp là điều cần được tham  khảo và vận dụng. Thực hiện tốt việc đổi mới công nghệ sẽ quyết định trực tiếp tới năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm, sử dụng đồng vốn có hiệu quả.

 

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và nền kinh tế thế giới đang bước vào một dạng thức mới- nền kinh tế tri thức, một dạng thức mới của kinh tế thế giới (đặc trưng là công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, chất xám chiếm tỷ lệ chủ yếu trong giá thành sản phẩm), thì cho các ngành công nghệ cao (công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới) phải được ưu tiên và quan tâm hàng đầu. Do đó Nhà nước cần xây dựng chiến lược tổng thể về phát triển các ngành công nghệ cao của toàn đất nước, với một cơ chế đặc thù về các phương diện đầu tư, tài chính, tín dụng (được thuê đất với giá rẻ, được miễn giảm các loại thuế, được vay vốn tín dụng với lãi suất ưu đãi), và cần phải có những bước đi thích hợp. Theo đó các ngành công nghệ cao cần được ưu tiên phát triển tại các khu vực kinh tế trọng điểm của cả nước, mà đặc biệt nhất là tại hai trung tâm kinh tế lớn nhất của cả nước là thủ đô Hà Nội và TP Hồ Chí Minh, từ đó tạo ra các không gian kinh tế rộng lớn, với sức lan toả mạnh, trở thành những đầu tàu kinh tế, đưa đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới. Để phát triển các ngành công nghệ cao phải đòi hỏi một nguồn vốn đầu tư ban đầu rất lớn, điều này có thể ảnh hưởng phần nào tới việc phân bổ các nguồn lực xã hội, nhưng đây lại là những ngành có khả năng thu hồi vốn nhanh, hiệu suất đầu tư lớn. Vì thế trong thời gian tới nên xem việc gia tăng mạnh mẽ tỷ trọng vốn đầu tư cho các ngành công nghệ cao trong tổng vốn đầu tư của toàn xã hội là một hướng đi tích vực, kiên quyết không đầu tư thêm vốn cho những chương trình, dự án kinh tế không có khả năng thu hồi vốn, không có lợi thế cạnh tranh trên thị trường quốc tế, mà việc đầu tư hàng tỷ đô là trong chương trình mía đường của ta không mang lại hiệu quả kinh tế là bài học nhãn tiền. Nếu cũng với số vốn đó dùng để đầu tư cho các ngành công nghệ cao thì chắc chắn rằng hiệu suất đầu tư vốn sẽ đạt cao hơn nhiều.

 

Vai trò của tín dụng, ngân hàng trong việc phân phối và tối ưu hoá nguồn vốn xã hội.

Hiện nay nền kinh tế nước ta đang phát triển lên một cấp độ mới, nền kinh tế hội nhập. Điều đó đang đặt ra cho các chủ thể kinh doanh của nền kinh tế phải đối mặt với những thách thức mới. Đó là làm thế nào để có thể tồn tại, đứng vững và phát triển trong điều kiện cạnh tranh gay gắt của hội nhập quốc tế. Trong bối cảnh như vậy, hoạt động tín dụng ngân hàng nổi lên như một mắt xích trọng yếu trong hoạt động của nền kinh tế hiện đại, tín dụng ngân hàng có một vai trò cực kỳ quan trọng, với vị trí là trung gian tài chính của nền kinh tế, thông qua các nguồn lực xã hội được phân bổ sử dụng một cách hợp lý và có hiệu quả. Thông qua việc cung ứng nguồn vốn, tín dụng ngân hàng có tác động rất lớn tới quá trình hoạt động của doanh nghiệp. Đặc biệt đang lúc chúng ta đẩy nhanh quá trình sắp xếp lại và cổ phần hoá các DNNN thì vai trò của hoạt động tín dụng ngân hàng lại càng quan trọng hơn, nhất là trong bối cảnh hiện tại khu mà vốn của ngân hàng thương mại chiếm tỷ trọng lớn trong tài sản của DNNN, có trường hợp vốn tín dụng ngân hàng chiếm tới 80% tài sản của doanh nghiệp. Vì thế hoạt động tín dụng ngân hàng lại càng quan trọng hơn trong việc phân bổ lại các nguồn lực nhằm lành mạnh và tối ưu hoá các hoạt động kinh tế của loại hình doanh nghiệp này. Theo đó, cần tích cực cung ứng vốn tín dụng cho ngành nghề, các doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả, có lợi thế cạnh tranh trên thị trường quốc tế như các ngành: thuỷ sản, may mặc và da giày. Kiên quyết không cung ứng và thu hồi vốn tín dụng đối với các doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, nợ nần dây dưa, mất uy tín trên thương trường, hạn chế đầu tư đối với các ngành mà có sản phẩm khó có thể cạnh tranh trên thị trường, đó cũng là một trong những biện pháp quan trọng để sử dụng tối ưu hoá nguồn lực xã hội. Do đó trong thời gian tới cần tăng tỷ trọng vốn tín dụng trung, dài hạn trong hoạt động đầu tư. Lẽ ra việc đầu tư vốn trung dài hạn cần được huy động từ thị trường chứng khoán, nhưng hiện tại hoạt động của thị trường này còn quá non yếu chưa đáp ứng được các bước phát triênr của nền kinh tế. Việc Ngân hàng Nhà nước cho phép các ngân hàng thương mại được nâng tỷ lệ vốn huy động ngắn hạn để đầu tư trung, dài hạn từ 25% đến 30% đang là những bước đi tích cực, điều này sẽ tạo nhiều thuận lợi cho các doanh nghiệp tiếp cận các nguồn vốn quan trọng này để đổi mới và trang bị công nghệ hiện đại.

 

Hơn nữa, các ngân hàng thương mại cần có quan hệ tín dụng thực sự bình đẳng giữa các chủ thể kinh doanh, mà cụ thể là các DNNN và các doanh nghiệp dân doanh, vì hiện nay có đến 80% vốn tín dụng được đầu tư vào DNNN và chỉ có 20% vốn tín dụng được đầu tư vào các doanh nghiệp dân doanh trong khi đó khu vực dân doanh đóng góp tới 42% GDP của cả nước. Do vậy, trong thời gian tới cần mở rộng và gia tăng thị phần tín dụng đối với kinh tế dân doanh, ít nhất cũng tương đương với mức đóng góp vào GDP của khu vực này, điều này có thể khả thi vì theo Quy chế cho vay mới- Quyết định số 1627/2001/QĐ- NHNN về Nghị định 85/2002/NĐ/CP về sửa đổi bổ sung cơ chế đảm bảo tiền vay thì các ngân hàng thương mại được hoàn toàn chủ động và tự chịu trách nhiệm về vốn tín dụng.

 

Đẩy mạnh việc phát triển và nâng cao trình độ nguồn nhân lực cho nền kinh tế

Nguồn nhân lực là yếu tố quyết định đến việc thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội và nó cũng quyết định đến quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước nhằm nhanh chóng hoà nhập nền kinh tế nước ta với khu vực và quốc tế, vì suy cho cùng chính con người mới là yếu tố cơ bản nhất và quan trọng của toàn bộ lực lượng sản xuất. Nhưng trong một thời gian dài vừa qua, vấn đề đào tạo nguồn nhân lực nhìn chung chưa được quan tâm đúng mức và cũng chưa có các bước đi thích hợp. Đặc biệt là tại khu vực sản xuất kinh doanh, nơi trực tiếp tạo ra sản phẩm và các hoạt động dịch vụ cho toàn xã hội lại càng chưa được quan tâm một cách thích đáng, chưa xem đấy là động lực thúc đẩy sản xuất phát triển. Nhất là trong bối cảnh thế giới ngày nay đang có sự tiến bộ vượt bậc của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật, nhờ đó mà trình độ kỹ thuật, quy trình công nghệ ngày càng được đổi mới một cách hết sức mau lẹ, thì vấn đề quan tâm đến đào tạo nguồn nhân lực cho nền kinh tế để tương thích với sự thay đổi nhanh chóng của máy móc thiết bị được đặt ra như một nhu cầu bức xúc.

 

Hiện nay trên phạm vi cả nước có gần 40 triệu lao động (chiếm gần một nửa dân số), trong đó theo Tổng Cục Thống kê thì có tới 83% lao động chưa có trình độ chuyên môn kỹ thuật, như vậy nền kinh tế nước ta về cơ bản vẫn dựa trên nền tảng lao động thủ công là chủ yếu. Chính vì lẽ đó mà năng suất nhân tố tổng hợp của ta (TFP: Total Factor Productivity) chỉ chiếm 28,2% trong tăng trưởng kinh tế, trong khi đó con số này ở các nước trong khu vực là 40%, điều này nó cũng phản ánh rằng hàm lượng chất xám trong giá thành sản phẩm của ta còn thấp hơn nhiều so với các nước trong khu vực, và dĩ nhiên nó cũng kéo theo sự yếu kém khả năng cạnh tranh của toàn bộ nền kinh tế. Để gia tăng tỷ trọng TFP trong tăng trưởng kinh tế, Nhà nước cũng đã đề ra mục tiêu là phấn đấu đến năm 2005 nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo là 30% và phấn đấu đến năm 2010 là 40% nhưng thực ra với mức phấn đấu đó thì quả là một con số còn khá khiêm tốn khi mà chúng ta đang từng bước tiếp cận với kinh tế tri thức. Thiết tưởng các con số trên cần được điều chỉnh lại theo hướng gia tăng hơn nữa để phù hợp với các bước phát triển mới của nền kinh tế- nền kinh tế hội nhập. Vì rằng đó sẽ là con đường ngắn nhất để gắn liền tri tri thức khoa học với thực tiễn sản xuất, và đó cũng là biện pháp hữu hiệu nhất để tăng năng suất lao động xã hội, yếu tố quyết định đến đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế theo chiều sâu.

 

Trong thời đại bùng nổ thông tin và kinh tế tri thức, thì việc đào tạo và nâng cao trình độ nguồn nhân lực phải được tiến hành thường xuyên, liên tục, nhất là tại các đơn vị sản xuất kinh doanh, đó cũng chính là một trong những biện pháp quan trọng làm gia tăng nhanh chóng hàm lượng chất xám trong giá thành sản phẩm, từ đó góp phần tăng khả năng cạnh tranh của sản phẩm trên thương trường. Thực tế cho thấy rằng khả năng cạnh tranh sản phẩm của doanh nghiệp gắn liền với công tác đào tạo và nghiên cứu khoa học mà điển hình là sự thành công nhanh chóng của các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghệ thông tin và công nghệ sinh học là một minh chứng (các doanh nghiệp loại này rất chú trọng tới khâu đào tạo nhân lực và nghiên cứu áp dụng kỹ thuật mới cho nên tạo ra được nhiều sản phẩm với chất lượng cao mà giá thành lại hạ). Hiện tại trong các doanh nghiệp của ta mức đầu tư bình quân cho công tác đào tạo và nghiên cứu còn rất thấp, chưa tới 0,5% doanh thu, trong khi đó sở các nước phát triển con số này là từ 5-6% doanh thu, lớn hơn gấp 10 lần so với Việt Nam, đó cũng là một nguyên nhân quan trọng dẫn đến khả năng cạnh tranh yếu kém của hàng hoá Việt Nam trên thị trường thế giới. Chính vì thế, công tác đào tạo nguồn nhân lực trong các doanh nghiệp cần gắn liền với công tác nghiên cứu cải tiến kỹ thuật, hoàn thiện pháp quản lý, và xem đó như một trong những bộ phận quan trọng nhất trong tổng thể chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp, và cần xem đây là khâu đột phá quan trọng để gia tăng khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp tại thị trường nội địa cũng như trên thị trường thế giới trong bối cạnh cạnh tranh quốc tế gay gắt hiện nay.

Nguyễn Hoàng Xanh (Nguồn: Tạp chí Ngân hàng)