Bài viết sau đây sẽ đi sâu phân tích quy chế NME và cách tiếp cận nước thay thế mà Hoa Kỳ và EU sử dụng nhằm đưa ra các phán quyết cuối cùng khẳng định bán phá giá và làm tăng biên độ phá giá.

I) Các tiêu chí về quy chế kinh tế phi thị trường

Thuật ngữ nền kinh tế phi thị trường có nguồn gốc ra đời đặc biệt. Sau Đại chiến Thế giới II, vai trò chủ chốt của Nhà nước trong giao dịch ngoại thương của các nước Đông  Âu đã khiến các tài liệu chính thức sử dụng thuật ngữ các nước mà Nhà nước thực hiện giao dịch thương mại. Sau khi đã có tự do hóa thương mại và giảm bớt độc quyền Nhà nước tuyệt đối trong các giao dịch ngoại thương, các nhà kinh tế học và chính trị gia chuyển sang thuật ngữ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung. Khi có thêm các cải cách định hướng thị trường hồi cuối thập niên 1980 và đầu thập niên 1990, các nước chuyển đổi được gọi là các nền kinh tế phi thị trường.

>> Luật sư tư vấn luật đầu tư nước ngoài trực tuyến gọi: 1900 6162

Luật sư tư vấn pháp luật đầu tư nước ngoài ?

Luật sư tư vấn luật đầu tư - Ảnh minh họa

Quy chế NME được Hoa Kỳ và EU xây dựng là một quyết định mang tính chính trị hơn là trên cơ sở kinh tế. Bộ Thương mại Hoa Kỳ và EU không đề rõ ranh giới mà một nền kinh tế phi thị trường hoàn thành quá trình chuyển đổi để trở thành một nền kinh tế thị trường. Hoa Kỳ và EU chỉ đưa ra tiêu chí khái quát nhằm xác định qui chế NME với từng nước. Sự khác biệt cơ bản giữa các tiêu chí của Hoa Kỳ và các tiêu chí của EU là Hoa Kỳ đánh giá các nước trong khi EU đánh giá các doanh nghiệp. Dưới đây là bảng tiêu chí của Hoa Kỳ nhằm xác định NME:

STT

Tiêu chí

1

Mức độ mà đồng tiền của nước ngoài đó có thể được chuyển đổi sang đồng tiền của nước khác

2

Mức độ sở hữu hoặc kiểm soát của chính phủ đối với các phương tiện sản xuất

3

Mức độ kiểm soát của chính phủ đối với sự phân bổ các nguồn lực và đối với các quyết định về giá cả và sản lượng của doanh nghiệp

4

Mức độ mà các mức tiền công lao động ở nước ngoài đó được xác định bởi sự thương lượng tự do giữa người lao động và giới quản lý

5

Mức độ mà các liên doanh hoặc các dạng đầu tư khác của doanh nghiệp từ các nước khác được phép hoạt động ở nước ngoài đó

6

Những yếu tố khác mà cơ quan quản lý thấy phù hợp

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Nguồn: Polouektov (2002)  

EU lại đưa ra các tiêu chí về nền kinh tế thị trường (ME), những quốc gia không đáp ứng được các tiêu chí này sẽ bị coi là nền kinh tế phi thị trường:

1

Chuyển đổi hối đoái được thực hiện theo tỷ giá thị trường

2

Các quyết định của doanh nghiệp về giá cả, chi phí và đầu vào – gồm chi phí nguyên vật liệu, công nghệ và lao động, sản lượng, doanh số và đầu tư – được đưa ra để đáp ứng với những tín hiệu thị trường phản ánh cung và cầu, không có sự can thiệp đáng kể nào của Nhà nước, và chi phí của những đầu vào chính về cơ bản phản ánh giá thị trường

3

Các doanh nghiệp có một loạt các sổ sách kế toán cơ bản rõ ràng, được kiểm toán độc lập theo các chuẩn mực kế toán quốc tế và được áp dụng cho tất cả các mục đích

4

Chi phí sản xuất và tình hình tài chính của doanh nghiệp không chịu sự bóp méo đáng kể dưới tác động của hệ thống kinh tế phi thị trường, nhất là liên quan tới khấu hao tài sản, các dạng xóa nợ và các dạng thanh toán bù nợ khác

5

Các doanh nghiệp liên quan chịu sự điều chỉnh của các luật về phá sản và tài sản đảm bảo sự chắc chắn và ổn định về pháp lý cho doanh nghiệp hoạt động

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Nguồn: Polouektov (2002)

II)    Cách tiếp cận nước thay thế trong việc xác định thuế chống bán phá giá

1.      Phương pháp nền kinh tế thị trường dùng để thay thế

Bán phá giá được định nghĩa là việc đặt giá xuất khẩu thấp hơn so với giá trong nước, vì vậy gây thiệt hại cho các ngành công nghiệp của nước nhập khẩu. Bất cứ phương pháp điều tra  nào làm tăng giá nội địa đều làm tăng khả năng dẫn đến phán quyết cuối cùng khẳng định có bán phá giá. Khi các rào cản thuế quan và phi thuế quan đang được giảm để tuân thủ với các quy định của WTO, thì các vụ chống bán phá giá được sử dụng nhiều hơn nhằm bảo vệ các ngành công nghiệp trong nước.

Trong các vụ kiện chống bán phá giá, Hoa Kỳ và EU đã sử dụng cách tiếp cận nước thay thế cho các nền kinh tế bị coi là phi thị trường. Phương pháp này bắt nguồn từ các cuộc thương lượng về cách làm thế nào để xác định giá cả trong nước ở những nước mà Nhà nước độc quyền thương mại vào những năm thuộc thập niên 1960 và chúng được duy trì trong các quy định của WTO. Cách tiếp cận này cho phép bên khởi kiện lựa chọn một nền kinh tế thị trường để thay thế cho nền kinh tế phi thị trường. Giá cả ở nước thay thế được sử dụng để đại diện cho giá trong nước của nền kinh tế phi thị trường. Sự tuỳ tiện trong quá trình lựa chọn và việc so sánh các sản phẩm không giống nhau giữa các nước là điều phổ biến. Thường xảy ra sự lạm dụng trong việc tính toán giá trị thông thường. Tình trạng định giá quá cao đối với các yếu tố sản xuất gần như diễn ra ở khắp mọi nơi, nhất là đối với chi phí lao động bởi vì phương pháp này không đếm xỉa gì tới sự khác biệt giữa các nước. Việc không tính đến những khác biệt giữa các nước để không tính đến nguyên nhân chính yếu vì sao hàng xuất khẩu của các nước nghèo lại rẻ hơn và vì vậy làm sai lệch các kết quả phát hiện. Hơn nữa, việc Hoa Kỳ sử dụng những thông tin bất lợi có sẵn đối với các nhà sản xuất của NME cho phép Hoa Kỳ sử dụng những số liệu không đáng tin cậy để tính ra giá trị thông thường. Phương pháp nước thay thế cho phép các bên khởi kiện thao túng các con tính, dựng ra kết luận khẳng định bán phá giá và phóng đại biên độ phá giá.

 

2. Một số trường hợp điển hình về điều tra chống bán phá giá ở Việt Nam

a) Cá da trơn

Trong vụ kiện chống bán phá giá cá da trơn, Bangladesh đã được Hoa Kỳ chọn là nước có nền kinh tế thị trường để thay thế cho Việt Nam. Mặc dù có trình độ phát triển kinh tế tương đương, nhưng lại có sự khác biệt đáng kể ở cấp độ doanh nghiệp và sản xuất, khiến cho chi phí sản xuất ở Bangladesh cao hơn và vì thế giá trị thông thường của Việt Nam bị tính quá cao. Bộ Thương mại Hoa Kỳ không tính giá trị thông thường dựa trên cơ sở sản xuất tích hợp – từ khâu thượng nguồn là đầu vào cho tới khâu chế biến. Thay vào đó, Bộ Thương mại Hoa Kỳ lại định giá đầu vào chính (cá sống) được sử dụng để sản xuất mặt hang đang bị điều tra. Điều này dẫn tới việc định giá quá cao.

Ngoài ra, việc sử dụng tiền công lao động dựa trên phép hồi quy là 0,63 USD/giờ đối với Việt Nam đã khiến mức tiền công lao động hàng tháng được xác định cao gấp ba lần so với mức tiền công lao động trung bình ở Việt Nam.

b) Xe đạp

Trong vụ kiện chống bán phá giá cá da trơn, Mexico đã được EU lựac chọn làm nước thay thế dựa trên sự tương tự của sản phẩm và sự tồn tại thị trường cạnh tranh. Tuy nhiên, EU lại không tính tới sự chênh lệch về trình độ phát triển của hai nước này. Tính theo ngang giá sức mua năm 2004 (PPP) tổng thu nhập quốc dân trên đầu người của Việt Nam là 2.700 USD còn của Mexico là 9.640USD (Nguồn: Ngân hàng thế giới). EU giả định rằng các thị trường lao động không tồn tại trong các nền kinh tế phi thị trường và thay vào đó họ sử dụng giá của nước thay thế. Điều này từ chối không tính tới lao động rẻ là lợi thế so sánh chủ chốt của các nước nghèo hơn. Kết quả là thuế suất phá giá bị tính quá cao.

Lý luận phản đối việc EU chọn Mexico làm nước thay thế cho Việt Nam, nhiều người cho rằng chi phí lao động cao gấp ba lần so với chi phí lao động ở Việt Nam. Vì thế, chi phí sản xuất và giá thành phẩm ở Mexico cao hơn so với chi phí và giá ở Việt Nam. EU đáp lại rằng Việt Nam được xem là nền kinh tế đang chuyển đổi. Chi phí lao động của các Nhà sản xuất Việt Nam không được hưởng quy chế kinh tế thị trường nên không phải là giá cả tự do. Mục đích chính của việc sử dụng nước so sánh là nhằm loại bỏ tác động của giá cả phi thị trường và bác bỏ luận điểm này.

 

III) Một số giải pháp giải quyết vấn đề kinh tế phi thị trường của Việt Nam

Trước những cách tính tùy tiện thuế chống bán phá giá mà Hoa Kỳ và EU áp đặt cho Việt Nam dựa trên quy chế NME và cách tiếp cận nước thay thế, Việt Nam cần đưa ra những giáp pháp ngắn hạn và dài hạn, vi mô và vĩ mô để sớm thoát khỏi việc bị áp đặt là nền kinh tế phi thị trường. Có như vậy, Việt Nam mới hạn chế tối đa được những thiệt hại của hàng xuất khẩu khi bị cáo buộc bán phá giá. Dưới đây là một số hướng đi chính mà Việt Nam cần thực hiện trong thời gian tới:

- Chấp nhận những thách thức mà một nước bị coi là kinh tế phi thị trường sẽ phải đối mặt khi tham gia thương mại quốc tế, đặc biệt trong quan hệ thương mại với những nước thường xuyên sử dụng công cụ chống bán phá giá. Xác định rõ những khó khăn có thể sẽ gặp phải khi xuất khẩu ra thị trường quốc tế để chuẩn bị sẵn các giải pháp đối phó. Như vậy, doanh nghiệp và Chính phủ phải chấp nhận những thách thức nảy sinh từ việc bị coi là nền kinh tế phi thị trường để chuẩn bị các biện pháp đối phó với tình trạng áp đặt thuế chống bán phá giá và trợ cấp của các nước như Hoa Kỳ, EU và các nước khác đối với hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam. Mục tiêu là bảo vệ lợi ích của các doanh nghiệp và đẩy mạnh xuất khẩu sang các thị trường các nước nói trên.

- Đẩy mạnh cải cách theo định hướng thị trường. Đồng thời tích cực vận động các thành viên WTO sớm công nhận quy chế thị trường và không áp dụng điều khoản trong Nghị định thư gia nhập WTO về kinh tế phi thị trường. Đẩy mạnh cải cách kinh tế thị trường là cách đối phó tích cực và lâu dài nhất trong trường hợp bị coi là kinh tế phi thị trường. Hướng đi này cũng phù hợp với mục tiêu phát triển của Việt Nam trong những năm tới.

- Với tư cách thành viên WTO, yêu cầu xem xét lại và sửa đổi các điều khnoản liên quan kinh tế phi thị trường trong Hiệp định Chống bán phá giá của WTO. Tích cực vận động các nước công nhận kinh tế thị trường của Việt Nam đồng thời nâng cao vai trò của mình trong các cuộc đàm phán sắp tới để có tiếng nói quan trọng trong vấn đề kinh tế phi thị trường trong WTO.
Trân trọng./.

PHÒNG LUẬT SƯ DOANG NGHIỆP 

---------------------------------------------------

 

DỊCH VỤ TƯ VẤN PHÁP LUẬT LIÊN QUAN:

1. Tư vấn xin cấp phép đầu tư;

2. Tư vấn cấp giấy chứng nhận đầu tư;

3. Tư vấn thành lập doanh nghiệp liên doanh;

4. Các dịch vụ cung cấp cho nhà đầu tư trong nước;

5. Tư vấn thành lập công ty liên doanh tại Việt Nam;

6. Dịch vụ tư vấn Cấp thẻ tạm trú cho người nước ngoài;