Một đặc điểm nổi bật của thị trường này là với tư cách là thị trường bán buôn, thị trường tiền tệ có số người tham gia đông đảo, được chuyên môn hoá ở trình độ cao thông qua hoạt động của những người môi giới và người kinh doanh tiền tệ.

 

Tổng quan về công ty môi giới trên thị trường tiền tệ

Người môi giới (Broker) là một cá nhân hoặc một công ty tiến hành hoạt động kinh doanh tại hoặc từ một nước, cung cấp dịch vụ về đàm phán, dàn xếp, tạo điều kiện thuận lợi thông qua phương tiện khác các hợp đồng giữa các bên khác nhau:

- Gửi bất cứ loại tiền được chấp nhận, mua hoặc bán bất kỳ loại tiền nào được chấp thuận, mua hoặc bán một loại giấy tờ có giá được chấp thuận hoặc bất cứ công cụ tài chính phái sinh nào được Ngân hàng TW chấp thuận.

- Các tổ chức tín dụng được uỷ quyền.

- Là đại lý hoặc người cung cấp dịch vụ mua bán cho những tổ chức khác.

Nói một cách đơn giản, người môi giới tiền tệ là người trung gian nối liền người vay, bán các công cụ tài chính với người cho vay, mua các công cụ tài chính để thu hoa hồng môi giới. Họ không kinh doanh cho trạng thái (hoặc tình hình) vốn của mình. Ngoài ra, họ cũng có thể thực hiện vai trò trung gian trong giao dịch trên thị trường cho các công ty kinh doanh về lĩnh vực này. Họ thường hoạt động dưới tư cách công ty.

Chức năng cơ bản của người môi giới là:

- Cung cấp thông tin kịp thời về thị trường thông qua việc thu thập và xử lý thông tin. Các công ty môi giới làm tốt chức năng này vì họ có một hệ thống giao dịch điện tử hiện đại, sử dụng hệ thống điện thoại rộng khắp trên toàn thị trường, yết giá trên màn hình của các hãng thông tin lớn như Reuter, Telerate. Các thông tin được công bố chủ yếu là thông tin về lãi suất chào mua, chào bán, thời hạn giao dịch, doanh số bán, mã số giao dịch… Nhờ có những người môi giới mà thông tin được công bố một cách chính xác, cập nhật, từ đó mà góp phần giảm chi phí giao dịch. Điều này cũng đòi hỏi người môi giới mà thông tin được công bố một cách chính xác, cập nhật, từ đó mà góp phần giảm chi phí giao dịch. Điều này cũng đòi hỏi người môi giới phải nhanh, cẩn thận, có trách nhiệm cao trong hoạt động của mình. Chính vì vậy, khoảng 70% giao dịch chứng khoán chính phủ ở Mỹ được thực hiện thông qua người môi giới.

- Đảm bảo nhu cầu nặc danh trong kinh doanh: Sự nặc danh là rất quan trọng đối với các cá nhân trong giới tài chính để thực hiện được các doanh vụ cần thiết mà vẫn đảm bảo được tính bí mật và an toàn trong kinh doanh. Người môi giới có thể đáp ứng được nhu cầu này nhờ có nguyên tắc bí mật nhằm bảo vệ thân chủ của họ.

- Tăng khả năng giao dịch nhanh, báo giá nhanh chóng và chính xác, ký hợp đồng nhanh với giá thuận lợi so với kinh doanh trực tiếp. Ngoài ra, người môi giới tạo điều kiện tìm kiếm bạn hàng một cách nhanh chóng vì các bên tham gia sẽ không phải tham khảo nhiều ngân hàng yết giá mà chỉ cần giao dịch với công ty môi giới tiền tệ.

Như vậy, các công ty môi giới không mua, bán hoặc vay, cho vay đối với các tổ chức tín dụng và vì vậy, không tạo ra rủi ro tín dụng hay rủi ro thanh toán. họ chủ yếu cung cấp dịch vụ mà không tham gia giao dịch tài chính. Địa bàn hoạt động của công ty môi giới là các thị trường liên ngân hàng, bao gồm thị trường ngoại hối, các công cụ phái sinh, các công cụ nợ giữa các ngân hàng. Vào những năm gần đây, người môi giới đã mở rộng tham gia vào nhiều thị trường mà trước đây họ chưa tham gia. Trên các thị trường này, người môi giới xác định giá cả cho các ngoại tệ thông qua các giao dịch phái sinh (Forward, Swap), các loại tiền gửi, giấy tờ có giá ngắn hạn, các công cụ nợ như trái phiếu, chứng khoán có lãi suất thả nổi và các công cụ phái sinh như Option, Swap tiền tệ… Chính vì thế mà hầu hết các trung tâm tài chính lớn trên thế giới đều có mạng lưới nhà môi giới hỗ trợ vì họ đem lại tính hiệu quả cao trong giao dịch.

Điều kiện hoạt động của người môi giới là họ phải thiết lập một mạng lưới thông tin liên lạc với các tổ chức tín dụng ở trong nước thông qua hệ thống điện thoại trực tiếp hoặc các phương tiện liên lạc điện tử khác như telex, fax… Bản thân nhân viên của các công ty này phải có trình độ cao, xử lý thông tin nhanh, có đạo đức nghề nghiệp tốt và thiết lập được hệ thống khác hàng rộng lớn.

Về tổ chức: Các công ty môi giới tiền tệ thường được tổ chức dưới hình thức công ty cổ phần hoặc công ty trách nhiệm hữu hạn, hoạt động theo sự chi phối của Luật Công ty và giấy phép hoạt động của Ngân hàng TW cấp hàng năm. Tuỳ theo luật định ở mỗi nước mà cổ đông có thể là các ngân hàng thương mại hoặc tổ chức tín dụng trong nước với các tổ chức môi giới nước ngoài. Khi cấp giấy phép hoạt động cho các công ty này, Ngân hàng TW có thể căn cứ vào:

- Cơ cấu sở hữu của công ty.

- Tính chất cổ đông như danh tiếng, thị phần, tiềm năng…, cơ cấu và số lượng cổ đông lớn trong công ty.

- Tính chất chuyên nghiệp: cơ sở hạ tầng, trình độ cán bộ…

- Vốn đăng ký.

Vai trò của các tổ chức môi giới trên thị trường tiền tệ

- Do tính chất rộng lớn, nhạy cảm và linh hoạt, các giao dịch tài chính nói chung và tiền tệ nói riêng luôn luôn cần tới các nhà trung gian. Do hoạt động của mình mà các công ty môi giới không can thiệp vào các giao dịch tài chính, nhưng họ góp phần làm cho thị trường tiền tệ có hiệu quả, minh bạch và rõ ràng. Họ cung cấp giá cả, tổng hợp các mức giá chào mua, bán (đối với thị trường ngoại hối) và vay, cho vay (đối với thị trường tiền tệ) cạnh tranh nhất mà không can thiệp vào giao dịch; do đó, sẽ không xảy ra sự thất thoát về vốn đối với các đối tác. Thậm chí, nếu các công ty môi giới phá sản thì các tổ chức tín dụng cũng không bị ảnh hưởng, không bị mất vốn. Hệ thống môi giới đặc biệt hữu hiệu đối với các ngân hàng nhỏ kinh doanh tiền tệ khu giúp giảm chi phí giao dịch.

- Các công ty môi giới không quyết định lãi suất, mà lãi suất này do các tổ chức tín dụng chào giá, nhưng có thể dự đoán lãi suất hoặc tỷ giá. Vì vậy, các công ty môi giới tiền tệ chủ là người tổng hợp lãi suất và tỷ giá, không ảnh hưởng đến chính sách của Ngân hàng TW. Các tổ chứ tín dụng có thể căn cứ vào bảng yết giá của công ty môi giới để quyết định việc mua bán vốn ngắn hạn của mình.

- Đối với Ngân hàng TW, hoạt động của công ty môi giới giúp họ có những thông tin đáng giá, kịp thời từ các tổ chức tín dụng, từ đó mà có những quyết định phù hợp với tình hình hoặc can thiệp thị trường một cách đúng đắn nhất. Ngân hàng TW chỉ cần quan hệ với các công ty môi giới cần thiết mà không cần phải quan hệ trực tiếp với các tổ chức tín dụng; do đó, khả năng tác động đến mặt bằng lãi suất thị trường là nhanh chóng.

Chính vì vậy, các thị trường tài chính như thị trường hối đoái, thị trường liên ngân hàng, thị trường chứng khoán… bao giờ cũng có các nhà môi giới hoạt động với các mức độ khác nhau, và đây chính là một đặc điểm nổi bật của các thị trường này.

 

Sự cần thiết của các công ty môi giới trên thị trường tiền tệ Việt Nam

Trải qua hơn 15 năm đổi mới kinh tế, các bộ phận thị trường tiền tệ Việt Nam hiện nay gồm có: thị trường nội tệ liên ngân hàng (hoạt động từ tháng 6/1993), thị trường ngoại tệ liên ngân hàng (hoạt động từ tháng 10/1994), thị trường đấu thầu tín phiếu kho bạc (hoạt động từ tháng 6/1994), nghiệp vụ thị trường mở (hoạt động từ tháng 7/2000), thị trường tín dụng truyền thống giữa các tổ chức tín dụng. Các bộ phận thị trường này đã có những đóng góp to lớn trong việc thực thi chính sách tiền tệ ở Việt Nam trong thời gian qua, giúp bình ổn tỷ giá và giá trị đồng tiền Việt Nam vào những lúc cấp bách. Với 47 thành viên, thị trường đấu thầu tín phiếu kho bạc là thị trường sơ cấp với tổng khối lượng phát hành cho đến 29/9/2003 là 29.095 tỷ đồng. Do khối lượng thành viên thực sự tham gia thị trường là không nhiều (thường chỉ 1-5 thành viên/1phiên giao dịch), sự đơn điệu về thời hạn của tín phiếu giao dịch (chủ yếu là kỳ hạn 346 ngày), lãi suất chưa phản ánh đúng nhu cầu và khả năng về vốn của các tổ chức tín dụng. Nghiệp vụ thị trường mở với 22 thành viên hoạt động 2lần/tuần trong hơn 3 năm qua với doanh số hoạt động là 29.987 tỷ đồng đến 25/9/2003. Nghiệp vụ này còn đơn điệu về hàng hoá, thành viên tham gia, phương thức giao dịch…, chưa thể hiện được khả năng điều tiết vốn khả dụng và tác động của nó tới các chỉ tiêu tiền tệ trong thực thi chính sách tiền tệ. Doanh số mua bán ở đây chưa vượt quá 3% /tổng phương tiện thanh toán năm 2003. Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng mới chỉ dừng lại ở chỗ tạo ra trạng thái ngoại hối cần thiết cho tổ chức tín dụng, chưa phải là nơi để họ đầu tư ngoại hối nhằm thu chênh lệch tỷ giá. Thị trường này thường mất cân đối giữa cung - cầu ngoại tệ theo hướng thừa câu, thiếu cung, dự trữ ngoại hối mỏng. Thị trường mua bán lại giấy tờ có giá hầu như chưa phát triển do thiếu vắng hàng hoá, người dân chưa có thói quen kinh doanh các loại giấy tờ có giá  trong quá trình quản trị vốn của mình mà rất ít khi bán lại trên thị trường thứ cấp.

Hoạt động của các bộ phận thị trường tiền tệ Việt Nam hiện nay vẫn mang tính phân đoạn thị trường rõ nét. Sự gắn kết giữa chúng là nhỏ nhoi, không thường xuyên và không rõ nét trong bối cảnh các thị trường này còn sơ khai, chưa đồng bộ, thiếu hẳn một cơ sở hạ tầng cần thiết. Mặt khác, chúng ta cũng thiếu một chương trình tài chính từ thấp đến cao, từ ngắn hạn đến dài hạn. Thị trường mang tính nền tảng là thị trường liên ngân hàng nhỏ bé, chưa đầy đủ. Các thông tin về lãi suất, tỷ giá … trên thị trường liên ngân hàng hầu như chưa ảnh hưởng đến các thị trường khác. Diễn biến của thị trường chứng khoán không phản ánh mọi hoạt động về chính sách tài chính và chính sách tiền tệ ở tầm vĩ mô. Một trong những nguyên nhân tạo ra sự yếu kém của thị trường tiền tệ Việt Nam hiện nay là thiếu vắng sự kết nối các tác động giữa các thị trường - đó là các nhà môi giới tiền tệ.

Trong sự phát triển thị trường tiền tệ tương lai, sự hiện diện của các nhà môi giới tiền tệ là vô vùng cần thiết. Điều này xuất phát từ:

- Xu hướng phát triển của nền kinh tế thế giới là phát triển các dịch vụ. Lộ trình hội nhập của Việt Nam cũng nhấn mạnh đến khía cạnh này, nhất là các dịch vụ tài chính, ở đó, các ngân hàng Mỹ sớm muộn cũng tham gia các nghiệp vụ trên thị trường liên ngân hàng, được tham gia nghiệp vụ tái chiết khấu tại Ngân hàng Nhà nước, tham gia các dịch vụ như môi giới, kinh doanh các sản phẩm phái sinh… Việc phát triển thị trường tiền tệ tổng thể cũng là một mục tiêu của ngân hàng Nhà nước Việt Nam nhằm gia tăng tính hiệu quả của chính sách tiền tệ. Xu hướng này đòi hỏi chúng ta phải tiếp tục đẩy mạnh sự phát triển của thị trường tài chính, trong đó có thị trường tiền tệ, mà theo thông lệ quốc tế, ở đó cần phải có hoạt động của các nhà môi giới.

- Chính sự phân đoạn thị trường tiền tệ quá mạnh ở Việt Nam hiện nay là một yếu điểm mà chúng ta phải sớm khắc phục. Hiện nay, các kênh tác động của chính sách tiền tệ như kênh lãi suất, kênh giá tài sản, kênh tín dụng tới các tổ chức tín dụng là nhỏ bé. Thị trường tiền tệ của ta chủ yếu mới thu hút các ngân hàng thương mại Nhà nước (NHTMNN), mang tính thời vụ và nội địa rõ nét. Ngân hàng Nhà nước hầu như thiếu tín hiệu về thị trường tiền tệ, để trễ trong thực hiện chính sách tiền tệ là lớn, gây ra sự thiếu hiệu quả của chính sách tiền tệ. Vì vậy, các nhà môi giới là cần thiết vì họ là cầu nối giữa Ngân hàng Nhà nước và các tổ chức tín dụng, giữa các tổ chức tín dụng trong và ngoài nước với nhau, giữa các bộ phận thị trường tiền tệ sơ cấp và thứ cấp với nhau. Họ chính là yếu tố ''bôi trơn'' thị trường, đem lại tính chuyên nghiệp cao trên các thị trường mà chúng ta hiện đang thiếu.

- Các nhà môi giới cũng có thể là hữu hiệu trong điều kiện Việt Nam hiện có nhiều tổ chức được phép thực hiện các nghiệp vụ và dịch vụ ngân hàng như Quỹ hỗ trợ phát triển, công ty tài chính, công ty tiết kiệm bưu điện… Nhờ có họ mà các thông tin về vốn khả dụng của các tổ chức này, nhu cầu về vốn, lãi suất chào… sẽ được truyền tải trên mạng thông tin của thị trường, nhờ đó mà giúp quản lý tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước có hiệu quả hơn.

 

Mô hình công ty môi giới trên thị trường tiền tệ Việt Nam trong thời gian tới

Căn cứ vào kinh nghiệm ở các nước như Nhật Bản, Anh… và đặc điểm kinh tế hiện nay ở Việt Nam thì các công ty môi giới trên thị trường tiền tệ phải là tổ chức có tư cách pháp nhân, có giấy phép hoạt động do Ngân hàng Nhà nước cấp hàng năm. Hiện nay, có hai quan điểm:

1. Trong thời gian đầu, công ty môi giới có thể thí điểm là công ty Nhà nước trực thuộc Ngân hàng Nhà nước, vốn do ngân sách cấp. Sau một thời gian hoạt động, công ty này có thể chuyển sang áp dụng kinh nghiệm của Nhật Bản là thành lập công ty môi giới dưới hình thức cổ phần, vốn do các thành viên góp, hoạt động dưới sự chỉ đạo và giám sát của Ngân hàng Nhà nước. Điều này xuất phát từ tính chưa ổn định của các tổ chức tín dụng Việt Nam cũng như thị trường nhỏ hẹp, còn bấp bênh hiện nay. Mô hình này có nhược điểm là không tận dụng được kinh nghiệm của các công ty nước ngoài về nghiệp vụ và không dễ dàng mở rộng quan hệ với thị trường ngoài lãnh thổ Việt Nam khi thị trường phát triển.

2. Theo kiến nghị của ADB thì chúng ta nên thành lập công ty liên doanh giữa công ty Việt Nam và nước ngoài, ở đó, các cổ đông về phía Việt Nam là các NHTMNN với tổng mức vốn cổ phần cao nhất là 52% vốn điều lệ, vốn của các cổ đông nước ngoài là 48% cho khoảng 3-4 đối tác có kinh nghiệm. Mô hình này khắc phục được nhược điểm của mô hình trên, không bị tập trung quyền sở hữu quá mức vào các cổ đông nào. Mặt khác, các cổ đông Việt Nam có thể học hỏi về kiến thức chuyên môn, tạo dựng mối quan hệ với bên ngoài. Tuy nhiên, trong khi dự trữ ngoại hối còn mỏng, trình độ nghiệp vụ còn hạn chế … thì rõ ràng là không nên để các nhà môi giới nước ngoài chi phối.

Giữa hai mô hình đó, có lẽ thích hợp hơn là nên thành lập công ty môi giới dưới hình thức công ty cổ phần giữa các NHTMNN với một số công ty môi giới nước ngoài. Tỷ lệ góp vốn của bên nước ngoài tối đa là 49% vốn điều lệ. Trong thời gian đầu, chưa nên cho phép các NHTMCP và các tổ chức phi ngân hàng tham gia vì tính chưa ổn định về uy tín của họ. Công ty môi giới tiền tệ sẽ chịu sự chi phối của Luật Doanh nghiệp và sự kiểm soát của Ngân hàng Nhà nước. Vào thời gian đầu, chúng ta chỉ nên thành lập một công ty môi giới tiền tệ hoạt động cho cả thị trường nội tệ hoạt động cho cả hai thị trường này. Đây cũng là một yếu tố để có thể xây dựng một thị trường liên ngân hàng thống nhất ở Việt Nam trong thời gian tới. Trong kế hoạch phát triển kinh tế 2001-2010 ở Việt Nam trong thời gian tới. Trong kế hoạch phát triển kinh tế 2001-2010 ở Việt Nam, thời điểm này là thích hợp cho việc thành lập công ty môi giới trên thị trường tiền tệ.

Cán bộ hoạt động trong công ty môi giới vào thời gian đầu sẽ được hưởng chế độ ưu đãi, ví dụ được hưởng lương như cán bộ Ngân hàng Nhà nước, về sau sẽ tự hạch toán từ các khoản phí dịch vụ (phí môi giới, phí cung cấp thông tin, phí tư vấn, chênh lệch lãi…). Họ được đào tạo chính quy, cẩn thận thông qua các khoá đào tạo chuyên môn, có chứng chỉ hành nghề do Ngân hàng Nhà nước cấp. Đối với đội ngũ cán bộ này, các yêu cầu về tiếng Anh, sử dụng các thiết bị văn phòng và phương tiện giao dịch hiện đại vi tính nâng cao, khả năng phân tích, tổng hợp và xử lý tình huống… phải thuần thục để đáp ứng tốt nhất cho nghiệp vụ của mình. Vì tính chất nhạy cảm của các giao dịch tiền tệ, vì tầm quan trọng của các thị trường tiền tệ có liên quan đến chính sách tiền tệ, nên cán bộ trong công ty môi giới này phải thực sự có trình độ.

Đối tượng hoạt động của công ty môi giới sẽ là các luồng vốn ngắn hạn, mua bán ngắn hạn các giấy tờ có giá, ngoại tệ như Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật Ngân hàng Nhà nước ngày 26/6/2003 đã quy định. Các công ty này chủ yếu là cung cấp dịch vụ về tiền gửi liên ngân hàng, giấy tờ có giá, ngoại hối… qua đó mà thu phí môi giới. Phí này do cả hai đối tác tham gia một doanh vụ trả cho công ty môi giới sau này. Trong những năm đầu hoạt động, phí môi giới nên được quy định trước, mang tính chất cố định để hỗ trợ thị trường. Sau đó, tuỳ theo sự phát triển của thị trường tiền tệ mà công ty sẽ thu phí thoả thuận. Đây cũng là xu hướng về phí môi giới trên thị trường tài chính những năm qua, bao gồm cả thị trường chứng khoán và thị trường liên ngân hàng.

Vì công ty môi giới hoạt động chủ yếu mang tính dịch vụ nên các yêu cầu về vốn là không lớn. Mức vốn trước mắt là cần thiết để trang bị hệ thống giao dịch, yết giá, văn phòng, thông tin liên lạc, trả lương, trang trải các chi phí bắt buộc. Ở Hồng Kông, vốn điều lệ quy định cho các công ty môi giới tiền tệ khoảng 640.000 USD. Ở Việt Nam, mức vốn điều lệ có lẽ sẽ nhỏ hơn trong bối cảnh thị trường còn nhỏ bé và đang trong quá trình xây dựng. Nghiệp vụ môi giới trên thị trường chứng khoán chỉ yêu cầu mức vốn điều lệ là 3 tỷ đồng Việt Nam, song hoạt động của công ty môi giới trên thị trường tiền tệ cần có số vốn điều lệ cao hơn, ví dụ khoảng 30-40 tỷ đồng, vì tính chất nhạy cảm và có liên quan đến hoạt động của chính sách tiền tệ.

Như vậy, để công ty môi giới có hiệu quả thì công ty này phải hội đủ các điều kiện: trí tuệ (thể hiện qua trình độ của đội ngũ nhân viên), tài chính, thông tin và từ đó đạt được lòng tin của giới tài chính. Để giảm thiểu rủi ro trong hoạt động của mình, công ty môi giới phải cung cấp ngày càng nhiều các dịch vụ về xác định giá cả trên các loại thị trường (báo giá, yết giá…) hiện đại, đạt tới tính chuyên nghiệp của nhân viên, liên hệ thường xuyên với hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng đang thiết lập trong các ngân hàng Việt Nam cũng như với mạng Reuter hiện đang báo lãi suất trên thị trường liên ngân hàng. Với tính chất toàn cầu và uy tín mạnh mẽ của mình, mạng Reuter thông báo các thông tin về ngoại hối, chứng khoán, lãi suất… tới các khu vực kinh tế. Khi có công ty này nên đảm trách về thông tin trên thị trường tiền tệ và tín dụng, còn Reuter chủ yếu thông tin về kinh doanh ngoại hối.

Tóm lại, xét một cách tổng thể, việc thành lập công ty môi giới trên thị trường tiền tệ Việt Nam hiện nay là cần thiết và tất yếu mà Ngân hàng Nhà nước phải quan tâm thực sự nhằm hoạch định và thực thi chính sách tiền tệ có hiệu quả, xây dựng các thị trường tài chính thống nhất. Bài viết này chỉ là một ý kiến trao đổi về một tổ chức tài chính mới mẻ và phức tạp - công ty môi giới tiền tệ.

PGS. TS. Lê Hoàng Nga 

(MKLAW FIRM: Bài viết được đăng tải nhằm mục đích giáo dục, phổ biến, tuyên truyền pháp luật và chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước không nhằm mục đích thương mại. Thông tin nêu trên chỉ có giá trị tham khảo và có thể một số thông tin pháp lý đã hết hiệu lực tại thời điểm hiện tại vì vậy Quý khách khi đọc thông tin này cần tham khảo ý kiến luật sư, chuyên gia tư vấn trước khi áp dụng vào thực tế.)