Toàn cầu hoá kinh tế là một giai đoạn mới của quốc tế hoá sản xuất, đặc biệt từ những năm 80 của thế kỷ 20 trở lại đây trở thành xu thế quan trọng nhất trong phát triển của nền kinh tế thế giới đầu thế kỷ 21 .Tuy nhiên giữa 2 khái niệm này có sự khác biệt và mối quan hệ biện chứng với nhau: toàn cầu hoá khái niệm chỉ xu thế vận động khách quan bắt nguồn từ sự phát triển mạnh mẽ của cách mạng khoa học - kỹ thuật của thương mại và đầu tư quốc tế với sự nâng cao vai trò của các công ty xuyên quốc gia và đánh dấu một giai đoạn phát triển mới của nhân loại gắn với thời đại kinh tế tri thức.Trong khi đó khái niệm hội nhập kinh tế quốc tế mang tính chủ quan của chủ thể quốc gia hội nhập, phản ánh năng lực nhận thức và hành động của mỗi quốc gia trước yêu cầu và thách thức của toàn cầu hoá kinh tế.

Hội nhập kinh tế quốc tế được hiểu đầy đủ hơn không đơn thuần là những hoạt động giảm thuế, mở cửa thị trường mà là việc một quốc gia thực hiện chính sách kinh tế mở, tham gia các định chế kinh tế tài chính quốc tế, thực hiện tự do hoá và thuận lợi hoá thương mại, đầu tư bao gồm các lĩnh vực sau :

- Đàm phán cắt giảm thuế quan, tiến tới thực hiện thuế suất bằng 0 đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu.

- Giảm thiểu, tiến tới loại bỏ những hàng rào phi quan thuế gây cản trở đối với thương mại. Những biện pháp phi thuế phổ thông cần được chuẩn mực hoá theo các quy định chung của WTO hoặc các thông lệ quốc tế hoặc khu vực khác.

- Giảm thiểu các hạn chế đối với thương mại dịch vụ, tức là tự do hoá việc cung cấp và kinh doanh các hình thức dịch vụ. Theo phân loại của WTO, hiện nay có khoảng 12 nhóm dịch vụ được đưa vào đàm phán, từ dịch vụ tư vấn giáo dục, tin học cho đến các dịch vụ ngân hàng, tài chính, viễn thông, giao thông vận tải...

- Giảm thiểu các hạn chế đối với đầu tư để mở đường cho tự do hoá hơn nữa thương mại.

- Điều chỉnh chính sách quản lý thương mại theo những quy tắc và luật chơi chung quốc tế, đặc biệt là các vấn đề liên quan đến giao dịch thương mại như thủ tục hải quan, quyền sở hữu trí tuệ, chính sách cạnh tranh... Tại các diễn đàn quốc tế và khu vực hiện nay, việc điều chỉnh và hài hoà các thủ tục hành chính liên quan đến giao dịch thương mại được gọi là hoạt động thuận lợi hoá thương mại.

- Triển khai những hoạt động hợp tác kinh tế, văn hoá xã hội nhằm nâng cao năng lực của các nước trong quá trình hội nhập.

Như vậy có thể thấy khái niệm hội nhập kinh tế quốc tế trong bối cảnh hiện nay không chỉ đơn thuần giới hạn trong phạm vi cắt giảm thuế quan mà đã được mở rộng ra tất cả lĩnh vực liên quan đến chính sách kinh tế thương mại, nhằm mục đích mở cửa thị trường cho hàng hoá và dịch vụ, loại bỏ các rào cản hữu hình và vô hình đối với trao đổi thương mại.

Nâng cao sức cạnh tranh của kinh tế Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi:  1900 6162

Nhu cầu tổ chức lại thị trường trong phạm vi toàn thế giới trước hết bắt nguồn từ các nước công nghiệp phát triển, do họ ở thế mạnh nên thường áp đặt các luật chơi. Các nước đang phát triển vừa có yêu cầu tự bảo vệ, vừa có yêu cầu phát triển nên cũng tham gia để bảo vệ và tranh thủ lợi ích cho mình, nhất là các nước đang tiến hành công nghiệp hoá. Lợi ích ở đây và mở được thị trường cho hàng xuất khẩu, tiếp nhận vốn và công nghệ thông qua đầu tư trực tiếp, nhờ đó tạo ra công ăn việc làm, đảm bảo tăng trưởng kinh tế, học tập được kinh nghiệm quản lý... Vì vậy ngày nay; hầu hết các nước trên thế giới đều thực hiện chính sách hội nhập (ngay cả Trung Quốc, một nước có thị trường 1,3 tỷ dân, lớn hơn bất cứ một khu vực mậu dịch tự do nào, lại có khả năng tự sản xuất được gần như hầu hết mọi thứ, từ đơn giản đến phức tạp, nhưng vẫn kiên trì chủ trương hội nhập vào nền kinh tế thế giới) . Nhiều nước trình độ phát triển kinh tế kém như  Campuchia, Nepan... cũng đã trở thành thành viên của WTO (sau hội nghị Can-cun ở Mexico).

Đương nhiên, đối với những nước đang phát triển, kinh tế còn yếu kém, doanh nghiệp nhỏ bé, sức cạnh tranh còn thấp, trình độ quản lý nhà nước và kinh doanh còn hạn chế, thì hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực không chỉ có cơ hội mà còn có cả khó khăn, thách thức, thậm chí khó khăn thách thức là lớn, nhưng nêu cứ đứng ngoài cuộc, khó khăn có thể còn lớn hơn nhiều. Quyết định đúng đắn là: chủ động hội nhập gắn với chủ động điều chỉnh cơ cấu kinh tế theo hướng phát huy lợi thế so sánh, hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế quản lý, cải cách hành chính... trên cơ sở đó mà phát huy nội lực, vượt qua khó khăn, thách thức, tận dụng cơ hội để phát triển đất nước.

Tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế các nước cũng diễn ra bằng các hình thức khác nhau từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp như: tham gia khu vực mậu dịch tự đo (Khu vực mậu dịch tự do Đông Nam Á - AFTA, Khu vực mậu dịch tự do Bắc Mỹ- NAFTA) liên minh thuế quan, liên minh kinh tế, diễn đàn hợp tác kinh tế (Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á Thái Bình Dương APEC - diễn đàn hợp tác Á - Âu ASEM), tham gia Tổ chức Thương mại thế giới (WTO). Hiện nay đang có một xu hướng nổi trội trong quan hệ quốc tế là việc hình thành các khu thương mại tự do (FTA) giữa các quốc gia với nhau và quốc gia với khu vực. Ví dụ Singapore ký với Mỹ hiệp định Thương mại tự do, các nước ASEAN và Trung Quốc đã ký Nghị định khung hợp tác kinh tế toàn diện Trung Quốc - ASEAN tháng 11/2002, đánh dấu sự khởi động FTA giữa Trung Quốc và ASEAN, theo đó thuế suất bình quân vào năm 2010 sẽ được cắt giảm còn khoảng 05% và phần lớn các rào cản về đầu tư sẽ được dỡ bỏ.

Đây sẽ là Khu vực Thương mại tự do lớn của thế giới với dân số hơn 1,7 tỷ người làm ra giá trị GDP trên 2000 tỷ USD và giá trị thương mại 2 chiều hơn 1230 tỷ USD...

Mục tiêu của toàn cầu hoá kinh tế là lưu thông tự do các yếu tố của quá trình tái sản xuất trên phạm vi toàn cầu, tuy nhiên trong tương lai gần mục tiêu này chưa thể thực hiện được một cách đầy đủ, trong bối cảnh đó từng nhóm liên kết với nhau tạo ra điều kiện lưu thông tự do ở mức độ cao hơn toàn bộ các yếu tố của quá trình sản xuất của các nước thành viên.

Toàn cầu hoá là kết quả sản phẩm của sự phát triển của lực lượng sản xuất ở trình độ cao, mặt khác chính quá trình này đang đặt ra yêu cầu cơ cấu lại nền kinh tế và tổ chức lại thị trường trên phạm vi toàn cầu và trong từng quốc gia.

Để hội nhập kinh tế quốc tế thành công, các quốc gia đều chú trọng nâng cao khả năng cạnh tranh quốc gia của mình (dưới 3 góc độ nền kinh tế, doanh nghiệp và sản phẩm).

2. Đối với Việt Nam hiện nay vấn đề đặt ra không phải là có hội nhập hay không mà là làm thế nào để hội nhập kinh tế quốc tế có hiệu quả, đảm bảo được lợi ích dân tộc, nâng cao được sự cạnh tranh của nền kinh tế, thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế- xã hội trong quá trình hội nhập.

Báo cáo Chính trị Đại hội IX của Đảng, nhất là Nghị quyết 07- NQTW ngày 27/11/2001 của Bộ chính trị về Hội nhập kinh tế quốc tế đã nhấn mạnh quan điểm:

Chủ động hội nhập kinh quốc tế và khu vực theo tinh thần phát huy tối đa nội lực, đồng thời tranh thủ nguồn lực bên ngoài để phát triển nhanh, có hiệu quả và bền vững, đảm bảo tính độc lập tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích dân tộc, giữ gìn an ninh quốc gia, phát huy bản sắc và văn hoá dân tộc, bảo vệ môi trường sinh thái.

Đây là một chủ trương lớn trong chính sách đối ngoại, hội nhập của Đảng và Nhà nước ta. Theo quan điểm này hội nhập kinh tế quốc tế trong điều kiện toàn cầu hoá kinh tế là một quá trình mà trọng tâm là chủ động mở cửa kinh tế, tham gia phân công hợp tác quốc tế tạo điều kiện kết hợp có hiệu quả nguồn lực trong nước và nước ngoài, mở rộng không gian và môi trường để phát triển và chiếm lĩnh vị trí phù hợp trong quan hệ kinh tế quốc tế. Hội nhập kinh tế quốc tế vừa là đòi hỏi khách quan của kinh tế quốc tế nói chung, vừa là nhu cầu nội tại của sự phát triển kinh tế của đất nước. Hội nhập giúp cho việc mở rộng cơ hội kinh doanh, thâm nhập thị trường thế giới, tìm kiếm và tạo lập thị trường ổn định, từ đó có điều kiện thuận lợi để xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý, phát triển kinh tế đất nước.

Việc nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế, của doanh nghiệp và hàng hoá là một trong những nội dung quan trọng nhất để hội nhập kinh tế quốc tế hiệu quả thực hiện thắng lợi các mục tiêu của Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001 - 2010.

Để cạnh tranh hiệu quả trong điều kiện toàn cầu hoá kinh tế, các quốc gia đều chú trọng xây dựng chiến lược cạnh tranh quốc gia, trong đó chính sách cạnh tranh là bộ phận cốt lõi. Chính sách cạnh tranh được quan niệm là các biện pháp can thiệp của nhà nước, thông qua việc lựa chọn các chính sách phù hợp, đảm bảo tạo dựng một môi trường thuận lợi để tạo cơ chế cạnh tranh vận hành có hiệu quả, nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.

Trong thời gian qua nền kinh tế ở Việt Nam đã đạt được những kết quả quan trọng như: tăng trưởng GDP ở nhịp độ cao, (2001 là 6,9%; năm 2002 là 7,04%; 2003 là 7,24%), cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng tăng tỉ trọng của công nghiệp, dịch vụ, giảm dần tỉ trọng nông nghiệp. Cơ cấu của từng ngành cũng có sự chuyển dịch dần theo hướng phát huy lợi thế cạnh tranh hơn đối với thị trường trong và ngoài nước. Tỉ lệ huy động vốn cho đầu tư phát triển có xu hướng tăng (năm 2003 chiếm tới 35,6% GDP), các nguồn lực trong xã hội được huy động tốt hơn, đặc biệt trong khu vực kinh tế tư nhân, đầu tư cho cơ sở hạ tầng có tiến bộ, năng lực sản xuất của nhiều ngành tăng lên.

Tuy nhiên hạn chế chủ yếu của nền kinh tế là hiệu quả sức cạnh tranh còn nhiều yếu kém, chậm được cải thiện:

- Theo đánh giá của Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF) xét về các chỉ số cạnh tranh của nền kinh tế,Việt Nam xếp thứ 48/53 nước được xem xét năm 1999, 53/59 nước năm 2000, 60/75 nước năm 2001; 65/80 năm 2002 nước tham gia xếp hạng.

- Sức cạnh tranh và năng lực quản lý doanh nghiệp còn yếu, nhìn chung thiếu sự chuẩn bị để ứng phó hiệu quả với quá trình hội nhập đang diễn ra ngày càng sâu rộng. Danh mục các sản phẩm chưa có năng lực cạnh tranh hoặc có năng lực cạnh tranh có điều kiện còn rộng, nhiều doanh nghiệp nhà nước tồn tại được là nhờ có sự bảo hộ, trợ cấp của nhà nước, nhất là dựa vào điều kiện còn độc quyền. Tỉ lệ doanh nghiệp nhà nước làm ăn thua lỗ còn lớn kết hợp với nhiều dự án đầu tư không hiệu quả làm tăng tỉ lệ nợ xấu, khó đòi, ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động của hệ thống ngân hàng.

- Xét tiêu chí cạnh tranh của sản phẩm như giá cả, chất lượng, mạng lưới tổ chức tiêu thụ và uy tín doanh nghiệp thì sức cạnh tranh của hàng Việt Nam cũng thấp hơn so với các nước trong khu vực và trên thế giới. Nhiều sản phẩm được coi là có khả năng cạnh tranh như gạo, cà phê, dệt may, giầy dép, thuỷ sản đang có nguy cơ giảm sút về sức cạnh tranh. Trong nhiều mặt hàng xuất khẩu chủ lực, chưa có được mặt hàng có hàm lượng công nghệ cao, giá trị gia tăng lớn. Nhiều sản phẩm xuất khẩu chủ yếu là nguyên liệu khoáng sản, hoặc gia công làm thuê, lắp ráp cho nước ngoài nên giá trị gia tăng thấp, chất lượng hàng xuất khẩu còn nhiều hạn chế. Rào cản kỹ thuật các mặt hàng xuất khẩu của các thị trường như Mỹ và EU ngày càng khắt khe, trong khi đó quy trình sản xuất, quy trình công nghệ của ta chưa có các biện pháp hữu hiệu để khắc phục được rào cản đó. Mặt khác ta chưa có kinh nghiệm trong việc xây dựng và sử dụng các biện pháp bảo hộ bằng hàng rào kỹ thuật để bảo vệ thị trường nội địa.

- Những lợi thế về nguồn lao động trẻ đang mất dần, vấp phải sự cạnh tranh của các nước trong khu vực nhất là Trung Quốc, việc phát triển các mặt hàng mới đang gặp khó khăn về vốn, công nghệ, nguồn nhân lực và thị trường tiêu thụ.

- Nhìn chung tốc độ tăng trưởng nền kinh tế chưa tương xứng với mức tăng đầu tư, cơ cấu kinh tế chuyển dịch còn chậm, chưa phát huy được các lợi thế so sánh cạnh tranh của ngành, sản phẩm. Khu vực dịch vụ tuy được đầu tư khá song tỷ trọng tăng chậm trong cơ cấu GDP, hệ thống dịch vụ hỗ trợ phát triển sản xuất vừa thiếu, vừa yếu và kém hiệu quả. Cơ cấu lao động chuyển dịch rất chậm không tương xứng với chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nhất là trong khu vực nông nghiệp nông thôn.

- Mặc dù việc phát huy các nguồn nội lực cho đầu tư phát triển có nhiều tiến bộ, vốn trong nước chiếm trên 70% tuy nhiên sự giảm sút của nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) mấy năm qua là điều không bình thường. Năm 2002 vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thu hút mới suy giảm rõ rệt, chỉ bằng 60% so với cùng kỳ năm 2001 (với 1,3 tỷ USD), nhiều dự án quy mô nhỏ. Trong khi đó nguồn vốn FDI tăng vọt vào Trung Quốc: năm 2001 đạt 49,6 tỷ USD, năm 2002 đạt trên 50 tỷ USD vốn đăng ký. Điều này cho thấy môi trường đầu tư của Việt Nam còn nhiều vướng mắc, chưa hấp dẫn nhất là về thủ tục hành chính, chi phí đầu vào của quá trình sản xuất còn rất cao (giá điện, giá bưu chính viễn thông, giá đất, cước vận chuyển... thuộc loại cao nhất trong khu vực), lĩnh vực và phạm vi đầu tư chưa hấp dẫn so với các nước trong khu vực.

- Hoạt động tài chính - tiền tệ tuy có tiến bộ nhưng tiềm ẩn nhiều rủi ro, lãi suất tiền đồng quá cao so với lãi suất USD và rất cao so với khả năng sinh lời của nền kinh tế, làm tăng chi phí đầu vào của sản xuất kinh doanh, giảm khả năng cạnh tranh của sản phẩm. Vốn huy động của hệ thống ngân hàng chủ yếu là ngắn hạn, nhưng lại được sử dụng một tỷ lệ khá để cho vay trung và dài hạn. Do vậy, các ngân hàng chịu sức ép bất lợi về lợi nhuận và làm giảm khả năng đề phòng rủi ro.

Nhìn chung, sự chuẩn bị để ứng phó với những cách thức cạnh tranh trong hội nhập kinh tế quốc tế còn chậm, ở tầm vĩ mô chưa xây dựng được Chiến lược tổng thể hội nhập kinh tế quốc tế của quốc gia, do vậy các bộ ngành địa phương và doanh nghiệp còn lúng túng trong việc xây dựng chiến lược của mình. Một số chính sách khuyến khích phát triển các thành phần kinh tế đưa vào cuộc sống chậm, môi trường kinh doanh còn chưa bình đẳng, chính sách còn thiếu đồng bộ, nhất quán khó thực hiện. Doanh nghiệp nhà nước cần tiếp tục được sắp xếp, đổi mới để nâng cao hiệu quả, sức cạnh tranh, thực sự là chủ lực trong hội nhập kinh tế quốc tế. Vai trò của kinh tế tư nhân chưa được đánh giá đúng, còn biểu hiện phân biệt đối xử đối với khu vực này, dẫn đến còn e ngại, dè dặt trong đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh. Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài chưa thực sự được coi là bộ phận cấu thành của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Để nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, cần xây dựng chiến lược cạnh tranh quốc gia mà cốt lõi của nó là hệ thống các chính sách cạnh tranh. Việc xây dựng và thực hiện chính sách cạnh tranh cần theo hướng: giảm dần tiến tới xoá bỏ phân biệt đối xử trong kinh doanh, chống hạn chế cạnh tranh, giảm thiểu các hành vi cạnh tranh không lành mạnh trên thị trường, hạn chế kiểm soát độc quyền. Theo hướng này, cần nhanh chóng ban hành Luật Cạnh tranh và kiểm soát độc quyền trong kinh doanh... Ngoài ra cần tập trung vào các giải pháp khác như:

Cải thiện nhanh môi trường đầu tư để thu hút đầu tư trong nước và nhất là đầu tư nước ngoài theo hướng kiên quyết giảm giá đầu vào của sản xuất thuộc thẩm quyền của Nhà nước, đặc biệt là một số loại giá có tính độc quyền (điện, viễn thông, dịch vụ cảng biển, phí cầu đường). Giải quyết kịp thời những khó khăn ách tắc trong việc giải phóng mặt bằng, xây dựng cơ sở hạ tầng, đảm bảo tính nhất quán minh bạch của chính sách, tôn trọng và đảm bảo quyền lợi của nhà đầu tư. Xây dựng cơ sở pháp lý, thiết lập một mặt bằng áp dụng chung cho cả đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài với các quy định về điều kiện đầu tư và ưu đãi phù hợp với từng đối tượng.

- Thực hiện quá trình cải cách hệ thống thuế nhằm đáp ứng yêu cầu của quá trình hội nhập mở cửa nền kinh tế, tiến tới xây dựng hệ thống thuế thống nhất cho các thành phần kinh tế. Thực hiện nhất quán lộ trình cắt giảm thuế theo hiệp định song phương và đa phương mà Việt Nam đã và sẽ ký kết (AFTA, Hiệp định. Thương mại Việt Nam- Hoa Kỳ, WTO). Cần công bố công khai thời gian và mức độ cắt giảm thuế nhập khẩu để các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế chủ động trong hội nhập và cạnh tranh ở thị trường trong nước và quốc tế.

- Đẩy mạnh xúc tiến thương mại, xúc tiến đầu tư nhất là đối với các đối tác lớn như: EU, Mỹ, Nhật Bản, để mở rộng thị trường, tranh thủ công nghệ nguồn, kinh nghiệm quản lý tiên tiến.

- Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thông qua điều chỉnh cơ cấu đầu tư nhằm phát huy lợi thế so sánh, lợi thế cạnh tranh thực hiện chủ động hội nhập kinh tế quốc tế. Khắc phục căn bản tình trạng bố trí đầu tư dàn trải phân tán, dứt khoát không đầu tư vào những công trình dự án kém hiệu quả đồng thời đa dạng hoá các hình thức đầu tư như BOT, BT, phát hành trái phiếu công trình...

- Khẩn trương xây dựng, triển khai thực hiện Chiến lược tổng thể hội nhập kinh tế quốc tế. Tích cực đàm phán và chuẩn bị khẩn trương những điều kiện cần thiết trong nước để nước ta có thể gia nhập WTO vào năm 2005. Đặc biệt, tập trung vào sắp xếp, cải cách doanh nghiệp nhà nước, lành mạnh hoá hệ thống tài chính, ngân hàng, đẩy mạnh cải cách thể chế, tăng cường hiệu lực của bộ máy hành chính Nhà nước, tiến hành cải cách tiền lương, nâng cao trách nhiệm, trình độ của bộ máy công chức, đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đang đặt ra hiện nay.

------------------------

Tài liệu tham khảo:

- Tổng cục Thống kê. Kinh tế- xã hội Việt Nam 3 năm 2001- 2003.

- Nghị quyết số 07- NQ/TW về Hội nhập kinh tế quốc tế ngày 27/11/2001.

- Chương trình phát triển của Liên hợp quốc (UNDP). Kinh tế vĩ mô trong giảm nghèo: Nghiên cứu về Việt Nam. Hà Nội.Tháng 11/2003.

TSKH. Trần Nguyễn Tuyên (Nguồn: Theo T/c Kinh tế châu Á- Thái Bình Dương)